GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt nam:
3.1.1. Định hướng chung:
- Tiếp tục là nhà cung cấp dịch vụ tài chính hàng đầu tại Việt nam và mở rộng hoạt
động ra nước ngoài.
- Thực hiện kế hoạch “Cổ phần hóa” một cách tích cực và chủ động.
- Đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng; phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các
đơn vị thành viên.
- Đạt được một bảng cân đối kế toán lành mạnh; giải quyết triệt để vấn đề Nợ xấu.
- Hệ số An toàn Vốn đạt tiêu chuẩn quốc tế.
- Tăng trưởng ngân hàng trên cơ sở khả năng sinh lời và bền vững.
- Áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất.
- Cải thiện và phát triển hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng.
- Cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho thị trường mục tiêu đã lựa chọn; phát triển
mạng lưới kênh phân phối sản phẩm.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đảm bảo các lợi ích của người lao động;
xây dựng, phát triển thương hiệu - văn hóa BIDV.
Các chỉ tiêu cơ bản giai đoạn 2006-2010:
- Tổng tài sản: ước đạt 300.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 17 tỷ USD)
- Tốc độ tăng trưởng bình quân:
Tổng tài sản: 20%/năm.
Nguồn vốn: 21%/năm.
Tín dụng: 17%/năm.
Đầu tư: 31%/năm.
- Năng lực tài chính: CAR tối thiểu 10%
- Cơ cấu dư nợ/Tài sản có ≤ 62%
Nợ trung dài hạn/Tổng dư nợ ≤ 40%
Nợ dài hạn/Tổng dư nợ ≤ 27%
Nợ NQD/Tổng dư nợ ≥ 80%
rộng và đa dạng hoá thị trường và phương thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào
kinh tế khu vực và thế giới".
Dựa trên những quan điểm chỉ đạo trên, mục tiêu chiến lược phát triển xuất
khẩu của Việt Nam tới 2010 được đặt ra là:
Chiến lược mặt hàng xuất nhập khẩu:
Chiến lược mặt hàng được cụ thể hoá như sau: "Ưu tiên phát triển công
nghiệp chế biến gắn với phát triển nguồn nguyên liệu nông sản, thuỷ sản, sản xuất
hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng; đồng thời tạo điều kiện phát triển một
số mặt hàng điện tử, kể cả dịch vụ phần mềm. Chú ý phát triển các ngành công
nghiệp tốn ít vốn, thu hút nhiều lao động. Phát triển có lựa chọn một số ngành công
nghiệp có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và bảo đảm được hiệu quả ".
(1)
Vai trò của các ngành dịch vụ được chú trọng :"Phát triển mạnh một số loại
dịch vụ như bưu chính viễn thông, du lịch, vận tải, thương mại, dịch vụ khoa học -
công nghệ, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn,... theo hướng vừa phát triển thị
trường nội địa, vừa nhanh chóng vươn ra thị trường quốc tế".
(2)
Như vậy, chiến lược mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là chuyển dịch mạnh
theo hướng tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, trong đó tập trung tăng tỷ trọng các
mặt hàng chế biến chế tạo và dịch vụ , giảm nhanh tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu
thô và sơ chế.
Tỷ trọng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu giảm do nhập khẩu xăng dầu,
phân bón và vật liệu xây dựng phần lớn được thay thế bằng hàng sản xuất trong
nước. Nhập khẩu dịch vụ chủ yếu là tài chính (bảo hiểm, kế toán,...), ngân hàng
(thanh toán, chuyển tiền,...), bưu chính viễn thông, vận tải (hàng không, đường
thuỷ), thuê chuyên gia nước ngoài, du lịch, du học,... với tổng giá trị nhập khẩu
năm 2000 khoảng 1,2 tỷ USD. Dự kiến nhập khẩu dịch vụ giai đoạn 2001 - 2010
tăng 10,5%/năm, đạt 2,02 tỷ USD năm 2005 và 3,4 tỷ USD năm 2010.
Như vậy trên cơ sở định hướng phát triển xuất nhập khẩu của Nhà nước,
BIDV cần phải đưa ra chiến lược phù hợp, ngoài ra, BIDV cần phải nghiên cứu thị
hạn ở bất cứ phòng ban nào.
Thực hiện tốt giải pháp này sẽ giúp cho BIDV mở rộng được quy mô tín
dụng xuất nhập khẩu đồng thời sẽ cải thiện được cơ cấu tín dụng xuất nhập khẩu.
3.2.3. Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm tín dụng xuất nhập khẩu.
Trong thời gian qua, BIDV chủ yếu chỉ thực hiện một số phương thức tín
dụng xuât nhập khẩu truyền thống như cho vay thu mua hàng xuất, chiết khấu bộ
chứng từ hàng xuất, mở L/C và cho vay thanh toán L/C do đó khả năng đáp ứng
đầy đủ nhu cầu của khách hàng còn hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng,
đáp ứng nhu cầu của tình hình mới thì việc đa dạng hoá sản phẩm tín dụng xuất
nhập khẩu đang là yêu cầu cấp thiết đối với BIDV.
Hiện tại nghiệp vụ bao thanh toánCăn cứ Quy chế hoạt động bao thanh toán
của các Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN
ngày 06/09/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, do đó BIDV cần sớm
nghiên cứu ban hành các Văn bản hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ này.
Việc áp dụng phương thức bao thanh toán sẽ giúp BIDV có điều kiện mở
rộng, đa dạng hóa các biện pháp nghiệp vụ, mở rộng khách hàng và quy mô của tín
dụng xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, BIDV cần lưu ý những
điểm sau để phòng ngừa các rủi ro của hoạt động bao thanh toán:
- Rủi ro từ người bán hàng: Vì đơn vị bao thanh toán sẽ chính là BIDV và
người bán (bên xuất khẩu) sẽ chính là khách hàng vay vốn với điều kiện đảm bảo
khoản vay là các khoản phải thu của khách hàng đối với bên mua. Rủi ro từ phía
khách hàng có thể xảy đến ở một số trường hợp cơ bản:
+ Người bán cố tình, chủ động sử dụng hóa đơn, chứng từ giả, hợp đồng
ma… để lừa ngân hàng. Để thực hiện được ý đồ trên đòi hỏi phải có một hệ thống
mắt xích cấu kết mới thực hiện được, có thể là người mua và người bán thông đồng
với nhau, tạo ra các chứng từ, các khoản phải thu mà thực tế không hề có.
+ Người bán kém năng lực quản lý, điều hành, chiến lược phát triển… kéo
theo các sản phẩm của bên bán không đủ hoặc không đạt yêu cầu không đáp ứng
được chất lượng đề ra. Giá trị các khoản phải thu theo hợp đồng khi ký lại vì thế sẽ
nhỏ hơn phần giá trị cho vay ứng trước của Ngân hàng cho bên bán hàng vì vậy
Việt Nam ban hành tương đối chặt chẽ đối với các sản phẩm vay thông thường, tuy
nhiên do đặc thù của tín dụng xuất nhập khẩu có liên quan đến hoạt động kinh tế
đối ngoại, tập quán thông lệ quốc tế… và trong quá trình thực hiện của Ngân hàng
thì sự phối hợp giữa Bộ phận Tin dụng và Thanh toán quốc tế cần phải chặt chẽ
hơn, do đó ngoài quy trình tín dụng chung và các văn bản hướng dẫn về tín dụng