Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt p : // www . Lr c - t nu . e du . v n
®¹i häc th¸i nguyªn
tr êng•
®¹i häc n«ng
l©m
----------
----------
ĐẶNG THỊ THU
HIỀN
XÁC ĐỊNH
NG
Ƣ
ỠNG
CHỊU
HẠN
VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG
NƢỚC
CHO MỘT
SỐ
GIỐNG LÚA MỚI NHẬP NỘI TẠI THÁI
NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG
NGHIỆP
THÁI NGUYÊN -
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt p : // www . Lr c - t nu . e du . v n
®¹i häc th¸i nguyªn
tr êng•
®¹i häc n«ng
nghiệp. Đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ của TS. Đặng Quý Nhân bộ
môn cây
L
ƣ
ơng
thực và cây Công nghiệp; PGS.TS. Đặng Văn Minh
Tr
ƣ
ởng
Khoa Sau đại học,
Tr
ƣ
ờng
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là
những
ng
ƣ
ời
thầy đã tận tình
h
ƣ
ớng
dẫn tôi trong suốt thời gian thực
hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa
Nông học cùng các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu
Tr
ƣ
ờng
Đại học
[44].
Trong những năm gần đây, nguồn
nƣớc
cung cấp cho canh tác lúa đang
ngày càng khan hiếm, đặc biệt là ở châu Á, nơi mà cây lúa đƣợc trồng
trên khoảng 30% diện tích đất chủ động
nƣớc
và chiếm 50%
lƣợng nƣớc tƣới
cho cây trồng [31]. Theo tính toán, trên đồng ruộng nhu cầu về nƣớc cho
cây lúa cao gấp 2 đến 3 lần so với các cây trồng khác [47], nguyên nhân
chính bởi
lƣợng nƣớc
bị thất thoát trong suốt quá trình canh tác mà không
tham gia vào quá trình sản xuất chiếm tới 80%
lƣợng
nƣớc đƣợc cung cấp,
chủ yếu thông qua quá trình bay hơi, chảy tràn bề mặt, thấm xuống lòng đất.
Việc thiếu hụt
lƣợng nƣớc tƣới
cho canh tác nông nghiệp nói chung và cây lúa
nói riêng đang là mối đe dọa đối với ngành sản xuất lúa đặc biệt là hệ thống
lúa
tƣới
tiêu chủ động.
Vì những lý do này, việc tiết kiệm nguồn
nƣớc
và tăng
c
ƣ
3. Yêu cầu
Đánh giá
đƣợc
ng
ƣ
ỡng
chịu hạn cho các giống lúa ở giai đoạn đẻ nhánh
trong điều kiện thí nghiệm.
Đánh giá
đƣợc
nhu cầu về
nƣớc,
hệ số sử dụng
nƣớc
cho các giống lúa
trong điều kiện thí nghiệm.
Đánh giá mối quan hệ giữa
ngƣỡng
chịu hạn, hệ số sử dụng nƣớc, chỉ
số chịu hạn và hiệu suất sử dụng nƣớc với các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất lúa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt p : // www . Lr c - t nu . e du . v n
CHƢƠNG
I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN
CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Hiện nay, tình trạng thiếu hụt nƣớc đang đe dọa hệ thống sản xuất lúa
nƣớc chủ động và an ninh lƣơng thực của châu Á [47]. Điều này thách thức
chúng ta cần phải phát triển các công nghệ mới, kỹ thuật mới và các hệ thống
nƣớc
nhằm giảm tối thiểu
lƣợng nƣớc
đầu vào,
tăng
lƣợng nƣớc
sản xuất hay còn gọi là
lƣợng nƣớc
mà cây sử dụng là quản lý
nguồn
nƣớc
ở mức độ hệ thống. Làm ra nhiều thóc gạo hơn
nh
ƣ
ng
lại sử dụng
nƣớc
tiết kiệm hơn hoàn toàn có thể thực hiện khi qui trình quản lý
nƣớc đƣợc
thực hiện các biện pháp tổng hợp: (i) Chọn tạo và sử dụng nguồn gen, giống
chống chịu hạn, đồng thời thực hiện các biện pháp kỹ thuật quản lý nguồn tài
nguyên nhằm tăng năng suất cây trồng. (ii) Quản lý
nƣớc
ở mức độ toàn bộ
hệ thống chẳng hạn
nhƣ lƣợng nƣớc
tiết kiệm trên đồng ruộng
đƣợc
sử dụng
hiệu quả hơn khi
truyền thống
nh
ƣ
ng
năng suất chỉ giảm nhẹ
khoảng 8% so với đối chứng. Tuy nhiên hiệu số sử dụng
nƣớc
trong
ph
ƣ
ơng
pháp mới là cao hơn hẳn
0,35 so với 0,23 của đối chứng [40].
Mặc dù vậy trong thực tế việc giảm thiểu
lƣợng nƣớc
đầu vào, thay đổi
hẳn tập quán canh tác cây lúa sẽ gây ra những tác động rất lớn cần nghiên cứu
nhƣ: cỏ dại, dinh
d
ƣ
ỡng
cây trồng, dinh dƣỡng đất, môi
tr
ƣ
ờng,
duy trì
hệ thống canh tác bền vững… đòi hỏi chúng ta cần nỗ lực tập chung nghiên
cứu tìm ra
đƣợc
những giải pháp tổng thể đảm bảo canh tác bền vững cây lúa.
di chuyển các vật chất trên trái
đất
dƣới
dạng hoà tan, lơ lửng hoặc di đẩy trong
n
ƣ
ớc.
Nƣớc di chuyển theo tuần hoàn
nƣớc
nhƣ là một chu trình thu thập,
thanh lọc và phân phối
nƣớc
một cách liên tục khắp mọi nơi trên Trái Đất.
Nƣớc
là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định chất lƣợng môi
tr
ƣ
ờng
sống của con
ngƣời,
cũng
nhƣ
của mọi sinh vật sống trên trái đất. Chỗ nào có
nƣớc
chỗ ấy có sự sống, không có
nƣớc
thì mọi hoạt động sống đều đình chỉ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt p : // www . Lr c - t nu . e du . v n
Nƣớc bao phủ 70% mặt đất và tạo thành hơn 2/3 trọng lƣợng của tất cả các
sinh vật sống [12].
và đời sống của con
ngƣời
và sinh vật.
Tổng
lƣợng nƣớc
lớn
nhƣng
lƣợng
nƣớc
ngọt mà con
ngƣời
có thể sử
dụng
đƣợc
rất ít và chỉ có thể khai thác đƣợc từ các nguồn sau (lƣợng
nƣớc ngọt trên bề mặt đất):
-
Lƣợng nƣớc mƣa
rơi xuống mặt đất.
-
Nƣớc
tồn tại trong các sông, rạch, ao, hồ.
- Một phần rất ít
nƣớc
từ đầm lầy và băng tuyết.
Hiện nay trên phạm vi toàn cầu con
ngƣời
dùng 8% trong tổng lƣợng
nƣớc ngọt đƣợc khai thác cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho
nông nghiệp [12].
khoảng
100-150 km
3
/năm,
chƣa
kể lƣợng
nƣớc
từ bên ngoài đổ vào. Trữ lƣợng
n
ƣ
ớc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt p : // www . Lr c - t nu . e du . v n
ngầm có thể khai thác vào khoảng 10 triệu m
3
/ngày, hiện nay ta đã khai
thác khoảng
500m
3
/năm/ng
ƣ
ời,
chỉ khoảng 3% tiềm năng [12].
Trong thực tế hiện
t
ƣ
ợng
thiếu
nƣớc
đã trở nên nghiêm trọng tại một số
địa phƣơng. Các hồ chứa nƣớc lớn nhỏ, các khu
ngầm đang ngày càng cạn kiệt dần [40]. Hơn nữa, sự cạnh tranh về nhu
cầu
nƣớc
của các ngành công nghiệp, sinh hoạt của các khu đô thị ngày càng
tăng đối với nguồn nƣớc sử dụng cho nông nghiệp. Diện tích đất dành cho
canh tác đặc biệt là những cây trồng đòi hỏi
lƣợng nƣớc
lớn
nhƣ
lúa
nƣớc
lúa
bắt đầu bị cắt giảm từ những năm 2002, và năm 2007 lúa nƣớc bị cấm canh
tác ở khu vực thành phố Bắc Kinh [41]. Ở Việt Nam trong đợt hạn kéo dài
đầu năm 2007, do cần một lƣợng nƣớc
tƣới
lớn cung cấp cho đồng bằng
Sông Hồng canh tác nông nghiệp, nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam đã
phải cắt giảm sản xuất đến mức duy trì tối thiểu để đập nƣớc Hòa Bình xả
nƣớc
cho sản xuất nông nghiệp
lƣu
vực hạ
lƣu
sông Hồng.
Do đó, vấn đề sử dụng
nƣớc
ngọt một cách hợp lý và hữu hiệu cần phải
đặc biệt chú ý nhằm có đủ dự trữ cho nhu cầu ngày càng tăng nhanh
(n
nghèo đã làm cho môi
tr
ƣ
ờng
nƣớc
bị ô nhiễm ngày càng
trầm trọng hơn.
Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn
nƣớc.
Vì nhu cầu
nƣớc
cho phát triển nông nghiệp để gia tăng
lƣơng
thực thực
phẩm, phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm nhiều
hình thức dịch vụ.
Với trình độ công nghệ hiện nay để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn
n
ƣ
ớc,
1 tấn phân đạm cần 600 tấn
nƣớc.
Trong nông nghiệp để sản xuất
đƣờng
hoặc
chất bột cần khoảng 1000 tấn
nƣớc.
Sản xuất chất bột từ lúa
nƣớc
ngƣời
trên
thế giới đều
đƣợc
cung cấp
nƣớc
sạch và có các điều kiện vệ sinh tối thiểu cần
thiết.
Chƣơng
trình đã sử dụng khoảng 300 tỉ USD, thu
đƣợc
nhiều kết quả tốt
nhƣng
mục tiêu cuối cùng vẫn
chƣa
đạt tới. Tới cuối năm 1990, theo báo cáo
chỉ 79% dân thành thị và 41% dân nông thôn
đƣợc
h
ƣ
ởng
nƣớc
sạch và điều
kiện vệ sinh. Bình quân trong 5
ngƣời
sống ở các
nƣớc
đang phát triển, có 3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt p : // www . Lr c - t nu . e du . v n
ờng
yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi
thối, ô nhiễm nguồn
nƣớc
và môi
tr
ƣ
ờng
mà còn gây khó khăn trong việc lấy
nguồn
nƣớc
mặt để xử lý thành nguồn
nƣớc
sạch cấp cho nhu cầu xã hội.
Nhu cầu
nƣớc
sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác
của con
ngƣời
gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác
nƣớc dƣới
đất tràn lan gây
cạn kiệt nguồn
nƣớc
và ảnh
h
ƣ
ởng
đến môi
tr
hợp lý nguồn tài nguyên
n
ƣ
ớc.
Hiện nay, đã có nhiều hoạt động tuyên truyền chủ
tr
ƣ
ơng
xã hội hoá
công tác bảo vệ tài nguyên
nƣớc,
đƣa ra nhiều biện pháp nhằm kêu gọi tất cả
các thành viên trong xã hội nâng cao ý thức, cùng hành động tích cực bảo vệ
nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Bảo vệ tài nguyên
nƣớc,
nghiên cứu khai
thác và sử dụng
nƣớc
tiết kiệm là nhiệm vụ cấp bách, nó không chỉ đáp ứng
các yêu cầu
trƣớc
mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ
Tài
Diện tích
( triệu ha )
Năng
suất
(
Tạ/ha)
Sản lƣợng
618,53
154,32
41,12
634,60
156,95
41,50 651,7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt p : // www . Lr c - t nu . e du . v n
nguyên và môi
tr
ƣ
ờng
trong tƣơng lai lâu dài, vì đó là sự sống còn của
chính chúng ta hiện nay và con cháu sau này.
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng
nên cây lúa có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và
đƣợc
trồng ở
nhiều nơi trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có trên 100
nƣớc
trồng lúa
hầu hết các châu lục, với tổng diện tích thu hoạch năm 2007 khoảng 156
triệu ha (Bảng 2.1). Tuy nhiên sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở
các
nƣớc
châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản
l
ƣ
ợng
[57].
ở mức khoảng 41 tạ/ha. Đồng thời sản
lƣợng
lúa cũng tăng gấp 3 lần từ 215,6
triệu tấn năm 1961 tăng lên 598,9 triệu tấn năm 2000 và duy trì ở mức 651,7
triệu tấn năm 2007 (Bảng 1.1).
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản
lƣợng
lúa của 10
nƣớc
hàng
đầu
Thế giới năm
2007
Tên nƣớc
Diện tích
( Triệu ha)
Năng
suất
(
Tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
Trung Quốc 29,49 63,41
187,04
Ấn Độ 44,00 32,07
141,13
Inđônêxia 12,16 46,89
57,04
Băngladesh 11,20 38,84
43,5
nƣớc
trồng lúa có sản
lƣợng
trên
10 triệu tấn/ năm đã có 9
nƣớc
nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu
lục khác đó là Braxin (Nam Mỹ). Riêng 8 nƣớc: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái
Lan, Inđônêxia, Banglađét, Việt Nam, Mianma, Nhật Bản chiếm 90% sản
lƣợng
lúa của thế giới.
Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nƣớc có năng suất cao hơn hẳn đạt 61,9
tạ/ha (Trung Quốc) và 65,8 tạ/ha (Nhật Bản). Điều đó có thể lý giải là vì
Trung Quốc là nƣớc đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển lúa lai và ngƣời
dân nƣớc này có tinh thần lao động cần cù, có trình độ thâm canh cao. Còn
Nhật Bản là nƣớc có trình độ khoa học kỹ thuật cao, đầu tƣ lớn [16]. Việt
Nam cũng là nƣớc có năng suất và sản lƣợng lúa cao đứng hàng trong 10
nƣớc
trồng lúa chính, đạt 45,9 tạ/ha. Thái Lan tuy là
nƣớc
xuất khẩu gạo đứng
hàng đầu thế giới trong nhiều năm liên tục, song năng suất chỉ đạt 26,1 tạ/ha,
bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài ngày, chất
lƣợng
cao [6].
Trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải
tiến giống lúa trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng
ƣu
thế lai ở lúa do đó
năng suất bình quân đạt 63,41 tạ/ha, sản
nƣớc
của Trung Quốc vẫn không đáp ứng đủ cầu.
Ấn Độ trong niên vụ 2002 - 2003 sản
lƣợng
gạo là 72,66 triệu tấn, giảm
20,42 triệu tấn so với năm 2001 - 2002
tƣơng đƣơng
21,94%. Một trong
những
lý do của sự giảm sụt sản
lƣợng
là do thời tiết xấu
nhƣ
hạn hán, lũ lụt, sâu
bệnh... ở nhiều vùng. Tuy nhiên, đến năm 2006 - 2007, Ấn Độ
đƣợc
mùa và
sản
l
ƣ
ợng
gạo của Ấn Độ đã đạt 141,13 triệu tấn, tăng 68,47 triệu tấn, gần gấp
đôi sản
lƣợng
so với năm 2002 - 2003 [57].
Thái Lan là nơi có đất đai màu mỡ, diện tích canh tác lớn (chiếm
khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi,
mƣa
thuận gió
hoà thích hợp cho phát triển cây lúa
trên thế
giới
Trong nhiều năm qua tình trạng thiếu
nƣớc
phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp đã gây sức ép lên hệ thống sản xuất lúa gạo, một trong nhƣng cây
trồng tiêu tốn nhiều
lƣợng nƣớc
nhất, theo tính toán
lƣợng nƣớc
cần cung cấp
cho lúa cao gấp 3 - 4 lần so với các loại cây trồng thuộc họ hòa thảo khác [47].
Việc cắt giảm khoảng 10%
lƣợng nƣớc
cho hệ thống canh tác lúa gạo sẽ cung
cấp một lƣợng nƣớc
tƣơng
ứng với 150.000 triệu m
3
tƣơng
ứng khoảng 25%
tổng
lƣợng nƣớc
ngọt dùng cho mục đích phi nông nghiệp trên toàn cầu [31].
Gần đây các nghiên cứu về cải tiến hệ thống canh tác lúa
nƣớc
với mục
đích tiết kiệm nguồn
nƣớc tƣới,
nâng cao hệ số sử dụng
nƣớc
(cao gấp
5 lần so với Ấn Độ) và Bangladesh sẽ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng
nƣớc
trong vài năm tới nếu vẫn sử dụng
nƣớc
với mức độ hiện nay [29].
Canh tác lúa tiết kiệm nước hoặc giảm lượng nước đầu vào
Để xác định đƣợc
lƣợng
nƣớc tiết kiệm thông
thƣờng
cần sử dụng các
kỹ thuật nhằm giảm
lƣợng nƣớc
đầu vào tồn tại trên bề mặt ruộng. Thuật ngữ
này rất thích hợp khi nguồn
nƣớc
ngày càng khan hiếm và tổng lƣợng
n
ƣ
ớc
tiết kiệm đƣợc có thể sẽ đƣợc sử dụng cho các cây trồng khác hoặc dự trữ
cho vụ sau [31].
L
ƣ
ợng
nƣớc
tiết kiệm
ƣ
ơng
thức truyền thống. Chính vì vậy,
nguyên lý của việc tiết kiệm
nƣớc
chính là làm tăng
lƣợng nƣớc
cây sử dụng.
Lƣợng nƣớc cây sử dụng là tổng lƣợng chất khô mà cây tạo nên trên
một đơn vị
nƣớc tƣới.
Điều này phụ thuộc vào các dạng
nƣớc
dòng chảy của
nƣớc
trong đất, hay
lƣợng nƣớc
cây sử dụng có thể
đƣợc
định nghĩa chính là
lƣợng chất khô mà cây tạo nên trên đơn vị nƣớc bay hơi đi (WP
ET
) hay tính
bằng lƣợng chất khô mà cây tạo nên trên một tổng đơn vị nƣớc đầu vào
(WP
IT
) [47].
Các kỹ thuật canh tác tiết kiệm nước
Có rất nhiều kỹ thuật canh tác lúa tiết kiệm
nƣớc
nƣớc nhất định trong đất, bởi vậy giảm thiểu
lƣợng nƣớc tồn tại trên bề mặt ruộng tạo điều kiện có mặt nƣớc ở phía trên
ruộng. Điều này đồng nghĩa với việc giảm thiểu lƣợng
nƣớc
chảy tràn và
lƣợng nƣớc
thoát hơi lãng phí trên bề mặt ruộng. Canh tác trên đất vừa đủ bão
hòa
nƣớc
đồng nghĩa với việc chỉ duy trì một
lƣợng nƣớc
rất thấp khoảng 1cm
trên bề mặt. Giảm độ cao mặt nƣớc trên mặt ruộng cũng có nghĩa là giảm
đƣợc
sự thất thoát
nƣớc
trên bề mặt thoáng tự do [31].
Áp dụng
ph
ƣ
ơng
thức
t
ƣ
ới
Ngập
-
70% so với công thức đối chứng
tƣới
ngập
nƣớc.
Trong tất cả các
tr
ƣ
ờng
hợp,
ph
ƣ
ơng
thức AWD làm tăng hiệu quả sử dụng
nƣớc
bởi chúng làm tăng
l
ƣ
ợng
nƣớc cây sử dụng so với tổng
lƣợng nƣớc
đầu vào bởi
ph
ƣ
ơng
thức này làm
giảm
lƣợng nƣớc
đầu vào.
Bouman và Tuong (2005) đã đƣa ra kết luận, sự biến động lớn về kết
quả của
ƣ
ờng
xuyên
ngập nƣớc. Các thí nghiệm ở Philippine và Trung Quốc cũng đã cho thấy,
l
ƣ
ợng
nƣớc
đầu vào cho hệ thống lúa cạn giảm từ 30-50% so với hệ thống lúa
trồng trên đất ngập
nƣớc
với mức giảm năng suất khoảng từ 20-30% [31].
Diện
tích
(
t
r
i
ệ
u
39,10 27,75
7,10
40,00 28,40
7,65
41,00 31,36
7,67
42,43 32,53
7,49
42,85 32,11
7,5
45,9 34,45
7,45
46,39 34,57
7,44
48,21 35,89
7,34
49,51 36,34
7,32
48,90 35,82
7,21
49,84 35,94
7,41
52,26 38,73
1.5. Tình hình sản xuất lúa trong
n
ƣ
ớc
Việt Nam là
nƣớc
có nền kinh tế nông nghiệp dựa trên sản xuất lúa gạo.
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
(Nguồn Tổng Cục Thống kê) [21]
Ngƣời Việt Nam vẫn thƣờng tự hào về nền văn minh lúa nƣớc của đất
nƣớc
mình. Từ xa
xƣa
cây lúa đã trở thành cây
lƣơng
thực chủ yếu, có ý nghĩa
quan trọng trong đời sống của
ngƣời
dân Việt Nam [6]. Quá trình khai hoang
phục hoá cùng với việc thâm canh tăng vụ đã
đƣa
tổng diện tích lúa thu hoạch
của nƣớc ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 lên 7,67 triệu ha năm 2000, sau đó
giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2003 và chỉ còn 7,41 triệu ha năm
2008. Gần nửa thế kỷ qua,
nƣớc
ta phấn đấu đi lên giải quyết vấn đề lƣơng
thực theo
hƣớng
sản xuất đa dạng các loại ngũ cốc và cây ăn củ. Những loại
nƣớc
ở Việt
Nam
Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng hạn hán nhƣ hiện nay
đã đƣợc các nhà khoa học xác định là do tỉ lệ thất thoát nƣớc cao trong quá
trình
tƣới.
Công nghệ tƣới tiết kiệm nƣớc (TTKN) lần đầu tiên trên thế giới
đƣợc
sử dụng trong nhà kính ở
nƣớc
Anh từ cuối năm 1940.
Ở Việt Nam, công nghệ TTKN đang còn ở mức thấp, đơn giản, hiệu
quả
chƣa
cao.
Trƣớc
thực trạng đó, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã xây
dựng và hoàn thiện thành công chuyển giao công nghệ kỹ thuật TTKN tại một
số địa ph
ƣ
ơng.
Đây cũng là nội dung nghiên cứu khoa học của Đề tài cấp
nhà
n
ƣ
ớc
KHCN.08.09 "Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ tƣới
hiện đại tiết kiệm
nƣớc
sơ đồ mẫu đều có giới thiệu
ph
ƣ
ơng
pháp bố trí các loại
đƣờng
ống, thiết bị
tƣới với bảng tổng hợp vật tƣ và giá thành để ngƣời nông dân tiện lựa
chọn theo nhu cầu cũng
nhƣ
khả năng tài chính của mình.
Thông qua các mô hình thực nghiệm TTKN, Đề tài cũng thực hiện
thành công nội dung khảo sát, nghiên cứu động thái ẩm của đất theo các
phƣơng pháp
tƣới
khác nhau trên các loại đất, địa hình và với các loại cây
trồng khác nhau. Kết quả thu
đƣợc
là cơ sở để khẳng định tính
ƣu
việt nổi bật
của kỹ thuật TTKN. Bằng nhiều khảo nghiệm trên các loại đất khác nhau
nh
ƣ
đất thịt nặng, thịt nhẹ, cát, cát pha; các loại địa hình
nhƣ
bằng phẳng, gồ ghề,
dốc một chiều, nhiều chiều cũng
nhƣ
với nhiều loại cây trồng cho thấy TTKN
tƣới
(tiết kiệm từ 50 - 70%
lƣợng nƣớc tƣới
theo
phƣơng
pháp cũ), tăng năng
suất, chất
lƣợng
sản phẩm. Đồng thời giảm công lao động, thuận lợi cho cơ
giới hóa và tự động hóa. Đây cũng là giải pháp giúp kiểm soát tổng lƣợng
nƣớc dùng, tối
ƣu
hóa hiệu quả sử dụng nƣớc, cải tiến
đƣợc
chính sách thủy
lợi phí.
Viện Khoa học thủy lợi miền Nam đã áp dụng thành công công
nghệ TTKN cho các cây công nghiệp (chè, cà phê) tại Di Linh, Bảo Lộc (Lâm
Đồng), rau quả xuất khẩu tại Đà Lạt, nho vùng Ninh Thuận, điều, tiêu ở Quảng
Trị,…Tuy nhiên, việc đầu
tƣ
cho ứng dụng công nghệ này còn
tƣơng
đối cao,
nên đây thực sự còn là điều khó khăn cho nông dân. Vì thế, Nhà
nƣớc
cần có
chính sách
ƣu
tiên cho
ƣ
ờng
cũng đã báo cáo một đề tài nghiên cứu về “Tiết kiệm
nƣớc tƣới
-
Hiệu quả quản lý
nƣớc
trong thâm canh lúa và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”.
Qua đó nhờ các
ph
ƣ
ơng
pháp canh tác lúa tiết kiệm
nƣớc
mà trong vụ xuân đã
tiết kiệm
đƣợc
720-802m
3
/ha và trong vụ mùa tiết kiệm
đƣợc
250m
3
/ha. Đồng
thời nhờ các biện pháp này mà cây lúa có thể khai thác
đƣợc nƣớc
ngầm ở độ
sâu -70 đến -80 mm, nhờ đó làm hàm lƣợng đạm vô cơ tăng lên trong đất
giúp bảo vệ môi
tr
đối chứng tới 1.382 đồng/kg, mức chênh lệch 240 đồng/kg.
Từ hiệu quả mô hình này, Sở NN&PTNT An Giang mở rộng thí điểm ở
11 điểm. Trong vụ đông xuân 2005-2006 và vụ hè thu này, An Giang tiếp tục
nhân rộng ra mỗi xã có 15 hộ nông dân tham gia, riêng huyện Châu Thành và
Châu Phú, số nông dân đăng ký thực hiện gấp đôi. Cùng với mô hình này, Sở
NN&PTNT An Giang kết hợp với
Tr
ƣ
ờng
Ðại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh
đƣa vào sử dụng máy san đất điều khiển bằng tia laser, tạo độ phẳng gần
nhƣ tuyệt đối cho mặt ruộng để triển khai
ch
ƣ
ơng
trình ứng dụng kỹ thuật
“tƣới
tiết kiệm
n
ƣ
ớc”
trên diện rộng cho nông dân.
Hiện nay, Chi cục BVTV An Giang đang tiến hành đặt ống theo dõi
mực nƣớc trên ruộng lúa cho nông dân theo
ch
ƣ
ơng
trình thí điểm “tƣới tiết
kiệm
nƣớc
trên mặt ruộng 5 cm. Sau khi lúa trổ đều, giữ độ ẩm mặt
ruộng nhƣ giai đoạn đầu và rút nƣớc khô
trƣớc
khi thu hoạch 10 - 15 ngày.
Nông dân phải chú ý giai đoạn lúa phát triển và sau khi lúa trổ đều, dù mặt đất
cạn
nhƣng nƣớc
ngầm vẫn cung cấp đủ độ ẩm mặt đất cho cây lúa phát triển
tốt.
Tổng kết chƣơng trình “3 giảm, 3 tăng” 4 năm qua ở khu vực
ÐBSCL, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục
Tr
ƣ
ởng
Cục Bảo vệ thực vật
phía Nam, cho biết, có 60-70% nông dân áp dụng rất hiệu quả nên việc
chuyển giao kỹ thuật mới không dừng lại ở đây.
Bƣớc
tiến mới trong khoa
học kỹ thuật trồng lúa là ứng dụng kỹ thuật
“tƣới
tiết kiệm
n
ƣ
ớc”.
Cục
BVTV đang xây dựng từng mô hình nhỏ ở nhiều địa phƣơng, nhằm tổng
hợp nhiều biện pháp, kỹ thuật để bổ sung vào
chƣơng
trình 3 giảm 3 tăng.
628 gam
nƣớc
trong khi cây ngô chỉ cần 349 gam
nƣớc
[17].
Thời kỳ nảy mầm: Hạt lúa khi
đƣa
vào bảo quản có độ ẩm là 13%, sau
khi đƣợc ngâm ủ, hạt hút no
nƣớc
(đạt 25 – 27% khối
lƣợng
khô của hạt) thì
hạt bắt đầu nảy mầm. Đối với những giống lúa cạn gieo trực tiếp khi
ch
ƣ
a
ngâm ủ thì hạt sẽ nảy mầm khi đất đủ ẩm hoặc khi trời có
m
ƣ
a.
Thời kỳ mạ: Giai đoạn nảy mầm, rễ phát triển
đƣợc
là nhờ vào chất
dinh
dƣỡng
phân giải từ phôi nhũ, ở giai đoạn này cần giữ đủ ẩm, tránh để
ruộng ngập trong thời gian dài,
nh
ƣ
đơn vị diện tích. Mức ngập khác nhau trong thời kỳ này có ảnh hƣởng đến
quá trình đẻ nhánh. Kết quả nghiên cứu của
tr
ƣ
ờng
Đại học Nông nghiệp I
cho thấy: Mức tƣới tốt nhất cho thời kỳ này cho lúa đẻ nhánh đạt số nhánh
hữu hiệu cao là 5 – 10 cm. Không có lớp
nƣớc
hoặc ngập quá sâu đều làm hạn
chế đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu. Đối với vụ chiêm và vụ xuân, mức
tƣới
5
cm tốt hơn; với vụ mùa mức 10 cm tốt hơn.
Thời kỳ cuối đẻ nhánh đến phân hoá đòng: Trong những năm gần đây, ở
Trung Quốc, Nhật Bản và
nƣớc
ta, một số tác giả chú ý đến vấn đề sử dụng
n
ƣ
ớc
để điều khiển sinh
tr
ƣ
ởng,
phát triển của lúa. Các tác giả cho rằng việc
rút
n
ƣ
ớc