PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ thể thực vật, lân đóng vai trò quyết định sự biến đổi vật chất và năng
lượng. Nó tham gia cấu tạo nên các acid nucleic, coenzyme, adenosin triphosphate (ATP)…
là những chất cần thiết cho sự sống [2]. Ngoài ra lân còn đóng những vai trò khác như tạo
môi trường đệm, ảnh hưởng đến quá trình hút các chất khoáng khác của cây. Đất chứa khối
lượng lớn chất chứa lân. Tuy nhiên không phải hợp chất chứa lân nào trong đất cũng được
cây sử dụng dễ dàng. Đặc biệt là đất bazan nâu đỏ ở Tây Nguyên vốn rất giàu lân tổng số
nhưng lân dễ tan lại rất thấp.
Sự chuyển hóa lân xảy ra chủ yếu dưới tác dụng của quá trình hóa học và sinh học
[1]. Quá trình chuyển hóa hợp chất phophat khó tan trong đất có phần đóng góp quan trọng
của các loại vi sinh vật. Vi sinh vật có khả năng chuyển hóa quặng phosphate khó tan thành
dễ tan để cây trồng hấp thụ được. Do vậy bón vi sinh vật phân giải phosphate khó tan sẽ
cung cấp một lượng lân dễ tan cho cây trồng và giúp cây hấp thụ các chất dinh dưỡng
trong đất tốt hơn [3].
Ngoài ra những vi sinh vật chuyển hóa hợp chất lân vừa có khả năng tạo các chất
dinh dưỡng cho cây, sinh tổng hợp chất kích thích sinh trưởng thực vật đồng thời cũng có
khả năng ức chế một số vi sinh vật gây bệnh vùng rễ cây trồng [7].
Theo Fridland (1973) đất bazan nâu đỏ là loại đất hình thành trên đất bazan, trong
điều kiện nhiệt đới ẩm, các bazơ bị rửa trôi mạnh, đất có phản ứng chua, sắt nhôm tích lũy
nhiều, đây là nguyên nhân chủ yếu của quá trình giữ chặt lân trên đất bazan [13].
Theo Đoàn Triệu Nhạn (1999): Đất bazan nâu đỏ ở Tây Nguyên có hàm lượng lân
tổng số đạt 0,02% P
2
O
5
và lượng lân dễ tiêu là 4,12mg P
2
O
5
/ 100g đất [13].
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Các dạng lân trong đất
Lân rất quan trọng đối với cây trồng. Tuy nhiên hiệu suất sử dụng lân bởi cây trồng
không quá 25%, trong khi đó một lượng lớn bị cố định trong đất và chuyển thành dạng khó
hấp thụ. Lượng dự trữ lân trong đất xấp xỉ 0,025 – 0,3% P
2
O
5
nhưng chúng tồn tại trong đất
ở dạng không tan trong nước cây khó hấp thụ. Thành phần lân dễ tan và khó tan trong đất
được quyết định bởi tính chất đá mẹ, thành phần cơ giới và hàm lượng chất hữu cơ quyết
định [5].
Theo Sepfe-Satsaben (1960) thì hàm lượng phosphate trung bình ở nhiều loại đất
thường từ 0.02 – 0.08%. Do quá trình tích lũy sinh học, hàm lượng phosphate trong lớp đất
mặt cao hơn ở lớp dưới [13].
Trong các loại đất khoáng , tỉ lệ lân hữu cơ thường từ 25 – 65%. Các cỡ hạt thuộc
thành phần sét thường chứa nhiều lân hơn các cỡ thuộc thành phần cát. Do đó: Ở các chân
đất nhẹ, đất bạc màu… có ít keo sét, thì tỉ lệ phosphate thường thấp hơn các loại đất khác
[13].
Tỉ lệ lân trong đất khác nhau thùy theo tính chất của đá mẹ và những tầng phát sinh
từ đá mẹ như: Nai, mica, quartzit… thường tỉ lệ lân thấp hơn là đất phát sinh từ mẫu thạch
không chua như: Bazan, đá vôi,…[13]
Quá trình phân giải xác bã động thực vật cung cấp cho đất một nguồn phosphate
quan trọng. Như vậy việc bổ sung chất hữu cơ vào đất giúp làm tăng cường hàm lượng lân
cho đất. Trong tự nhiên nói chung và trong đất nói riêng , phosphate tồn tại ở hai dạng chủ
yếu sau:
2.1.1 Lân hữu cơ
Tùy loại đất, tỷ lệ phosphate hữu cơ thường chiếm từ 20 – 80% phosphate tổng số
trong đất. Ở lớp đất mặt, phosphate chiếm khoảng 50% [5]. Phosphate hữu cơ trong đất chủ
yếu ở trong thành phần mùn. Đất càng giàu mùn thì càng giàu phosphate hữu cơ. Theo
cung cấp cho cây được nhiều phosphate từ những hợp chất hữu cơ. Vì thế, ở nước ta bón
phân chuồng cũng là giải pháp cung cấp phosphate cho cây trồng [13].
2.1.2. Lân vô cơ
Phosphate vô cơ tồn tại ở dạng muối của những nguyên tố Ca, Fe, Al. Ở đất trung
tính và đất kiềm thì phosphate Ca là chủ yếu, còn ở đất chua thì phosphate Fe, Al là chủ
yếu. Phosphate Ca dễ được huy động để làm thức ăn cho cây hơn là phosphate Fe, Al. Sự
tồn tại của ion phosphate trong môi trường đất bị chi phối bởi ion phosphate bị chuyển đổi
hóa trị [13].
Môi trường chua: H
2
PO
4
-
HPO
4
2-
PO
4
3-
Trong thực tế, H
2
PO
4
-
là dạng cấy trồng dễ hấp thu nhất. Các dạng phosphate còn lại
thường là những loại khó hòa tan mà cây trồng không thể đồng hóa được, muốn cây trồng
sử dụng được phải qua quá trình biến đổi thành dạng dễ tan [13]. Cũng như các yếu tố
khác, phosphate trong tự nhiên luôn luôn tuần hoàn chuyển hóa. Nhờ vi sinh vật, lân hữu cơ
được vô cơ hóa biến thành dạng muối của acid phosphoric. Các dạng lân này một phần
được cây trồng sử dụng biến thành dạng lân hữu cơ, một phần bị cố định dưới dạng khó tan
PO
4
3-
trong dung dịch đất
PO
4
3-
bị hấp thụ
Hòa tan
Lân vô cơ
Cố định tạm thời
Chất hữu cơ tươi và tế bào sinh vật
Chất hữu cơ mùn hóa
Quá trình khoáng Quá trình cố định
- pH tối thích là 6 – 7. Ở môi trường kiềm lân vô cơ được phóng thích nhanh hơn lân
hữa cơ.
- Nhiệt độ cao cũng thuận lợi cho việc khoáng hóa lân hữu cơ. Tối thích là 40 –
50
o
C. Do đó, trong mùa hè tốc độ khoáng hóa lân mạnh hơn các mùa khác.
2.2.2. Đối với lân vô cơ
Sự tồn tại các loại ion phosphate trong đất phụ thuộc vào pH đất. Do vậy, thực tế
trong đất, lân tồn tại chủ yếu ở hai dạng: H
2
PO
4
-
và HPO
4
2-
tạo thành hợp chất không tan cây không đồng hóa được [13].
Al
3+
+ H
2
PO
4
-
+ 2H
2
O 2H
+
+ Al(OH)
3
.H
2
PO
4
Ở các loại đất rất chua, Al
3+
và Fe
3+
vượt các ion H
2
PO
4
-
nhiều làm cho phản ứng
trên càng nghiêng theo chiều thuận, tạo thành lân không tan khiên cho chỉ còn một lượng
rất nhỏ H
Dung dịch acid
Dung dịch kiềm
Không tan
Al(OH)
3
+ H
2
PO
4
-
Al(OH)
2
.HPO
4
-
+ H
2
O
Điều đáng lưu ý là hầu hết các loại đất đều chứa oxit sắt, nhôm ngậm nước nên đây
cũng là kiểu cố định khá nhiều lân và diễn ra trên phạm vi rộng.
Trong môi trường chua còn có hai quá trình cố định lân liên quan tới sét. Đó là do sự
tồn tại các ion OH
-
lộ trên bề mặt khoáng sét. Sự cố định này đi kèm với việc giải phóng
kiềm theo phản ứng sau:
Sét – OH + Ca(H
2
PO
4
)
Còn về vôi, người ta thấy khi để cho sét hấp thụ Ca
2+
, tỉ lệ anion phosphate được hấp
thu tăng lên, bất chấp ngưỡng kết tủa canxi phosphate. Điều đó chứng tỏ rằng : Đây là quá
tình cố định ion chứ không phải bằng con đường hóa học. Tính ổn định của quá trình giữ
chặt này phụ thuộc vào điều kiện môi trường và việc giải phóng anion có thể xảy ra khi
điều kiện môi trường thay đổi và đặc biệt là nếu sét bị giải keo.
Ở đất chua, các hydroxit sắt, nhôm lương tính có thể mất 1 nhóm OH
-
trở thành keo
dương tính tham gia hấp phụ trao đổi anion:
Al(OH)
3
+ H
+
= Al(OH)
2
+
+ H
2
O
2.2.2.2. Sự chuyển hóa lân ở đất kiềm
Trong môi trường kiềm giàu Ca, ion H
2
PO
4
-
phản ứng mạnh với Ca tạo thành các
hợp chất ít tan hơn theo các phản ứng lần lượt như sau [13]:
Ca(H
6
.5H
2
O + 2CO
2
Ca
8
H
2
(PO
4
)
6
.5H
2
O + CaCO
3
→ Ca
3
(PO
4
)
2
+ CO
2
+ 6H
2
O
Lân trở nên kém hòa tan hơn khi gặp điều kiện thuận lợi và đủ thời gian Ca
3
4
2. Lơxitin Glixerphosphate H
3
PO
4
Sơ đồ của quá trình phân giải nucleoprotein cụ thể như sau:
Vi sinh vật phân giải lân hữu cơ chủ yếu gồm các chủng Bacillus và Pseudomonas.
Ngoài ra còn có một số xạ khuẩn và nấm khác. Đáng chú ý là B. megaterium var
phosphatsum có khả năng phân giải lân hữu cơ cao [13]. Đồng thời B. megaterium còn có
khả năng hình thành bào tử nên sức sống rất mạnh [4].
2.3.2. Vi sinh vật phân giải lân vô cơ
Nhiều vi khuẩn như Bacillus megaterium, Bacillus mycoides, Bacillus butyricus,
Pseudomonas fluorescens, vi khuẩn nitrat hóa, một số vi khuẩn hệ rễ, xạ khuẩn có khả năng
phân giải Ca
3
(PO
4
)
2
và bột apatit. Khả năng phân giải lân vô cơ liên quan mật thiết tới sự
sản sinh acid của vi sinh vật. Quá trình lên men tạo ra acid carbonic, là acid chủ yếu thúc
đẩy quá trình hòa tan lân vô cơ [3].
Ca
3
(PO
4
)
2
+ H
2
5
H
5
O
5
O
C
5
H
5
O
5
O
2
C
4
H
5
O
5
O
Acid amin
4H
3
PO
4
Chất khác
H
2
OH
)
2
+ 2 Ca(NO
3
)
2
Ca
3
(PO
4
)
2
+ 2 H
2
SO
4
= Ca(H
2
PO
4
)
2
+ 2CaSO
4
Đối với nấm thì Aspergillus niger cho khả năng phân giải lân mạnh nhất. Ngoài ra
còn có một số chủng khác như Penicillin, Rhizopus…
2.3.3. Các điều kiện ảnh hưởng tới khả năng phân giải lân của vi sinh vật
- Độ pH: nhìn chung pH ít ảnh hưởng đến khả năng phân giải lân. Tuy nhiên pH
trong khoảng 7.8 – 8.0 ảnh hưởng tốt tới sự phát triển của hệ vi sinh vật phân giải lân [5].
- Nhiệt độ: các chủng vi sinh vật có nhiệt độ thích hợp cho quá trình phân giải lân là
lượng P
2
O
5
dễ tan nhỏ hơn 1,0 mg/100 g đất. Trong khi đó, lân tổng số của nhóm đất này
lại cao, P
2
O
5
tổng số trên 0.2% [21].
2.5. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hàm lượng lân trong các loại đất thường rất thấp vì vậy người ta tìm cách để tăng
lượng lân dễ tan trong đất bằng cách bón phân. Nhưng 2/3 lượng lân bón vào đất bị chuyển
hóa trở thành lân khó tiêu khiến cây trồng không hấp thụ được hoặc bị rữa trôi đi. Do đó
hiệu quả của việc bón phân lân bị giảm đi nhiều. Các vi sinh vật phân giải lân khó tan đã
giải quyết được vấn đề này. Chúng vừa giảm được lượng phân lân bón cho cây, đồng thời
huy động được cả lượng lân khó tiêu trong đất. Với những lợi ích như vậy, các vi sinh vật
phân giải lân được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu ở châu
Âu, Mỹ và Ấn Độ đã cho thấy hiệu quả to lớn của các vi sinh vật phân giải lân.
Các nghiên cứu của Sen và Paul, 1957 , Katznelson và Bose,1967; Ostwal và Bhide,
1999 cho thấy: các chủng vi khuẩn đặc biệt thuộc loài Pseudomonas và Bacillus, các chủng
nấm thuộc loài Penicillium, Aspergillus có khả năng chuyển hóa photphat không tan thành
dạng dễ hòa tan ở trong đất nhờ tiết ra các acid hữu cơ như formic, acetic, lactic, propionic,
fumaric, glucolic và acid succinic. Những acid này làm giảm pH và hòa tan các dạng
photphate khó tan [20].
Ở Liên xô (cũ) sản phẩm phân bón vi sinh vật thương mại “phosphobacterin” với sự
có mặt của B. megateirum var phosphaticum đã được sử dụng rộng rãi ở Liên xô và các
nước Đông Âu , làm tăng năng suất cây trồng 5 – 10% so với đối chứng.Viện nghiên cứu
nông nghiệp Ấn Độ đã sử dụng phosphobacterium trên lúa mì, lúa và ngô cũng đã cho kết
quả tăng đáng kể so với đối chứng. Người ta tính nếu sử dụng vi sinh vật phân giải lân có
Kết quả nghiên cứu ở nhiều nơi cho thấy phân vi sinh vật phân giải photphate khó
tan có thể nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân khoáng lên 20 – 30% so với đối chứng đồng
thời có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng 5 – 10% tùy loại đất trồng và cây trồng. Việc
sử dụng vi sinh vật phân giải lân có thể thay thế 30 – 50% lượng lân cần bón bằng quặng
phosphorit với hàm lượng lân tổng số tương đương mà năng suất cây trồng không bị giảm
sút. Ngoài tác dụng phân giải lân ,vi sinh vật phân giải lân còn có khả năng sản sinh ra các
chất kích thích sinh trưởng thực vật hoặc các chất kháng sinh giúp cây trồng phát triển tốt
hơn, chống chịu tốt hơn đối với điều kiện bất lợi từ bên ngoài [7]. Nguyễn Thị Phương Chi,
Phạm Thanh Hà, Nguyễn thị Quỳnh Mai đã nghiên cứu khả năng tiết enzyme photphataza
của 10 chủng vi sinh vật hòa tan lân và nhận thấy rằng ngoài khả năng hòa tan lân khó tan
các chủng vi sinh vật này có khả năng sản sinh enzyme photphatase (chủ yếu là nấm sợi và
vi khuẩn) enzyme này đóng vai trò xúc tác không thể thiếu cho quá trình phân hủy sinh học
các hợp chất hữu cơ chứa lân. Vũ Thúy Nga ,Nguyễn Ngọc Quyên, Trần Thủy Tú, Phạm
văn Toản (2003) nghiên cứu khả năng sinh tổng hợp IAA và phân giải phosphate vô cơ khó
tan của vi khuẩn Bradyrhizobium. Kết quả cho thấy chúng có khả năng tổng hợp 20 – 100
microgam/ml môi trường nuôi cấy. Phạm Thanh Hà, Nguyễn Thị Phương Chi (1999)
nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn nitơ lên khả năng phân giải photphat khó tan của hai
chủng nấm sợi Aspergillus awamori MN1 và Penicillum cyaneofulvum ĐT1.Tác giả nghiên
cứu 7 nguồn cung cấp nitơ khác nhau lên khả năng phân giải photphat của Aspergillus
awamori MN1 và Penicillum cyaneofulvum ĐT1. Kết quả cho thấy KNO
3
, NaNO
3
,
(NH
4
)
2
SO
4
Đất được lấy ở tầng mặt, độ sâu từ 0 đến 30cm. Lượng đất lấy mỗi lần từ 40 – 50g.
Mẫu đất được đựng trong túi nilon polypropylen đã được khử trùng. Các mẫu sau khi lấy
được ghi nhãn nơi lấy, ngày lấy và người thu mẫu. Mẫu đất sau khi thu được đem ngay tới
phòng thí nghiệm để tiến hành phân lập [15].
3.2.2. Phương pháp phân lập các chủng vi sinh vật phân giải phosphate khó tan
Môi trường phân lập nuôi cấy vi sinh vật chuyển hóa phosphate khó tan được sử
dụng là NBRIP [15]. NBRIP là môi trường chỉ chứa dạng phosphate khó tan nên các vi sinh
vật muốn sinh trưởng và phát triển được phải có khả năng sử dụng phosphate khó tan. Hay
nói cách khác, các vi sinh vật đó phải có khả năng phân giải phosphate khó tan. Thành phần
cơ bản của môi trường NBRIP gồm:
- 5 g Ca
3
(PO
4
)
2
- 0.25g MgSO
4
.
- 0.2g KCl.
- 0.1g (NH
4
)
2
SO
4
- 5 gMgCl
2.
6 H
- Làm thuần: cấy ria các khuẩn lạc được lựa chọn lên các đĩa petri chứa môi trường
NBRIP khác để thu khuẩn lạc đơn. Quá trình làm thuần được tiến hành 2 – 3 lần. Chọn
khuẩn lạc đơn đã được làm thuần cấy truyền vào ống thạch nghiên để giữ giống.
3.2.3. Phương pháp đánh giá hoạt tính phân giải photphat khó tan của các chủng vi
sinh vật
Đánh giá hoạt tính phân giải phosphate của các chủng vi sinh vật dựa trên nồng độ
PO
4
có trong dịch nuôi cấy. Nồng độ PO
4
càng cao chứng tỏ lượng phosphate khó tan bị
phân giải càng nhiều.
Nồng độ PO
4
được xác định bằng phương pháp xanh molipdate [9]. Nguyên tắc của
phương pháp là ion PO
4
sẽ phản ứng với (NH
4
)
2
SO
4
tạo ra phức chất (NH
4
)
2
PO
4
4
.12MoO
3
+ 21NH
4
+
+ 12H
2
O
(NH
4
)
2
PO
4
.12MoO
3
+ Sn
2+
+ 16H
+
= (NH
4
)
3
(4MoO
2
.2MoO
3
) + Sn
Bảng 3.1. Bảng nồng độ KH
2
PO
4
(mg/l)
Nồng độ PO
4
(mg/l) Thể tích KH
2
PO
4
5mg/l (ml) Thể tích nước cất (ml)
0 0 100
0.1 2 98
0.2 4 96
0.3 6 94
0.4 8 92
0.5 10 90
Thực hiện phản ứng xanh molipdate các nồng độ KH
2
PO
4
rồi đo OD ở bước sóng
690nm. Đường chuẩn và phương trình tương quan giữa chỉ số OD và nồng độ mg/l được
xây dựng trên phần mềm Excel.
Chuẩn bị bình tam giác 250ml, mỗi bình chứa 50ml môi trường NBRIP đã được khử
trùng. Cấy các chủng vi sinh vật đã phân lập được vào và ủ 5 ngày. Sau đó, lấy 1.5ml dịch
môi trường nuôi cấy đem ly tâm ở 10000rpm trong 10 phút. Hút cẩn thận 1ml dich phía trên
để làm phản ứng xanh molipdate rồi đo OD xác định nồng độ PO
4
C.
- Lô 3: Đặt trong tủ ấm, chỉnh nhiệt độ tại 35
o
C.
Sau 3 ngày nuôi cấy, tiến hành thu dịch môi trường của các ống nghiệm để làm phản
ứng xanh molipdate, xác định nồng độ PO
4
.
3.2.3.2. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến khả năng phân giải
phosphate khó tan của các chủng vi sinh vật
Sử dụng môi trường NBRIP cho thí nghiệm. Đo pH của môi trường bằng máy đo
pH – meter. Điều chỉnh pH môi trường bằng KOH 1N và HCl 1N. Thí nghiệm trên 3 lô:
- Lô 1: Sử dụng môi trường NBRIP không có điều chỉnh pH (pH = 6.8).
- Lô 2: Môi trường được điều chỉnh pH về giá trị 5.8.
- Lô 3: Môi trường được điều chỉnh pH về giá trị 7.8.
Mỗi lô thí nghiệm môi trường được phân phối vào 18 ống nghiệm, mỗi ống nghiệm
chứa 10ml môi trường. Sau đó hấp khử trùng ở 1atm trong 20 phút. Cấy giống vi sinh vật
vào 3 lô. Cấy mỗi giống vi sinh vật vào 3 ống nghiệm của một lô.
Sau 3 ngày nuôi cấy, tiến hành thu dịch môi trường của các ống nghiệm để làm phản
ứng xanh molipdate, xác định nồng độ PO
4
3-
.
3.2.3.3. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ lắc đến khả năng phân giải
phosphate khó tan của các chủng vi sinh vật
Chuẩn bị 3 lô thí nghiệm, mỗi lô thí nghiệm gồm 12 bình tam giác 250ml. Phân phối
vào mỗi bình tam giác 50ml môi trường NBRIP, đem hấp khử trùng ở 121
o
C, 1atm. Cấy
giống vi sinh vật vào cấc bình tam giác. Mỗi giống cấy vào 2 bình tam giác trên 1 lô. Các lô
3.2.6.2. Phương pháp xác định nguồn nitơ thích hợp cho nuôi cấy các chủng vi sinh
vật phân giải phosphate khó tan
Sử dụng môi trường NBRIP, tuy nhiên thành phần chứa nitơ được thay đổi. Các
nguồn nitơ sử dụng là urê và (NH
4
)
2
SO
4
.
Thực hiện 2 lô thí nghiệm.
- Lô 1 : sử dụng nguồn nitơ là urê ( 0.053g/l). Môi trường được phân phối vào 18
ống nghiệm, mỗi ống chứa 10ml môi trường, đem hấp khử trùng ở 121
o
C và 1atm. Cấy
giống vi sinh vật vào các ống môi trường, mỗi giống lặp lại 3 lần.
- Lô 2 : Sử dụng nguồn nitơ là (NH
4
)
2
SO
4
(0.1g/l). Môi trường được phân phối vào
18 ống nghiệm, mỗi ống chứa 10ml môi trường, đem hấp khử trùng ở 121
o
C và 1atm. Cấy
giống vi sinh vật vào các ống môi trường, mỗi giống lặp lại 3 lần.
Sau 3 ngày nuôi cấy, tiến hành thu dịch môi trường của các bình tam giác để làm
phản ứng xanh molipdate, xác định nồng độ PO
4
4
. So sánh hoạt tính phân giải phosphate khó
tan khi sử dụng AlPO
4
với đối chứng là Ca
3
(PO
4
)
2
ở lô 1.
3.2.8. Phương pháp xử lý số liệu thống kê
Các số liệu về khả năng phân giải phosphate khó tan của các chủng vi sinh vật được
xử lý trên phần mềm MSTATC version 2.10 của Đại học bang Michigan. Các số liệu được
phân tích ANOVA 1 và được trắc nghiệm phân hạng LSD với mức ý nghĩa 0.01.
Đồ thị tương quan và phương trình tương quan giữa chỉ số mật độ quang OD và
nồng độ PO
4
được xử lý trên phần mềm EXCELL 2007 của Microsoft. Các biểu đồ khác
cũng được xử lý trên phần mềm này.
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Phân lập các chủng vi sinh vật phân giải phosphate khó tan
Các mẫu đất đỏ bazan của 3 huyện Krông Năng, Cư Kuin, Cư M gar được nghiền
nhỏ rồi pha loãng từ 10
-2
đến 10
-7
. Mỗi độ pha loãng lấy 100 μl trải đều trên đĩa thạch. Kết
quả cho thấy ở độ pha loãng 10
-4
bazan ở Cư Mgar đạt cao nhất, gần 26 triệu CFU/ml. Sau đó là ở Cư Kuin, gần 23 triệu
CFU/ml. Còn tổng mật độ vi sinh vật phân giải phosphate trong đất đỏ bazan ở Krông
Năng thấp nhất: 20 triệu CFU/ml. Sự khác biệt này có thể do tỷ lệ lân khó tan và dễ tan
trong đất. Đất chứa nhiều lân khó tan thì số lượng vi sinh vật phân giải lân nhiều hơn đất
chứa nhiều lân dễ tan. Tỷ lệ lân khó tan trong đất lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
như: loại đất, điều kiện tự nhiên của từng vùng, quá trình canh tác, cách bón phân. Tuy
nhiên, mật độ vi sinh vật phân giải phosphate khó tan ở mỗi vùng đất khác nhau còn do
nhiều nguyên nhân khác như: bón phân vi sinh có chứa vi sinh vật phân giải phosphate khó
tan, chế độ nước…Do đó, để đưa ra được kết luận chính xác về đất của ba địa phương trên
cần thêm những nghiên cứu khác.
Các khuẩn lạc sẽ được phân loại sơ bộ dựa vào hình thái của khuẩn lạc và hình thái
tế bào của vi sinh vật. Những khuẩn lạc nào có đặc điểm hình thái giống nhau sẽ được xếp
vào một chủng.
Bảng 4.2. Các chủng vi sinh vật phân giải phosphate khó tan phân lập
Nhóm vi sinh vật Ký hiệu chủng
Vi khuẩn M1, M4, M5, M6, M7, M8, M10,
M11, M12, M13, M16, M17
Xạ khuẩn X2, X3, X9, X14, X15
Theo kết quả bảng 4.2, đã phân lập được 17 chủng vi sinh vật phân giải phosphate
khó tan thuộc hai nhóm vi sinh vật: vi khuẩn và xạ khuẩn. Trong đó gồm 12 chủng vi khuẩn
và 5 chủng xạ khuẩn.
Để xác định số lượng chủng vi sinh vật phân giải phosphate khó tan ở mỗi mẫu đất,
đếm số chủng vi sinh vật trên các đĩa thạch. Kết quả được ghi nhận trong bảng 4.3 như sau:
Bảng 4.3. Số chủng vi sinh vật phân lập được trên các mẫu đất từ Krông Năng, Cư
Mgar và Cư Kuin.
STT Địa điểm lấy mẫu Ký hiệu chủng
1 Krông Năng M8, M11.
2 Cư Mgar M1, X2, X3, M5, M6, X9, M10, M1, M12,
X14, X15, M16, M17.
3 Cư Kuin M4, M5, M7, M8, M11, M12, M13, X15,