Khắc phục sự cố máy tính
05/07/2008
Chỉnh sửa registry cho Windows XP (I)
!"#$%&'!
()*+,%,&-!./0-#$'
012.3 45-,6*!-'3 !"78#
Trước khi thực hiện việc chỉnh sửa Registry, cần phải lưu ý một điều, việc chỉnh sửa Registry là một việc
không hề đơn giản. Chỉ cần chỉnh sai một giá trị thì có thể làm ảnh hưởng đến cả hệ thống. Do đó trước
khi thực hiện việc chỉnh sửa Registry, bạn phải sao lưu lại toàn bộ các Registry sẵn có bằng cách click
Start, chọn Run và gõ Regedit vào hộp thoại. Tiếp theo tại cửa sổ Registry Editor, bạn chon File -> Export
và xuất ra một file dạng .reg, file này chứa các giá trị ban đầu, có thể dùng để khôi phục giá trị của
Registry trong trường hợp registry bị lỗi.
9#:;-5<(%;=6>#Disk Cache là nơi lưu trữ dữ liệu ẩn của bộ nhớ,
mà những dữ liệu được lưu trữ trong này có thể nhanh chóng truy cập đến. Để tăng tốc độ máy tính, bạn
có thể tăng dung lượng lưu trữ của Cache để có thể nhanh chóng sử dụng. Cách tiến hành như sau.
1. Đầu tiên hãy xem thử bộ nhớ của máy bạn là bao nhiêu bằng cách click chuột phải vào biểu tượng My
Computer chọn Properties. Tại đây bạn có thể xem bộ nhớ RAM của máy bạn là bao nhiêu (ví dụ 512
MB of RAM)
2. Sau khi đã xác định dung lượng của bộ nhớ, bạn nhấn Start, chọn Run và gõ Regedit vào hộp thoại.
Tiếp theo, bạn tìm đến khóa HKEY_LOCAL_MACHINE/SYSTEM / CurrentControlSet / Control /
SessionManager / Memory / Management / IoPageLockLimit
3. Click đôi vào key IoPageLockLimit và điều giá trị thích hợp vào với giá trị tương ứng với bộ nhớ
RAM, cụ thể như sau :
- 64 MB RAM : 1000
- 128 MB RAM : 4000
- 256 MB RAM : 10000
- Từ 512 MB RAM trở lên : 40000
4. Cuối cùng khởi động lại máy để thiết lập có tác dụng.
Lưu ý: Trước khi sử lại giá trị tương ứng với bộ nhớ RAM, bạn phải ghi lại giá trị ban đầu của key
IoPageLockLimit. Sau khi thay đổi và khởi động lại máy, nếu máy tính của bạn hoạt động không bình
xuất hiện trở lại những thông báo thì thiết lập là 1.
4. Cuối cùng khởi động lại máy tính để những thiết lập có tác dụng.
(Còn tiếp)
Chỉnh sửa registry cho Windows XP (II)
>LM23&0()5-06NO0#:0N
.36(PQ0RNO0()ST.0/%A!.0
.36#
UUChỉnh sửa registry cho Windows XP (I)
V#:,'<.WO0X Thông thường, những thư mục đặc biệt trên máy tính
của bạn, như My Documents, My Picture… thường mặc định nằm trên ổ đĩa hệ thống. Điều này sẽ vô
cùng bất tiện nếu như đến một lúc nào đó, bạn không thể khởi động máy tính của mình và buộc phải
format lại ổ đĩa hệ thống và cài lại Windows.
Để an toàn hơn, bạn có thể di chuyển những thư mục đặc biệt này sang một phân vùng ổ cứng khác. Bạn
có thể thay đổi vị trí mặc định của các thư mục đặc biệt như: My Documents, Favourites, Desktop, My
Pictures, My Music… bằng cách can thiệp vào Registry. Điều này sẽ giúp bạn dễ dàng quản lý và lưu trữ
dữ liệu trên thư mục đặc biệt này.
Để thực hiện điều này, bạn làm theo các bước sau:
- Đầu tiên, click Start, chọn run và điền regedit vào hộp thoại.
- Tại cửa sổ Registry Editor, bạn tìm đến theo đường dẫn :
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\User Shell Folders
- Tại đây, ở cửa sổ bên phải, bạn sẽ thấy tên các thư mục đặc biệ và vị trí của nó trên đĩa cứng. Nếu bạn
muốn thay đổi vị trí của một thư mục nào, click đôi vào thư mục đó và đánh lại đường dẫn cho nó.(Ví dụ:
D:\My Documents)
- Cuối cùng, chỉ cần đóng cửa sổ Registry Editor và khởi động lại máy để thiết lập có tác dụng.
Bây giờ, những thư mục quan trọng của bạn đã được an toàn cho dù bạn có phải format phân vùng hệ
thống để cài lại Windows đi chăng nữa.
Y#>1'Z&-Máy tính của bạn có nhiều người sử dụng, và bạn lo sợ rằng một người
trong số đó sẽ vô tình xóa đi 1 file hệ thống làm ảnh hưởng đến cả hệ thống của máy tính ? Các bảo vệ tốt
nhất đó là … dấu đi cả phân vùng hệ thống.
Thông thường, khi cài đặt, Windows sẽ được cài đặt trên 1 phân vùng ổ cứng, gọi là phân vùng hệ thống.
với chiếc CD đó, hoặc nếu đó là chiếc CD chứa nội dung phim hoặc nhạc thì các chương trình chơi nhạc
và phim sẽ tự động kích hoat… Đôi khi điều này thật là bất tiện nếu như bạn chỉ muốn bỏ chiếc đĩa vào
để làm việc khác chứ không phải để coi phim và nghe nhạc.
Nếu như bạn không muốn hệ thống thông báo với mình điều đó nữa mà sẽ tự mình quyết định sẽ nên làm
gì thì bạn có thể chỉnh lại tính năng Auto Run của CD ROM.
Thực hiện theo các bước sau:
- Đầu tiên, click Start, chọn Run và điền Regedit vào hộp thoại.
- Tiếp theo, tìm đến theo khóa :
HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\CDRom
- Tại đây, ở cửa sổ bên phải, bạn sẽ thấy khóa Autorun, hoặc nếu không thấy, bạn có thể click chuột phải
lên một vùng trống ở cửa sổ bên phải và chọn New -> DWORD và đặt tên khóa mới là Autorun.
- Click đôi vào khóa Autorun và thiết lập lại giá trị của nó : giá trị 0 nghĩa là gỡ bỏ chức năng Autorun của
CDROM và 1 nghĩa là sẽ kích hoạt chức năng này.
- Cuối cùng, đóng cửa sổ Registry Editor và khởi động laị máy tính.
Bây giờ, mỗi khi bỏ đĩa vào khay đĩa, mọi quyền quyết định sẽ do bạn lựa chọn, không phải do hệ thống
quyết định giúp bạn nữa.
Quay phim màn hình với CamStudio 2.0
$)ST.3 4*+E&50N<!F
(.3a0RO0TP6*6;'Pb#I0() c)(%RTR
!a>A0 !SQdL()E&'&*#
CamStudio là chương trình miễn phí cho phép bạn ghi lại toàn bộ hoạt động đang diễn ra trên màn hình
của mình và xuất ra thành một đoạn phim. Với nó, bạn có thể ghi lại toàn bộ hoạt động trên toàn màn
hình, hay trong từng khu vực mà bạn lựa chọn với những kích cỡ khác nhau. Với CamStudio, bạn vừa có
thể ghi lại toàn bộ màn hình, lại vừa có thể ghi âm chèn vào đoạn phim được ghi. Bài viết sau đây sẽ
hướng dẫn bạn cách thức thao tác với CamStudio.
Đầu tiên bạn download chương trình tại 1.
Sau khi cài đặt chương trình thành công, bạn kích hoạt chương trình. Giao diện chính của chương trình sẽ
được mở ra, trông khá giống với các chương trình Media Player.
(Pic 1)
Giao diện chính của chương trình bao gồm một hàng các nút.
theo mục đích mà bạn có thể thiết lập độ rộng khung hình. Tương tự như tùy chọn Region ở trên, bạn
cũng có thể kéo chuột để khoanh vùng khu vực ghi hình bằng cách click vào nút Select ở cửa sổ Fixed
Region. Sau khi đã khoanh được khu vực cần ghi hình, bạn click Ok để đóng cửa sổ Fixed Region và bấm
nút Record để bắt đầu quay.
- Full Screen : Với tùy chọn này, chương trình sẽ tự động quay laị toàn bộ những hoạt động trên màn hình
của bạn mà không cần phải khoanh vùng hay lựa chọn bất kỳ một khu vực nào. Công việc của bạn chỉ là
nhấn nút Record để chương trình bắt đầu ghi hình.
eZX<.R
Sau khi đã thiết lập kích thước cần thiết để ghi hình, bạn cần chú y’ thêm một số điều để chất lượng của
hình ảnh trong file video được tốt. Tại giao diện chính của chương trình, bạn click nút Options để hiển thị
ra danh sách các tùy chọn.
Sau đây là một số tùy chọn cần quan tâm:
- Video Options : Tùy chọn này sẽ giúp bạn thiết lập những thông tin liên quan đến chất lượng của hình
ảnh. Sau khi click vào tùy chọn này, cửa sổ Video Options sẽ được hiển thị. Tại đây bạn chỉ cần lưu tâm
đến 2 vấn đề :
+ Quality : Chất lượng của hình ảnh lúc quay. Nếu bạn chỉnh quality càng cao đồng nghĩa với chất lượng
hình ảnh càng đẹp, tuy nhiên điều này cũng sẽ khiến cho dung lượng của file video lúc xuất ra cũng sẽ rất
lớn. Do đó bạn chỉ nên chọn quality chừng 70 – 75.
+ Framerate : Đây chính là tốc độ quay của chương trình. Tại đây có tùy chọn Auto Ajust, bạn nên để yên
tùy chọn này và kéo thanh trượt về mức Max Framerate sẽ giúp cho hình ảnh quay được trông mượt hơn.
- Cursor Options : Trong quá trình quay, nếu bạn muốn hiển thị hay dấu đi con trỏ chuột thì có thể thiết
lập ở tùy chọn này. Sau khi chọn tùy chọn này, cửa sổ Cursor Options sẽ được hiển thị.
+ Nếu bạn muốn dấu con trỏ chuột trong quá trình ghi hình, bạn đánh dấu vào tùy chọn Hide Cusor.
Ngược lại, ở tùy chọn Show Cursor có 3 tùy chọn khác nhau. Nếu bạn muốn hiển thị con trỏ chuột hiện
thời trong quá trình ghi hình, bạn đánh dấu vào tùy chọn Use Actual Cusor. Nếu bạn muốn sử dụng 1 con
trỏ khác do chương trình cung cấp thì đánh dấu vào tùy chọn Use Custom Cursor và chọn 1 biểu tượng
con trỏ trong danh sách các con trỏ chuột của chương trình. Ngựoc lại, nếu bạn muốn sử dụng 1 biểu
tượng con trỏ khác trong số các con trỏ mà bạn chứa trong máy tính của mình, thì bạn chọn Use Cursor
from file và click vào Browse để chọn đến biểu tượng con trỏ muốn sử dụng.
- Trong trường hợp bạn muốn ghi lại âm thanh trong quá trình ghi hình thì máy tính của bạn phải trang bị
dung lượng trống trên Flash USB để sử dụng như một bộ nhớ RAM, giúp tăng thêm tốc độ của hệ thống.
Bạn có thể xem thêm về tính năng này của Windows Vista tại đây.
Tuy nhiên, trong trường hợp máy tính của bạn không sử dụng Windows Vista mà đang sử dụng Windows
XP hoặc các phiên bản khác trước đó, thì tính năng này lại chưa được xuất hiện. Đó là quả thực là một
điều đáng tiếc.
Trong quá trình hoạt động, hệ thống và các chương trình sẽ lưu những dữ liệu liên quan (các cache file)
lên bộ nhớ RAM, để từ đó truy xuất vào các file này để sử dụng. Do đó, dung lượng bộ nhớ RAM càng
lớn đồng nghĩa với việc bạn có thể sử dụng cùng lúc nhiều chương trình hơn và tốc độ của hệ thống sẽ
nhanh hơn.
Ngày nay, khi mà dung lượng của các thiết bị lưu trữ dữ liệu như thẻ nhớ và Flash USB ngày càng tăng và
giá thành ngày càng giảm, thì việc sở hữu một chiếc USB có dung lượng lớn là một việc đơn giản, việc
này đơn giản hơn là bạn phải sắm cho mình những thanh RAM mới. Vậy nếu như bạn có 1 Flash USB với
dung lượng lớn, nhưng máy tính lại không sử dụng Windows Vista thì cũng không thể nào khai thác chiếc
USB đó vào vai trò một bộ nhớ ảo thông qua tính năng ReadyBoost. Vậy thì hãy thử sử dụng eBoostr 1.1
eBoost là một chương trình khá nhỏ gọn, sẽ sử dụng dung lượng trống trên chiếc USB của bạn và biến nó
thành một bộ nhớ đệm để lưu trữ các cache file của chương trình và hệ thống. Do đó, USB lúc này sẽ có
vai trò tương tự như một bộ nhớ RAM, giúp cho hệ thống được cải thiện tốc độ một cách đáng kể. Về cơ
bản, thì eBoost hoạt động tương tự như tính năng ReadyBoost trên Windows Vista.
Đầu tiên, bạn download bản dùng thử của chương trình tại đây.
Sau khi download và cài đặt chương trình thành công, bạn cần phải khởi động lại hệ thống để có thể sử
dụng chương trình.
Nếu đây là lần đầu tiên sử dụng chương trình thì sau khi hệ thống hoàn thành quá trình khởi động, bạn sẽ
nhận được 1 thông báo yêu cầu cắm USB vào máy tính. Sau khi cắm USB vào máy tính, bạn nhấn nút
Yes trên hộp thoại để chương trình bắt đầu sử dụng USB làm bộ nhớ đệm, lưu trữ các cache file.
Sau khi bạn nhấn Yes ở hộp thoại đầu tiên, cửa sổ Add cache Device sẽ được hiện ra để bạn chọn thiết bị
USB và dung lượng trống trên USB đó để sử dụng làm bộ nhớ đệm. Bạn có thể sử dụng hết toàn bộ dung
lượng trống trên USB, hoặc tự thiết lập dung lượng dùng để sử dụng. Tốt nhất bạn nên sử dụng toàn bộ
dung lượng trống của USB để sử dụng, điều này sẽ giúp cho hệ thống được cải thiện tốc độ nhiều hơn.
(Dung lượng trống tối thiểu trên USB của bạn phải là 64MB)
Sau khi đã chọn thiết bị và dung lượng trống cần thiết để sử dụng trong việc lưu các cache file, bạn nhấn
hệ thống, tại cửa sổ của giao diện chính, bạn phải click vào File và chọn Minimize to Tray. Điều này xem
chừng là khá bất tiện và mất thời gian thay vì thiết kế một nút bấm để thu nhỏ chương trình.
Tóm lại, eBoostr là giải pháp khá thích hợp dành cho những máy tính có cấu hình yếu nhưng chủ nhân lại
chưa đủ điều kiện để nâng cấp thiết bị cho nó. Hy vọng với eBoost, các bạn sẽ cải thiện được tốc độ trên
máy tính của mình mà không cần phải tốn tiền sắm thêm những thanh RAM mới.
Các cách đơn giản để phòng tránh virus lây qua USB
0()(_*O0(PL05(PT05'!(+0.j,kA$(_
)E5lG0!0m!+n'0Mo###Rd6M(c'01N
(,M#
V#>!+on'0Mo
Trước khi cắm ổ USB bất kỳ vào máy, bạn hãy mở Windows Explorer. Ở menu Tools > tìm dòng Folder
Options. Nếu không có mục này thì nghĩa là máy của bạn đang hoặc từng bị virus và bạn cần dùng những
chương trình diệt virus mới nhất để diệt cho sạch sẽ, và áp dụng các giải pháp khắc phục tác hại của virus
lây qua USB.
Trong hộp thoại Folder Options vừa mở ra, bạn nhấn vào tab View, tìm các dòng sau và bấm/ huỷ bấm
dấu kiểm của những dòng tương ứng:
Show hidden files and folders (bấm chọn nút radio)
Bỏ dấu kiểm Hide extensions for know file types
Bỏ dấu kiểm Hide protected operating system files (Recommended)
Mục đích của thao tác này là để hiển thị virus cố tình giấu mặt trong ổ USB bằng cách tự đặt cho nó thuộc
tính "ẩn" (Hidden và System), và hiển thị những virus giả danh (có biểu tượng giống file word hay giống