NGHĨ VỀ ĐẠO HỌC TRÊN MỘT MIỀN QUÊ !
Biết - hiểu về mảnh đất, con người, truyền thống giáo dục Thanh Chương - nhất
là Thanh Chương “xưa” phải là các tiền bối,(1) “bậc thứ” đến các thầy giáo lão thành,
các bậc cha anh tài hoa, uyên bác..(2). Tôi thuộc bậc con cháu, là học trò trong hiểu biết
về quê hương. Nghĩ về đạo học trên một miền quê chỉ xin các bậc “tiên chỉ”, cùng bạn
đọc rộng lượng cho thế hệ học trò được một lần thổ lộ những suy ngẫm về Truyền
thống đạo học xưa và nay trên mảnh đất Thanh Chương.
*
Học ở quê mình - không biết tự bao giờ - đã thành một khát vọng, một niềm tin -
niềm tin xác tín. Yêu sự học, say mê học đã thành một nét cốt cách thấm sâu vào cõi
tâm thức của người dân. Lớn lên với những nếm trải ngọt bùi, qua gia phả các dòng họ,
qua chuyện kể, sách báo… đã lắng đọng trong thế hệ chúng tôi chiêm nghiệm: Học ở
quê mình là lựa chọn số một. Yêu sự học, khổ học, quyết chí học…đã hình thành, bồi
đắp từ thủơ Xưa khai rừng mở đất đến Nay… Thiết tưởng, đó là đạo học
Không có truyền thống nào - nhất là truyền thống đã thấm sâu như đạo học quê
mình - là không có căn nguyên. Đã có không ít cách nhìn về giải đất Thanh Chương với
hình sông thế núi, một dòng Lam chia hai bờ tả, hữu ngạn; phía Tây dựa lưng vào
Trường Sơn hùng vĩ, Đông nhìn về Nghi Lộc, Yên Thành…Nhưng để lại trong tôi ấn
tượng sâu sắc là một cái nhìn đạo học. Dải đất Thanh Chương là một cuốn sách mở, tả
ngạn, hữu ngạn là hai trang đối xứng, dòng sông Lam chảy từ thượng xuyên suốt hạ
huyện là gáy sách, là dải lụa mềm đánh dấu trang sách đang đọc; giữa dãy Đại Can, là
ngọn Tháp Bút lấy nguồn mực từ dòng Lam đời đời tuôn chảy! Tháp Bút – bút của đất
trời - ngàn đời vẫn sừng sững, mực dòng Lam không bao giờ ngưng chảy…Đạo học quê
mình chảy mãi với thời gian ! Đó là địa linh – là tâm linh!
Về di chỉ, cội nguồn của mảnh đất Thanh Chương, các bác Bùi Ngọc Tam, Phạm
Đình Nguyên (trong Đất và Người Thanh Chương), Bùi Văn Chất, Nguyễn Phương
Thoan ( trong Với quê hương)… đã thể hiện khá tường tận (dẫu vẫn chưa đến hồi kết).
Chúng tôi muốn tìm “căn nguyên” từ nguồn “nhân kiệt”.
sĩ…Thanh Chương thật đỗi tự hào có “Văn miếu”, bia đá hàng xã, hàng tổng. Còn đây
bia đá hàng xã ở Thanh An; còn đây văn miếu – bia đá ở đình Võ Liệt. Đình Võ Liệt –
nơi sinh hoạt của hàng tổng – còn lưu giữ 6 tấm bia: tấm thứ nhất: Đại khoa; tấm thứ 2:
Lê triều Hương cống; tấm thứ 3: Cử nhân triều Nguyễn; ba tấm còn lại: nho sinh thời Lê
và Tú tài thời Nguyễn. Thật đáng tự hào nền giáo dục Thanh Chương khi đã có và còn
lưu giữ nguyên vẹn 3 tấm “Cát Ngạn tổng văn chỉ bi” ở Thanh Liên. Ba tấm bia được
điêu khắc tinh vi, đến nay vẫn còn tươi nét chữ.(5)
Đó là sự tôn vinh thật đáng tự hào, thật đáng trân trọng.
Thiết nghĩ, chụp ảnh, dịch, giới thiệu, sao chép mô hình các Văn bia trên - nhất là
Văn bia hàng tổng để trình bày tại Bảo tàng, Nhà Văn hoá huyện…là những việc cần,
nên làm. Còn nữa, song song với Nghĩa trang Liệt sĩ, các dòng họ, các xã, cấp huyện,
các trường học cần xây dựng những “Bảng vàng, bia đá” ghi danh, ghi công trạng
những trí thức, những nhà khoa học hàng đầu của dòng họ, của làng xã, của huyện nhà
chắc sẽ gây ấn tượng hơn nhiều.
*
Một dải đất nghèo, thời Hán học đã đóng góp 25(6) vị Đại khoa trong số hơn
150 vị Đại khoa trong toàn tỉnh, là một con số thật đáng tự hào. Từ nền giáo dục Hán
học, chuyển sang giáo dục “Tây học” là một bước ngoặt lớn của dân tộc, của thế hệ trí
thức trên dải đất Thanh Chương. Tìm hiểu về sự trưởng thành, vị trí, công lao của lớp trí
thức “Tây học” trên toàn quốc, của huyện nhà, thế hệ chúng tôi càng tự hào, vững tin ở
sức mạnh của tri thức, của tình yêu quê hương Đất nước của đội ngũ trí thức quê mình.
Phải chăng ánh sáng của tri thức, tình yêu quê hương đất nước đã cộng hưởng thành sức
mạnh để đưa những trí thức dẫu đào tạo trong trường “Tây”, học chữ “Tây”,…vẫn trở
thành các chiến sĩ cách mạng, trở thành các nhà khoa học đặt những viên gạch đầu tiên
cho nền giáo dục cách mạng trên đất Thanh Chương. Quê hương, ngành giáo dục Thanh
Chương, thế hệ trí thức trẻ hôm nay có quyền tự hào về những tên tuổi: Giáo sư bác sĩ
Hoàng Đình Cầu(7), Giáo sư Đặng Thai Mai(8) Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Thúc Tư;
nhà trí thức, nhà cách mạng Nguyễn Côn, Tôn Quang Phiệt, nhà giáo Phạm Đức Thớc,
nhà giáo Nguyễn Viết Cam, kĩ sư Hoàng Đình Bình, bác sĩ Bùi Thiện Sự, Trần
Văn Nguyên, kĩ sư phạm Ngọc Mai, Võ Quý Huy, Võ Quý Huân…. Đây là những
học vụ: Nguyễn Duân, Nguyễn Đức Tiềm, cụ Trần Trọng Doãn …
*
Được viết bài về giáo dục huyện nhà, tôi và thầy Bằng được Trưởng phòng
Nguyễn Hoài Nam đưa đến thăm một số trường Tiểu học trong huyện (chắc anh muốn
“khơi men” cho ngọn bút). Không phải anh “khoe” mà mắt anh sáng lên đầy tự hào khi
chỉ cho chúng tôi những con số: 43 trường Tiểu học với trên 17 ngàn học sinh. Mỗi xã
đều có một đến hai trường Tiểu học khang trang, bề thế, toạ lạc trên khuôn viên rộng
rãi, thoáng mát (mới biết các xã đều ưu tiên số một về quỹ đất cho giáo dục).
-Thầy Bằng ơi ! Thế trước cách mạng, huyện ta có mấy trường Tiểu học ?
Ai ngờ câu hỏi “tìm hiểu lịch sử” của tôi đã gây xúc động cho thầy!
- Từ câu hỏi của anh, ta mới thấy hết sự trưởng thành của nền giáo dục huyện nhà.
Không phải trả lời, mà thầy Bằng đang tâm sự. Trước cách mạng, toàn huyện vẻn vẹn
chỉ có một trường Tiểu học Pháp-Việt đặt ở Rộ ( học đến Primail) và 3 trường Sơ đẳng
tiểu học: hạ huyện có trường Bích Thị ( Bích Hào), thượng huyện có trường Đạo Ngạn
(Cát Ngạn), trung huyện là trường Đại Định(Đại Đồng). Nói là bốn trường nhưng số
học sinh cũng chỉ khoảng trên dưới 250 em. Đó là “cơ ngơi” Tiểu học huyện nhà thời kì
trước cách mạng. Nhưng đạo học của nhân dân ta lúc này nằm ở trong dân. Trường hạn
chế, nhưng các lớp học của ông đồ, ông Tú, ông Cử thì thực dân Pháp không thể kềm
chế, hầu như làng nào cũng có.
3
Cấp Tiểu học của huyện nhà thực sự “vươn vai Phù đổng” từ sau khi hoà bình
được lập lại trên miền Bắc. Lần đầu tiên, 41 xã trong huyện đều đủ sức mở trường cấp 1
chính quy(9) Cách mạng vừa thành công, dân tộc ta bước ngay vào cuộc kháng chiến
trường kì, gian khổ…Ấy vậy mà quê mình vẫn “đủ sức” để đáp ứng nhu cầu “khát học”
của nhân dân, của trẻ độ tuổi đến trường. Nói “đủ sức” là đủ “thầy” để dạy, đủ chương
trình để học. Chứ phòng học thì chưa. Nhưng, Thanh Chương có cách riêng của mình.
Đình, chùa, nhà thờ họ, nhà dân đều trở thành lớp học. Không phải trò phải đi xa, lặn lội
hôm sớm… mà các thầy, các cô “cuốc bộ”, đội nắng dầm mưa đến từng lớp học. Ngày
ấy, thầy cô là cha, là mẹ, là “thần tượng” thiêng liêng của lớp lớp học trò như thế hệ
chúng tôi. Thầy cô đảm nhiệm tất cả: quản lí, tổ chức, dạy người, dạy chữ, dạy từng nét
sinh thông minh, năng động (“thế hệ học sinh mở đầu” của nền giáo dục cách mạng).
Các thế hệ học sinh trường Đặng ngày ấy, nhiều người trở thành những nhà khoa học
lớn như Giáo sư Viễn sĩ Nguyễn Duy Quý, Giáo sư Trần Đình Huợu, GS-TS Trịnh Bá
Hữu, GC-TS Nguyễn Như Hiền, GS-Viễn sĩ Nguyễn Văn Cường, nhà văn Đặng Văn
Kí, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Nguyên, Nhà giáo hiệu trưởng trường THPT Nguyễn
Sĩ Sách Nguyễn Lâm Hoàng ; Nhà giáo, trưởng phòng Giáo dục Thanh Chương Trần
Đình Hớn, Lê Hữu Thước, …
4
Nhân dân, ngành giáo dục Thanh Chương mãi mãi ghi nhớ công lao, tôn vinh
phẩm chất cao đẹp, nhiệt tâm với trò, với nghề của thầy Nguyễn Thúc Tư- người hiệu
trưởng đầu tiên của “trường Đặng”, của ngành giáo dục huyện nhà. Giá mà trên mảnh
đất “Trường Đặng” xưa có thể dựng được một tấm bia đá, lưu danh thế hệ thầy cô: Thầy
Hiệu trưởng thứ hai Phạm Đức Thớc, thầy Cam, thầy Trợ An, thầy Hạnh, thầy Mại,
thầy Tư Bình, cô Liên, thầy giáo-bác sĩ quân y Đặng Vân Án…Thẩm nghĩ, đây là việc
nên, cần làm.
Đáp ứng nhu cầu của con em trong huyện, kế tiếp “trường Đặng” (vùng hạ
huyện), các trường vùng thượng huyện lần lượt ra đời: Trường Cấp 2 Tam Đồng mở tại
Điếm Nhuận Ốc làng Trung Hoà (nay là Phong Thịnh) do thầy Đoàn Văn Quang làm
Hiệu trưởng, kiêm dạy các môn tự nhiên; thầy Nguyễn Phương Châu dạy Pháp văn và
các môn xã hội; cùng đội ngũ các thầy Nguyễn Thúc Bá, Nguyễn Xuân Khôi (quê Nam
Đàn) Hoàng Đình Chung…( Các anh Trần Văn Phỉ, Trần Văn Bỉnh, Bùi Văn Chất…
đều trưởng thành từ mái trường này.)
Trường Cấp 2 tư thục Thanh Bình (ở Thanh Bình, cạnh đò Gành cũ) do thầy
Nguyễn Tài Đại làm Hiệu trưởng, mở từ 1951 - 1952 cho học sinh vùng tổng Cát Ngạn;
trường đủ các khối lớp 5, 6, 7. Sáu mươi năm trôi qua, nhưng hầu như bụi mù thời gian
không hề làm mờ đi kí ức những ngày xưa ấy ở “trường Đặng”, trường Tam Đồng.
Thầy Bằng, thầy Phỉ, thầy Hớn…vẫn nhớ như in những buổi học ban đêm, vẫn nhớ
nhiệm vụ của người trực nhật lớp ngày ấy là “Bảng đen, đèn sáng”. Quên là sao được
những chiếc “đèn bu”(10) thắp bằng dầu lạc, dầu trẩu. Đó là một thời “không thể nào
quên” của giáo dục huyện nhà.