Ứng xử với môi trường tự nhiên - Pdf 71

Câu 3:
Con người sống trong mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên, cho nên trong việc ứng xử với môi trường tự nhiên có thể
xảy ra hai khả năng: tận dụng và ứng phó môi trường tự nhiên. Việc tận dụng hình thành nên lĩnh vực văn hóa ẩm
thực (ăn), việc ứng phó hình thành nên lĩnh vực văn hóa vật chất (mặc, ở và đi lại).
Đối với bất kỳ một nền văn hóa nào, thời đại nào thì ăn uống luôn là một vấn đề hệ trọng hàng đầu. Đó là điều kiện
đầu tiên để sinh tồn. Tuy nhiên quan niệm về ăn uống, cách thức ăn uống lại mang đặc trưng riêng của mỗi vùng
miền, quốc gia, dân tộc,
Đối vời người Việt cũng vậy,Ăn uống được xem là công việc quan trọng: “có thực mới vực được đạo”, “trời đánh
tránh bữa ăn”. Mọi hành động của người Việt đều lấy ăn làm đầu.
Cho nên chúng ta cũng không ngạc nhiên đối với ngôn ngữ thường nhật về ăn, chữ ăn gần như gắn liền với mọi
động tác, ý thức phán đoàn giá trị đạo đức của người Việt. từ sinh (ăn nằm, ăn đẻ) tới cuộc sống (ăn nói, ăn học, ăn
nằm, ăn ở…), từ sống tới lạc thú (ăn chơi, ăn mặc), từ tôn giáo (ăn thờ) tới đạo đức (ăn năn) đều gắn chặt với “ăn”.
Chữ “ăn” đã gắn chặt với đời sống vật chất cũng như tinh thần của người Việt ta, họ coi ăn uống như một đạo sống,
một quy luật sống;”ăn cây nào rào cây ấy’’,”ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, \uống nước nhớ nguồn”.và thể hiện tâm tư
tình cảm, sự đánh giá của mình qua chữ “ăn”:”ăn miếng trả miếng”,”ăn ngay nói thẳng”,’ăn cháo đá bát”,”ăn ở vô
phép tắc:,”ăn gian nói dối”, “ăn không ngồi rối”…..ngoài ra tính thời gian cũng lấy ăn uống làm đơn vị:nhanh thì
gọi là “giập bã trầu”(nhai giập bã trầu mới tới),lâu hơn một chút thì là “chín nồi cơm”, còn kéo dài hàng năm
là”hai,ba mùa lúa”…Bên cạnh đó mọi giá trị vật chất trao đổi hàng hóa cũng được tính bằng lương thực ví dụ như
vào thời PK và bao cấp việ trả lương đa số được trả bằng thực phẩm, như thầy đồ dậy học…
ta thấy ăn uống là một phần trọng không thể tách rời khỏi đời sống Việt. Tầm quan trọng, cũng như tầm ảnh hưởng
rộng lớn của sinh hoạt ăn uống từng được người dân công nhận như chính cuộc sống. Chính vì thế mà từ ăn không
chỉ hành động ăn, từ uống không chỉ biểu tả tác động uống, mà Chúng nói lên mọi sinh hoạt của con người Việt,
mọi phán đoán đạo đức, cũng như tâm tình, cách sống của họ.
Vì nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều,3/4 diện tích là đồi núi và hệ thống sông
ngòi, kênh rạch chằng chịt tạo điều thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản.
món ăn thức uống của người Việt vì thề mà cũng chủ yếu là lấy từ sản phẩm nông nhiệp là chính thức ăn, thức
uống đều được chế biến từ tự nhiên. đặc biệt là lúa gạo chính ví thế mà người Vn chủ yếu là ăn cơm, dù ăn gì người
Việt cũng lấy cơm lót dạ.
Trong cơ cấu bữa ăn truyền thống của người Việt, có 3 thành phần chính là cơm - rau – cá. Cơm được làm từ gạo,
gạo đứng vị trí đầu tiên trong cơ cấu bữa ăn: “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, bữa ăn của người Việt gọi là
bữa cơm. Người Việt trồng cả hai loại lúa: nếp và tẻ. Cây lúa tẻ là loại cây trồng chính nên gạo tẻ được dùng trong

Ngoài chè ra, rượu cũng là một thức uống không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt. Rượu được làm từ gạo nếp, có
nhiều loại rượu: rượu đế, rượu mùi, rượu thuốc... Uống rượu là một nét văn hóa.
Hút thuốc cũng là một nét văn hóa truyền thống của người Việt.Hút thuốc ở đây không phải là hút thuốc lá như
ngày nay, mà đó là tục ăn trầu, hút thuốc lào. Hút thuốc lào,ăn trầu cau lúc đầu là để đối phó với sơn lam chứng
khí,để bảo vệ sức khỏe, về sau trở thành nghi thức giao tiếp xã hội.Miếng trầu, điếu thuốc còn là biểu hiện của tình
cảm,niềm vui, lòng hiếu khách “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Trầu cau là tính hiệu của tình yêu, là biểu tượng
của nghi lễ: hỏi, cưới, cúng giỗ… tiêu biểu cho sự bền vững của hạnh phúc lứa đôi.
Qua những gì phác họa ở trên, chúng ta đã phần nào hiểu được lĩnh vực văn hóa ẩm thực của người Việt. Qua đó,
chúng ta cũng nhận thấy được đặc điểm của lĩnh vực văn hóa này:
Thứ nhất, đó là tính tổng hợp. Trong chế biến thức ăn, tổng hợp nhiều loại thức ăn, gia vị... Chế biến đảm bảo cơ
cấu đủ ngũ chất: bột – nước – khoáng – đạm – béo, đủ ngũ vị: chua – cay – ngọt – mặn – đắng; đủ ngũ sắc: trắng –
xanh – vàng – đỏ - đen. Nước chấm cũng mang tính tổng hợp rất đặc biệt nước mắm với vị mặn đậm đà được kết
hợp với vị cay của gừng, ớt, tiêu, vị chua của chanh, giấm, vị ngọt của đường... Trong cách ăn, tính tổng hợp được
biểu hiện qua việc ăn nhiều món trong bữa ăn. Người Việt ăn uống nhiều món cùng một lúc, đó cũng là biểu hiện
của tính tổng hợp, khác với phương Tây, thường ăn hết món này mới đến món khác. Cách ăn của người Việt còn
tổng hợp cái ngon của nhiều yếu tố: thời tiết, chỗ ăn, bè bạn, người thân, không khí bữa ăn...
Thứ hai là tính cộng đồng, mực thước. Biểu hiện của tính cộng dồng là việc ăn chung, uống chung, “một miếng
giữa làng bằng một sàng xó bếp”. Trong khi ăn thích trò chuyện cùng nhau... Nồi cơm và chén nước mắm là hai
biểu tượng của tính cộng đồng trong bữa ăn (cũng giống như sân đình, bến nước là biểu tượng cho tính cộng đồng
nơi làng xã). Người Việt ăn cơm chung cùng một nòi cơm, chấm chung chén nước mắm. Biểu hiện của tính mực
thước ở chỗ tôn trọng khách “tiên khách hậu chủ”, “ăn coi nồi, ngồi coi hướng”; ăn uống tế nhị: không nhanh,
không chậm, kính trên, nhường dưới.... Đơm cơm không đơm quá đầy (dễ rơi vãi, không để thức ăn được) hay đơm
quá ít (mau hết phải đơm nhiều lần sẽ gây tâm lý ngại ngùng); chấm nước mắm phải gọn gàng, sạch sẽ không để
rớt...
Thứ ba là tính linh hoạt và biện chứng. Tính linh hoạt thể hiện trong cách ăn, trong dụng cụ đựng thức ăn: đôi đũa
là sự kéo dài của đôi tay, lấy vật liệu từ tre, cây, có thể gắp, xé, xẻ, dầm, khoắng, trộn...đôi đũa có thể thay thế cả
một bộ đồ ăn phương tây.Đối với người Việt đôi đũa trong bữa ăn chiếm vị trí quan trọng có câu “vợ dại không
bằng đũa vênh”cho ta thấy được tầm quan trọng của nó,khi đang ăn mà có một chiếc đũa gãy thì họ cho đó là điềm
xui.Tính biện chứng được thể hiện trong sự quân bình âm – dương trong cơ thể, sử dụng thức ăn như những vị
thuốc. Ví dụ: đau bụng nhiệt (dương) thì ăn những thứ hàn (âm): chè đậu đen, trứng gà, lá mơ... Đau bụng hàn thì

để xây nhà thì lấy những thứ có sẵn trong tự nhiên như tre, gỗ( sà ngang, sà dọc), rơm(sp còn lại của ngành nông
nghiệp trồng lúa) trộn bùn,tranh,đất sét(dùng để đúc gạch)…Người VN ta quan niệm làm nhà thì phải là “nhà cao
cửa rộng”thứ nhất là để tạo không gian thoáng mát cái thứ hai là để giao hòa với tự nhiên.về cao thì mái cao so với
nền, sần để tạo không gian rộng, thoáng mát đề ứng phó với nắng nóng,để thoát nước mưa nhanh chống dột, hư mái
sàn, nền coa so cới mặt đất để ứng phó với lụt lội,ẩm ướt, côn trùng. Cửa không cao để tránh nắng chiều , mưa
hắt.cửa rộng để đòn gió mát,thoáng khí.Ngoài ra khi làm nhà người việt còn quan tâm đến nhiều yếu tố như: phong
thủy,cấu trúc nhà ở,tùy theo quan miệm và điều kiện tự nhiên mà họ dựng nhà sao cho phù hợp.
Di lại cũng là một cánh để ứng phó với môi trường tự nhiên, như đã nói ở trên bản chất đời sống của người Việt là
nông nghiệp cho nên ít có nhu cầu để di chuyển có đi thì cũng chỉ đi quanh quẩn trong làng,từ nhà ra đồng hơn nữa
giao thông đường bộ cũng kém phát triển, phương tiện đi lại chủ yếu là đôi chân,sức người,bằng cáng, võng…và
tận dụng sức kéo của gia súc để đi lại( ngựa, trâu, voi..).
Do VN có hệ thồng sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và có bờ biển kéo dài nên giao thông đường sông, biển phát
triển từ rất sớm và trở nên phổ biến,phương tiện giao thông đường thủy trở nên rất phong phú: thuyền,ghe, xuồng,
đò, bè, mảng ,phà, tàu…VN trở thành một trong những nước biết làm cẩu phao và cầu thuyền sớm nhất.từ những
đk tư nhiên này ta thấy rất thuận lợi cho việc phát triển các tp cảng.do đời sống người Việt gắn với sông nước nên
song nước có một ảnh hưởng đặc biệt đối với con người Việt nam mọi sinh hoạt đều lấy con thuyền và sông nước
làm chuẩn mực”sông sâu còn có kẻ dò,lòng người thâm hiểm ai đo cho trường”.sông nước, thuyền cũng trở thành
ngôn ngữ thường nhật của người Việt: quá giang,lăn lội tìm nó…
Nước ta trải dài ở nhiều vĩ độ,điều kiện tự nhiên,thời tiết phức tạp, vì vậy,mà mỗi vùng có một cách tận dụng và
ứng phó với thiên nhiên điều kiện tự nhiên khác nhau,và mọi mặt đời sống thường nhật, tính cách con người, văn
hóa, tri thức... đều được phản ánh qua việc tận dụng và ứng phó đó(chuyện ăn uống,mặc, ở và việc đi lại.).
Câu 2:
Tản Viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội; Thánh Gióng biểu hiện cho tinh thần chống giặc
ngoại xâm; Chử Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất; Liễu Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn
vinh về tinh thần của người dân Việt Nam.
Tứ bất tử bao gồm:sơn tinh, thánh gióng, Chữ Đồng Tử và Công Chúa Liễu Hạnh. Bốn vị thần này đều gằn liền với
nhưng khát vọng và mong muốn của gười dân Việt Nam.
Đứng đầu trong tứ bất tử là Sơn Tinh(Tản Viên Sơn Thần) gắn với truyền thuyết Sơn Tinh thủy Tinh.thủy tinh
không cưới được Mị Nương đem lòng ghen tức vì vậy mà mỗi năm vào tháng 7,8 dâng nước lên đánh sơn Tinh để
đòi lại Mị Nương, gây ra lũ lụt trong nhân gian, để giúp dân và ngăn không cho thủy Tinh bắt Mị Nương, Sơn Tinh

được tầm quan trọng của nó trong cuộc sống và biết sử dụng nó như một nghề để làm giàu. Chử Đồng Tử và Tiên
Dung đã mở ra một hướng mới cho sự phát triển dân tộc, tạo nên sự giao lưu giữa dân tộc, tạo nên sự giao lưu giữa
dân tộc và cộng đồng bên ngoài.
Công chúa Liễu Hạnh tượng trưng cho khát vọng về lứa đôi hạnh phúc, tự do trong tình yêu vaa2 hôn nhân. Đây là
một khát vọng rất tiến bộ, trong chế độ phong kiến chuyện hôn nhân là chuyện của gia tộc chứ ko phải chuyện cua
2 người yêu nhau, hơn nữa người phụ nữ trong chế độ đó phải”tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
chứ hoàn toàn ko hề dc lấy người mình yêu, hay bỏ nhà để đi theo người mình yêu. Qua đây là sự khẳng định quyền
sống của con người, khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ nữ muốn thoát khỏi sự rằng buộc của xã hội, của lễ giáo
phong kiến, khát vọng vươn tới đạt được những ước vọng của hạnh phúc gia đình.
Tóm lại
Tản Viên (với truyền thuyết "Sơn Tinh Thủy Tinh") và Thánh Gióng (với truyền thuyết "'Thánh Gióng") là biểu tượng cho sức
mạnh đoàn kết của một cộng đồng nông nghiệp phải liên kết chặt chẽ với nhau để, một mặt, đối phó với môi trường tự nhiên
là chống lụt và, mặtkhác, đối phó với môi trường xã hội là chống giặc ngoại xâm. Sự phối hợp thần thánh ấy đã dựng nên Đất
nước
Có đất nước rồi, người Việt Nam không có mơ ước gì hơn là xây dựng một cuộc sống phồn vinh về vật chất và hạnh phúc về
tinh thần. Chử Đồng Tử - người nông dân nghèo khổ, với hai bàn tay trắng, đã cùng vợ gây dựng nên phố xá sầm uất - chính
là hiểu tượng cho ước mơ thứ nhất. Liễu Hạnh - là công chúa con Trời, ba lần từ bỏ cuộc sống đầy đủ trên Thiên Đàng, xin
xuống trần gian để sống một cuộc đời bình dị với khát vọng tự do, hạnh phúc - chính là hiểu tượng cho ước vọng thứ hai. Hai
ước vọng thiêng liêng ấy đã tạo nên Con Người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status