Nghiên cứu quy trình lên men kết hợp để sản xuất bào tử nấm Metarhizium và khả năng diệt mối của bào tử nấm qua lây nhiễm - Pdf 72

Phần I
Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Mối (isoptera) là loài côn trùng có phạm vi phân bố rộng, a nhiệt chúng sống
ở vùng có điều kiện khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng sống trong thân đê,
thân đập, trong rừng, đồi, các thân cây gỗ, đồ dùng bằng gỗ..., khác với nhiều loại
côn trùng đơn sinh mỗi tổ mối là một đơn vị sống hoặc đợc coi là một xã hội
riêng biệt, trong mỗi tổ mối tuỳ theo từng loài có từ vài trăm đến chục triệu con,
chúng sinh sản rất nhanh và có phạm vi phân bố rộng. Trên thế giới đã giám định đợc
trên 2700 loài, ở nớc ta đã giám định đợc 106 loài. Thức ăn chủ yếu của mối là
xenllulo cho nên ngời ta đã khám phá đợc vai trò của mối nh nó giúp cho sự phân
huỷ thảm thực vật nhanh chóng, chúng góp phần cải tạo tính chất vật lí của đất thông
qua việc đào bới thờng xuyên. Ngoài ý nghĩa về mặt tự nhiên mối còn cung cấp
nguyên liệu cho ngành y tế nh làm thuốc chữa bệnh thấp khớp và tổ mối đợc các nhà
kiến trúc s áp dụng trong các công trình kiến trúc.... Nhng xét về tổng thể thì mối vẫn
là loài gây hại. Do mối là côn trùng chuyên dinh dỡng trên các nguồn thức ăn có
chứa xenlullo nên mối gây hại nhà cửa, công trình xây dựng bằng gỗ, đê điều nhng
đặc biệt nguy hiểm hơn mối đợc xem là ẩn hoạ thân đê, đe doạ nghiêm trọng đến
cuộc sống của con ngời. Theo nghiên cứu sơ bộ nớc ta thì sức phá hoại của chúng
thật ghê gớm. Ngoài ra, mối còn phá hại cây công nghiệp và cây hoa màu nh: cao su,
cà fê, chè, bông, cây lạc, sắn... làm cho cây chết hoặc sinh trởng kém, còi cọc từ đó
ảnh hởng đến năng suất, chất lợng cây trồng. Trong các loài mối gây hại phải kể đến
các loài mối nhà Coptotermes, chúng phá hại các trang thiết bị đồ dùng bằng gỗ, đặc
biệt hơn là các di tích lịch sử. Hàng năm mối làm cho hàng chục ngôi nhà và các di
tích lịch sử có nguy cơ bị sụp . Chính vì vậy chúng ta cần phòng và trừ mối.
Hiện nay có nhiều phơng pháp phòng và diệt mối nh phơng pháp hoá học, vật
lý, thủ công Tuy nhiên các ph ơng pháp trên còn tồn tại những hạn chế. Phơng pháp
hoá học do thuốc không thể tác dụng trực tiếp đến tổ mối đợc, khó tìm tổ mối chính,
mùi vị bị mối phát hiện nhanh chóng, chi phí cho mỗi lần nh thế tốn kém, đồng thời
dẫn đến tính kháng thuốc và nguy hiểm hơn là phơng pháp này ảnh hởng trực tiếp tới
sức khỏe con ngời và môi trờng nếu lợng thuốc sau xử lí thừa hoặc phân huỷ không

Metarhizium (m
4
; m
5
) sau lên men kết hợp.
1.2.2. Yêu cầu:
- Xác định đợc đặc điểm hình thái của nấm Metarhizium (M
4
; M
5
).
- Quan sát sự phát triển của bào tử nấm Metarhizium trên môi trờng nuôi cấy
kết hợp khác nhau.
- Xác định sự ảnh hởng của các yếu tố: Lợng mẫu, thời gian lên men kết hợp
đến sự hình thành bào tử nấm Metarhizium.
- Thử khả năng diệt mối của bào tử chủng Metarhizium (M
4
; M
5
) sau khi lên men
kết hợp bằng phơng pháp lây nhiễm và trực tiếp.
Phần II
Tổng quan tài liệu
2.1. Giới thiệu về Metarhizium anisopliae Sorok.
2.1.1. Sơ lợc về lịch sử ra đời của Metarhizium.
Từ những năm 70 của thế kỷ xix, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên
cứu và nhận thấy nhiều loại côn trìng bị nhiễm bệnh và chết bởi các chủng vi nấm
thuộc lớp nấm bất toàn (Deutermyceter).
Năm 1878, nhà bác học ngời Nga Metschnhikov trong khi nghiên cứu bệnh
của bọ cứng hại lúa mì để tìm phơng pháp phòng trừ đã phát hiện bệnh nấm xanh

có đờng kính 7 - 8,5 cm. Loại nấm Metarhizium anisopliae có hai loài là dạng bào tử
nhỏ và lớn. Tuy nhiên Metarhizium anisopliae là chủng gây bệnh mạnh nhất trên
côn trùng thuộc bộ cánh cứng Coleoptera.
2.1.3. Đặc điểm sinh lý sinh hoá của Metarhizium anisopliae.
Nấm Metarhizium anisopliae sinh trởng rất tốt trên nền cơ chất có kitin,
chúng sống đợc ở nhiệt độ thấp 8
0
C, có biên độ về độ ẩm rộng ở nơi tích lũy nhiều
CO
2
và thiếu O
2
chúng có thể sống tới 445 ngày. ở nhiệt độ nhỏ hơn 10
0
C và lớn hơn
45
0
C thì nấm không thể hình thành bào tử. Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của
bào tử là 28
0
C và pH = 6,8 - 70 hoặc dao động từ 3,3 8,5. Nấm có khả năng phân
giải xenlulose và kitin (lông và lớp vỏ ngoài của côn trùng) [14].
Độc tố diệt côn trùng của nấm: Gồm một số độc tố có tên là DestruxinA, B, C,
hay D. Các ngoại độc tố này là sản phẩm thứ cấp vòng peptit, L-prolyn, L leucine,
anhydrie, L-prolyn, L-valine anhydride và Desmethyl Destruxin B [12].
2.1.4. Cơ chế gây bệnh của Metarhizium
Bào tử nấm phát tán trong gió hoặc lây nhiễm qua tiếp xúc giữa các cá thể
mang mầm bệnh. sau khi bám vào cơ thể côn trùng, gặp ẩm độ nhiệt độ thích hợp
(xâm nhập qua đờng hô hấp) bào tử nấm nảy mầm tiết ra độc tố Destruxin làm tê liệt
hệ thần kinh côn trùng và sử dụng dinh dỡng của côn trùng từ đó làm cho các cơ hệ

Coptotermes lacteus. Họ đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm và cho thấy rằng nấm
không lây nhiễm vào các vật chủ bằng con đờng tiêu hóa, mà nó trực tiếp xâm nhập
qua vỏ cơ thể, cho nên cả ấu trùng còn non cũng có thể bị tiêu diệt. Xác mối bị chết
do nấm sẽ khô cứng, đầy sợi nấm trắng, sau đó tạo thành thế hệ bào tử mới màu xanh
đậm. Các bào tử chỉ nảy mầm khi gặp độ ẩm cao và thời tiết thích hợp. Tuy nhiên các
thử nghiệm này mới chỉ đợc thực hiện trong phòng thí nghiệm ở quy mô nhỏ.
Tại Canada, nhóm nghiên cứu do tiến sỹ Bary H.Track (1999) đứng đầu thuộc
phòng thí nghiệm côn trùng học, trờng đại học tổng hợp Toronto đang thử nghiệm
một số chủng nấm Metarhizium để diệt các loài kiến và loài mối Reticulitermes
flavipes (loài mối gây hại nghiêm trọng cho công trình kiến trúc ở thành phố
Toronto). Họ đã phân lập đợc một số chủng vi nấm của loài Metarhizium anisopliae
có hoạt lực cao với mối Reticulitermes flavipes. Họ quan sát thấy bào tử vi nấm bám
lên vỏ cơ thể của mối, mọc xuyên vào các mô và hệ tuần hoàn, rồi giết chết mối
trong vòng 24-48 giờ, tùy thuộc vào liều lợng và tác dụng. Bào tử vi nấm có thể lây
truyền từ cá thể này sang cá thể khác thông qua hàng loạt các hoạt động tiếp xúc trực
tiếp với nhau giữa các cá thể trong quần thể nh việc trao đổi thức ăn, sự tiêu thụ chất
tiết, việc làm vệ sinh cho nhau... Vấn đề đang đợc họ quan tâm là nghiên cứu khả
năng phát hiện và ngăn chặn các con mối đã bị nhiễm bào tử vi nấm của quần thể
mối.
ở Mỹ, tại trung tâm của hiệp hội nghiên cứu mối ngầm Đài Loan, M.
Guadalupe Rojas và cộng sự (2000), đã chứng minh các bào tử của các loài vi nấm
này có thể bám vào vỏ kitin của cơ thể mối Coptotermes formosanus để nảy mầm,
sau đó sợi nấm phát triển đâm xuyên vào cơ thể mối và diệt mối rất tốt. Họ khẳng
định bào tử nấm không độc với ngời, động vật và môi trờng. Hớng nghiên cứu của họ
là sử dụng bào tử vi nấm trộn với diflubensuzon trong các vị trí đặt bả hỗn hợp.
Năm 2002, Tiến sỹ Haimanot Abebe đã tiến hành thử nghiệm bào tử
Metarhizium trên mối Macrotermes subhyalinus ở vùng Lenkemt Zuria (Ethiopia).
Ông đã thử nghiệm bào tử ở ba nồng độ là 4,6; 9,3 và 20 gram bào tử / tổ, các tổ
Macrotermes thử nghiệm có tuổi từ 2 đến 3 năm. Sau 60 ngày thử nghiệm tỷ lệ mối
chết đạt 61%, 64% và 74% ở các nồng độ tơng ứng. Sau 75 ngày tác giả còn quan sát

Metarhiziumanisopliae và thử nghiệm để diệt châu chấu di c và các loài sâu bệnh hại
cây nông nghiệp. Tác giả cũng thử nghiệm bào tử M. anisopliae trên mối
Coptotermes formosanus và cho biết mối chết do nấm sau 3 ngày là 91,35% ở mật
độ 18 x 10
7
bào tử / ml. Ngoài ra, tác giả còn thử nghiệm trên châu chấu di c
(Locusta mirgratioria) và hiệu quả đạt tới 92,2%.
Năm 1997, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiệm thu đề tài: Nghiên cứu vi
nấm Metarhizium ansopliae chống mối hại cây trồng. Trong đó đã phân lập đợc nhiều
chủng nấm có khả năng chống mối quan trọng và đợc bảo quản tại Bảo tàng giống vi
sinh vật của trờng.
Năm 1998 Dơng Ngọc Khê và cộng sự thuộc viện khoa học lâm nghiệp đã
nghiên cứu và tuyển chọn một số chủng nấm Metarhizium để thử khả năng diệt mối
coptotemes fomosanus trong phòng thí nghiệm, các nghiên cứu đã đa ra đợc các chế
phẩm LT
50
, LT
100
, LD
50
, LD
100
của các chủng Metarhizium đã tuyển chọn đối với
Coptotemes fomosanus và cho biết có 3 chủng có hiệu lực diệt mối cao nhất [2]
Phạm Thị Thùy và cộng sự (2002- 2003) đã nghiên cứu sử dụng nấm
Metarhizium anisopliae để diệt bọ hại dừa cho tỉnh Bình Định bằng phơng pháp
phun trực tiếp. Kết quả cho thấy chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae đều có hiệu
quả cao với sâu non và trởng thành của bọ dừa, đặc biệt là hiệu quả kéo dài đến 8
tuần sau phun, hiệu quả thể hiện rõ khi cây dừa phục hồi màu xanh trở lại, điểm giá
trị nhất của chế phẩm nấm là hiệu quả kéo dài, nấm không gây ô nhiễm môi trờng và

, M
2
, M
3
không chỉ có khả năng diệt mối C.
formosanus khi tiếp xúc trực tiếp mà còn đợc truyền từ cá thể này sang cá thể khác
trong đàn mối, tỷ lệ số cá thể mối bị nhiễm bào tử lúc đầu đóng vai trò quyết định.
Hiệu quả của phơng pháp thử nghiệm diệt mối C. formosanus bằng lây nhiễm
bào tử M
1
rất rõ ràng. Tỷ lệ nhà dân thử nghiệm hết mối đạt gần 90%. Kết quả này
mở ra triển vọng trong việc nghiên cứu sản xuất chế phẩm diệt mối C. formosanus
bằng lây nhiễm thay thế các biện pháp dùng hoá chất nh hiện nay.
Mối cánh O. hainanensis bị chết 100% sau 5 - 10 ngày ở trong đất đã rắc bào
tử M
3
cho phép nghĩ tới khả năng nghiên cứu sản xuất chế phẩm để phun phòng mối
cánh trên mặt đê vào mùa mối bay phân đàn.
Một phần của kết quả nghiên cứu trên đã đợc trình bày tại Hội nghị Quốc tế về
Vi sinh vật tại Bangkok, Thái Lan tháng 7 / 2000.
Năm 1997 đại học quốc gia hà nội đã nghiệm thu đề tài nghiên cứu vi nấm
Metarhizium anisopliae chống mối hại cây trồng. Trong đó đã phân lập đợc nhiều
chủng nấm có khả năng chống mối quan trọng và đợc bảo quản tại bảo tàng giống vi
sinh vật của trờng.
Đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về hoạt tính của Enzym ngoại bào
của các chủng nấm Metarhizium nh là:
- Năm 1995 tác giả Smithson S.L và cộng sự đã nhân vô tính và đặc trng của
gen mã hoá enzym Protease phân giải cutin từ nấm gây bệnh cho côn trùng
Metarhizium anisopliae [17].
- Năm 2000 tác giả Gillespie J.P; Charnley A.K đã nêu vai trò của Protease

thuộc họ Rhinotermitidae hay còn gọi là nhóm mối ngầm đô thị (Urban subterranean
termite). Đến nay đã xác định đợc 28 loài thuộc giống mối này [1], [3].
Đặc trng của giống mối này là mối lính có hình ovan hoặc hình trứng. Trên
đầu có một lỗ trán lồi ra phía trớc. Từ đó mối lính tiết ra dịch màu trắng sữa. Dịch
này sẽ chuyển thành một chất co giãn nh cao su khi tiếp xúc với không khí. Râu có
từ 14-16 đốt, tấm lng ngực trớc bằng phẳng. Mối cánh đầu hình trứng, râu có từ
18-23 đốt. Tấm lng ngực trớc hẹp hơn đầu, vẩy cánh trớc hẹp hơn phía cánh sau, gân
cánh hình lới màu nhạt, mặt cánh có lông [1].
Coptotermes là giống mối gây nhiều thiệt hại cho con ngời do khả năng thích
nghi cao với điều kiện môi trờng. Chúng có thể tấn công trực tiếp các vật liệu, đồ dùng
bằng gỗ hoặc đi xuyên qua mạch vữa xi măng mác thấp, đi ngầm dới lớp bê tông, nhựa
đờng vào làm tổ trong các công trình xây dựng, gây ảnh hởng đến sự ổn định, an toàn
và mỹ quan công trình. Vì vậy, mối Coptotermes đợc xếp vào nhóm mối hại công
trình xây dựng (còn gọi là mối nhà). Tuy nhiên, một số loài thuộc nhóm này còn gây
hại cho cây và làm tổ trong thân đê, đập [11].
2.2.1. đặc tích sinh học:
Trong các loài thuộc giống Coptotermes thì Coptotermes formosanus Shiraki
là loài có phân bố rộng nhất trên thế giới. Loài mối này có nguồn gốc từ Đài Loan
(Trung Quốc), làm tổ ngầm trong đất và các cấu trúc khác của công trình, nên còn có
tên gọi chung là mối ngầm Đài Loan (Formosan subterranean termite-FST). Nó đợc
đa vào nhật bản, Guam, Srilanka, Nam Phi và Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai,
những chiếc tàu thủy là phơng tiện chở loài mối ngầm này phát tán đi khắp thế giới.
Đến nơi ở mới, nhờ sự thích ứng cao và khả năng sinh sản lớn mối Coptotermes
formosanus đã nhanh chóng phát triển và mở rộng vùng phân bố của mình. Tuy mối
Coptotermes formosanus là một loài bay yếu, nhng với khả năng thay thế mối chúa
và phân đàn nhanh chóng cùng với việc con ngời di chuyển đất vật liệu đã bị nhiễm
mối cũng góp phần tạo ra sự lan tràn trong nội địa của loài mối này.
Phần lớn các đàn mối Coptotermes formosanus làm tổ ngầm dới đất hay trong
các cấu trúc công trình xây dựng. Tổ của chúng khá lớn, xốp thờng có hình nón hoặc
có thể có hình dạng khác phụ thuộc vào vị trí làm tổ, có màu nâu đen hoặc màu xám

2.2.2. Các thành phần đẳng cấp trong tổ mối:
Mối, Ong, Kiến đ ợc xếp vào côn trùng xã hội khác với nhiều loài côn trùng
đơn sinh, mỗi tổ mối là một đơn vị sống hoặc đợc coi là một xã hội riêng biệt trong
mỗi tổ mối tuỳ theo từng loại có từ vài trăm đến hàng chục triệu con. Sỡ dĩ mối đợc
xem nh là con trùng xã hội vì mỗi nhóm cá thể đóng vai trò riêng biệt, đàn mối chỉ
tồn tại khi đủ các nhóm này, mỗi nhóm là một đẳng cấp có chức năng riêng nh xã hội
con ngời, là loại côn trùng có sự phân chia công việc trong đời sống xã hội, tổ chức
theo bản năng, có sự chuyên hoá về hình thái và chức năng.
Mối có hai loại hình lớn: Mối sinh sản và mối không sinh sản mỗi loại hình
này chia ra nhiều đẳng cấp khác nhau.
Mối sinh sản: Loại mối này có thân hình tơng đối lớn nhất là mối chúa có
bụng rất to cơ thể của chúng có cơ quan phát dục hoàn chỉnh gồm mối vua, mối chúa
mối cánh nguyên thủy và mối cánh ngắn hay còn gọi là mối chúa thay thế. Chúng có
chức năng sinh sản hoặc sẽ làm nhiệm vụ sinh sản trong tơng lai.
Các đẳng cấp này có mặt đầy đủ ở các quần thể trởng thành, tỷ số lợng cá thể
của mỗi đẳng cấp thay đổi tùy thuộc vào loài và tuổi đàn mối [1].
Mối cánh có 2 loại: Mối cánh nguyên thủy (còn gọi là mối cánh thực thụ) và
mối cánh ngắn (còn gọi là mối cánh thay thế hay mối cánh bổ sung).
Cơ thể mối cánh nguyên thủy thờng có màu vàng nâu, dài 12- 15mm và có
cánh, mối cánh là do mối non trải qua một số lần lột xác mà thành chúng cũng đi
kiếm ăn nh mối thợ, trên cánh có rất nhiều lông nhỏ và hệ gân cánh đặc trng có thể
dùng để phân biệt với các loài khác, chúng có lớp vỏ bao bọc cơ thể dày nên chúng
có thể sống trong điều kiện khô vài ngày và chúng có khả năng bay giao hoan để tạo
thành tổ mối mới. Hàng năm vào cuối mùa xuân khi áp suất không khí thích hợp,
nhất là vào lúc trớc các cơn ma giông hoặc lúc hoàng hôn, thời điểm các loài động
vật ăn côn trùng ban ngày hoặc ban đêm cha hoạt đi kiếm ăn hoặc đi rất ít. Do vậy
thời điểm này tránh đợc những nguy hiểm đem lại cho chúng, chúng bay ra khỏi tổ
và hớng tới những nơi có ánh sáng, sau 10 đến 15 phút thì rụng cánh và chúng cặp
đôi con đực với con cái, con nọ nối đuôi con kia, con cái đi trớc con đực theo sau,
con cái sẽ dẫn đi tìm một nơi c trú. Nếu thoát đợc nguy hiểm và tìm thấy đợc các vết

thức ăn, xây tổ và chăm sóc mối vua, mối chúa, mối non, vận chuyển trứng mối...để
duy trì sự sống cho quần thể. Ngoài ra còn một số chức năng nh dự báo thời vụ giao
hoan và thông tin giữa các cá thể.
Mối thợ của loài Reticulitermes fukiensis có tới 5 loại khác nhau: ấu trùng, ấu
trùng lớn, thợ nhỏ, thợ trung bình, và thợ lớn. Nhng ở Coptotermes formosanus chỉ
thấy ấu trùng, mối thợ lớn, mối thợ nhỏ. Mối thợ của loài Coptotermes formosanus
cũng bị mù, tuy vậy chúng di chuyển rất nhanh nhẹn, cơ thể của mối thợ thờng nhỏ,
màu trắng nhạt, chúng làm mọi công việc để duy trì sự phát triển của đàn. Có thể
thấy mối thợ là lực lợng lao động chính trong quần thể Coptotermes formosanus.
Mối thợ có thể sống trung bình khoảng 2- 4 năm [1].
Mối lính (còn gọi là mối bảo vệ): Chiếm 10-15% số lợng cá thể trong quần thể
nối. Đầu của chúng có màu vàng chanh, hình ovan, hàm cong, thân có màu trắng
nhạt. Khi bị tác động cơ học hoặc hóa học chúng thờng tiết ra dịch màu trắng từ lỗ
fontanell ở phía trớc đầu. Tác dụng của chất dịch này có thể gây cản trở sự di chuyển
của vi sinh vật khác, làm yếu sinh vật bị tấn công. Vì vậy chất tiết này có tác dụng tự
vệ. Do sự chuyển hóa, hàm của mối lính Coptotermes formosanus chỉ đợc dùng nh
một thứ vũ khí tấn công kẻ thù. Do đó, mối lính không tự kiếm thức ăn đợc mà cần
phải đợc mối thợ cho ăn. Công việc của mối lính là bảo vệ tổ và bảo vệ đàn mối thợ
khi đi kiếm thức ăn khỏi sự tấn công của các sinh vật khác. ở vị trí đờng mui và hang
giao thông bị vỡ, mối phát các tín hiệu báo động, tập trung mối lính xung quanh, sẵn
sàng tấn công bất kể kẻ nào muốn xâm phạm vào tổ của chúng. Ngoài ra mối lính
còn vây quanh và bảo vệ lỗ vũ hóa khi mối cánh chuẩn bị bay giao hoan. Trong quần
thể Coptotermes formosanus các cá thể thờng xuyên trao đổi thức ăn và các chất tiết,
đây là hoạt động sống bình thờng để tăng cờng hiệu quả sử dụng thức ăn của chúng.
Sự trao đổi thức ăn và chất tiết này gọi là quá trình dinh dỡng tơng hỗ (trophallaxis).
Nhờ quá trình này mà các vi khuẩn cộng sinh trong ruột mối đợc truyền qua nhau
giữa các cá thể mối trong quần thể. Ngoài ra, mối còn có tập tính làm sạch cơ thể của
mỗi cá thể và giữa các cá thể đồng loại với nhau khi trên cơ thể có vật lạ bị phát hiện
[3].
Mối Coptotermes formosanus là loài có số lợng cá thể khá lớn so với nhiều

2.1.3.1. Lợi ích của mối
Mối cũng nh nhiều loài côn trùng cũng đóng vai trò quan trọng mang lại nhiều
lợi ích cho con ngời và môi trờng tự nhiên. Kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa
học cho thấy: Narariff (1931) quan sát ở ăngola thấy sự hình thành đá ong có sự
tham gia của mối, ở Trinidad cũng thấy mối Nasutitermet có liên quan với đá
lateritic (Grifith, 1953). Các đá ong này ở châu phi kết thành từng mảng lớn. Quan
sát ở Xuđăng, Erhart (1951-1953) nhận thấy trong quá trình hình thành đá Lateritic
có sự tác động của mối đối với đất rừng.
Một trong những đặc điểm có lợi dễ nhận thấy của mối là ăn những chất có
hàm lợng xenlulose cao giúp phân giải thảm thực vật trong rừng. Sự hoạt động của
chúng là điều kiện rất tốt cho tự nhiên. Thứ nhất chúng giúp dời chuyển từ bề mặt đất
các xác chết và thối rữa của thực vật, biến chúng thành những phần đơn giản không
có mùi vị khó chịu và tẩy trừ chất có hại cho môi trờng và con ngời. Thứ hai chúng
giữ một phần rất quan trọng là phân giải xác động vật, thực vật thành chất đơn giản
có thể đợc sử dụng thành nguồn dinh dỡng cho thực vật phát triển chính vì vậy ngời
ta ví mối nh một ngời dọn dẹp trong tự nhiên[1].
Bên cạnh những lợi ích phân giải xenlullo thì chúng làm tơi xốp những phần
đất cứng bằng việc mang chúng lên bề mặt, đặt chúng ra phơi nắng thông qua việc
đào bới làm đờng hầm. Một số lợng lớn các đờng hầm, đờng mui nổi do mối tạo ra
đã làm thuận tiện cho việc thông khí trong đất việc này rất cần thiết cho sự phát triển
của thực vật. Mối có thể đào sâu từ 1.5 đến 3m điều này rất cần sự vận động mao dẫn
của đất. Xác mối chết và các sản phẩm phụ của chúng rơi xuống đất làm đất tơi xốp
[3].
ở Burkinafaso đất nông nghiệp đã bạc màu trơ cứng ra nh đá, ngời dân trộn
mối với phân hữu cơ và nhào vào các lỗ đào trên mặt đất, từ đó mối sẽ tạo ra vô số
hầm hào dới lòng đất giúp đất dẫn nớc tốt hơn trong mùa ma, các nhà khoa học đã đi
sâu nghiên cứu phần nội tạng của mối và đã phân tích kỹ thấy bộ máy tiêu hoá của
mối chiếm 70% trọng lợng cơ thể, hoạt động giống nh nhà máy hoá chất, khi làm tổ
mối giữ lại vật chất hữu cơ làm cho quá trình khoáng hoá chậm lại và các hợp chất
khó phân huỷ sẽ phân huỷ dễ dàng hơn, giúp cho cây trồng hấp thụ tốt hơn, cấu trúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status