Đề tài “Hoàn thiện việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu Công ty vận tải và đại lý vận tải Hà nội – VITACO” - Pdf 72



Luận văn Đề Tài:Hoàn thiện việc ký kết và
thực hiện hợp đồng nhập
khẩu Công ty vận tải và đại
lý vận tải Hà nội – VITACO
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

1LỜI MỞ ĐẦU

Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra các đường lối phát triển nền kinh tế với mục tiêu: “ Dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh....”. Hơn 10 năm qua, kể từ năm 1986 đến nay, sự đổi mới của
nền kinh tế nước ta đã đem lại những kết quả ban đầu. Với việc chuyển đổi sang cơ chế
thị trường, nền kinh tế mở cửa đã và đang từng bước kết nối với nền kinh tế thế giới.
Hoạt động xuất nhập khẩu ( XNK) ngày càng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong

Qua thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế ở Công ty vận tải và đại lý vận
tải Hà nội, phân tích rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh,
tôi đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

2
Công ty vận tải và đại lý vận tải Hà nội – VITACO” . Nội dung của báo cáo tốt
nghiệp được chia thành 3 phần như sau:

Phần I: Những vấn đề cơ bản về hợp đồng nhập khẩu trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.

Phần II: Thực trạng hoạt động ký kết và thức hiện hợp đồng nhập khẩu
công ty VITACO – Hà nội.

Phần III: Phương hướng hoàn thiện hoạt động ký kết và thực hiện hợp
đồng nhập khẩu trong thời gian tới taị Công ty VITACO – Hà nội.

Trong quá trình nghiên cứu và viết về đề tài này không tránh khỏi những thiếu
sót, mong thầy cô giáo và bạn đọc thông cảm, đóng góp ý kiến để hoàn thiện hơn. Đề
tài này được sự giúp đỡ cuả Thạc sỹ Trần Hoè và các Cô, Chú trong Phòng Xuất nhập
khẩu của Công ty VITACO – Hà nội.

Hà nội, tháng 6 năm 2001


a/.Hợp đồng nhập khẩu trực tiếp: Là một loại hợp đồng nhập khẩu hàng hoá, trong đó
người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua vượt qua biên
giới quốc gia, còn người mua có nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền ngang giá
trị hàng hoá bằng các phương thức thanh toán quốc tế.

Loại hợp đồngnày thì nhà nhập khẩu những hàng hoá nhằm thoả mãn cho việc
kinh doanh của mình trên thị trường. Nghĩa là họ sẽ nhập khẩu những hàng hoá mà có
thể tiêu thụ được ở thị trường trong nước, có thể đẩy mạnh được hoạt động kinh doanh
của Công ty họ. Hợp đồng này có thể có hai loại: có hạn nghạch và không có hạn
nghạch.

- Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá có hạn nghạch: thì khi muốn nhập khẩu thì phải
xin giấy phép nhập khẩu và hạn nghạch nhập khẩu mới được phép nhập khẩu. Nghĩa là
Công ty chỉ được phép nhập khẩu số lượng hàng hoá theo quy định của Nhà nước cho
phép.

-Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá không có hạn nghạch: Những loại hàng hoá mà
Nhà nước ta không quy định hạn nghạch nhập khẩu thì công ty chỉ xin giấy phép nhập
khẩu, nếu như pháp luật cho phép nhập khẩu thì Công ty phải làm các thủ tục nhập
khẩu như đã quy định, còn về khối lượng hàng hoá thì không hạn chế.

b/. Hợp đồng nhập khẩu uỷ thác: Cũng là hợp đồng nhập khẩu hàng hoá nhưng bên
hợp đồng được sự uỷ thác của bên thứ ba nhập một khối lượng hàng hoá nào đó nhất
định tuỳ theo yêu cầu của bên thứ ba. Theo hợp đồng này thì bên nhập khẩu chỉ việc
nhập hàng hoá theo yêu cầu bên thứ ba, song việc thì sẽ được hưởng một khoản tiền nào
đó tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai bên.

2. Tính chất của hợp đồng nhập khẩu
Khác với hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước, hợp đồng nhập khẩu có tính

hợp đồng xuất nhập khẩu trong công ước Viên – 1980 mang tính chất bao quát chung
và phù hợp với thực tế hiện nay.

Theo quan điểm của Việt nam, tại điều 80 Luật Thương mại thì: “Hợp đồng mua
bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán được ký kết giữa một
bên là thương nhân Việt nam với một bên là thương nhân nước ngoài”.

Tại điều 5 khoản 6 cũng quy định: “ Thương nhân được hiểu là các cá nhân, hộ
gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập thường
xuyên”.

Như vậy, để xác định hợp đồng nhập khẩu thì chỉ có một quy định là hợp đồng
được ký kết với thương nhân nước ngoài. Vấn đề đặt ra là: Phải xác định thương nhân
nước ngoài như thế nào? Theo Điều 81 khoản 1 – Luật Thương mại quy định: “ Chủ thể
liên nước ngoài là thương nhân và tư cách pháp lý của họ được xác định căn cứ theo
pháp luật mà thương nhân đó mang quốc tịch”

3. Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu.
Từ khái niệm về hợp đồng nhập khẩu hay hợp đồng ngoại thương thì chúng ta có
thể hiểu nó là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có
nhân tố nước ngoài mà thông qua đó thiết lập thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. Do vậy hợp đồng nhập khẩu có những
đặc điểm sau:
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

5

- Các bên tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các thương
nhân có quốc tịch khác nhau và trụ sở thương mại ở các nước khác nhau.
- Hàng hoá đối tượng cuả hợp đồng được dịch chuyển từ nước này sang nước

dụng vào hợp đồng, khiếu nại, trường hợp bất khả kháng, trọng tài....).

a. Điều khoản về tên hàng.
Nhằm giúp các bên xác định được sơ bộ loại hàng cần mua bán trong hợp đồng
bằng một số biện pháp như:

Ghi tên hàng bao gồm tên thông thường, tên thương mại, tên khoa học ( áp dụng
cả cho loại hoá chất, giống cây, vật nuôi...)

Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

6
Ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra nó ( nếu nơi đó ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm.).

Ghi tên hàng kèm với quy cách chính. VD: xe tải 25 tấn....

Ghi tên hàng kèm với tên nhà sản xuất ra nó.

Ghi tên hàng kèm theo công dụng.

b. Điều khoản về phẩm chất.
“ Phẩm chất” nói lên mặt chất của hàng hoá mua bán như tính năng, quy cách,
kích thước, tác dụng.... Nó phải đảm bảo dự định về phẩm chất qua từng thời gian và
từng chuyến hàng nhập khẩu. xác định cụ thể phẩm chất của sản phẩm là cơ sở vật chất
để xác định cơ sở vật chất, để xác định giá cả và mua được hàng đúng theo yêu cầu
trong hợp đồng phải nêu rõ phương pháp xác định phẩm chất, những tiêu chuẩn hàng
hoá phải đạt được. Một số phương pháp chủ yếu thường được sử dụng để xác định
phẩm chất hàng hoá như: Mẫu hàng, nhãn hiệu, hàm lượng của chất chính, tiêu
chuẩn,bản mô tả sản phẩm...

Trong hợp đồng nhập khẩu , giá cả cần được căn cứ vào tính chất của hàng hoá
và tập quán buôn bán mặt hàng đó trên thị trường quốc tế để xác định rõ đơn vị giá cả:

Mức giá: Giá cả trong hợp đồng nhập khẩu thường là giá quốc tế.

Phương pháp tính giá: Như giá cố định, giá quy định sau, giá linh hoạt, giá di
động.
Điều kiện giảm giá: Với mục đích là khuyến khích mua hàng thì có các nguyên nhân
giảm giá sau: do trả tiền sớm, giảm giá dịch vụ, giảm giá để đổi hàng cũ để mua hàng
mới, giảm giá đối với thiết bị đã dùng rồi, do mua hàng với số lượng lớn.....

Điều kiện cơ sở giao hàng tương ứng: Trong hợp đồng NK, mức giá bao giờ
cũng ghi bên cạnh một điều kiện cơ sở giao hàng nhất định, bởi vì giá cả sẽ khác nhau ở
những điều kiện giao hàng khác nhau.

f. Điều khoản giao hàng:
Nội dung của điều khoản này là sự xác định thời hạn và địa điểm giao hàng, sự
xác định phương thức giao hàng và việc thông báo giao hàng.

+ Thời hạn giao hàng: Trong buôn bán quốc tế người ta có ba kiểu quy định thời
hạn giao hàng như sau: thời hạn giao hàng có định kỳ, thời hạn giao hàng ngay, thời
hạn giao hàng không định kỳ.
+ Địa điểm giao hàng: gồm các bước sau:
- Giao nhận sơ bộ: Là bước đầu xem xét, xác định ngay tại địa điểm sản xuất
hoặc nơi giữ hàng, sự phù hợp về số lượng, chất lượng hàng hoá so với hợp
đồng.
- Giao nhận về số lượng, chất lượng
- Giao nhận cuối cùng: Là sự xác nhận rằng người bán đã hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng.


dịch có thể thoả thuận những điều kiện đảm bảo hối đoái. Đó có thể là điều kiện đảm
bảo vững vàng hoặc điều kiện đảm bảo ngoại hối.

i. Điều khoản về khiếu nại.
Khiếu nại là một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất hoặc thiệt
hại mà bên kia đã gây ra, hoặc về những sự vi phạm đều đã được cam kết giữa hai bên.

Nội dung có bản của điều kiện khiếu nại bao gồm các vấn đề sau:
- Thể thức khiếu nại: Khiếu nại phải làm bằng văn bản ghi rõ tên hàng, số
lượng, trọng lượng hàng hoá bị khiếu nại, địa điểm mau hàng, lý do khiếu
nại, yêu cầu cụ thể của người mua về việc giải quyết khiếu nại.
- Thời hạn khiếu nại: được quy định phụ thuộc trong hợp đồng.
- Quyền hạn và nghĩa vụ các bên liên quan.

Cách thức giải quyết khiếu nại: Có nhiều cách thức giải quyết như giao tiếp
những hàng háo bị thiếu hụt, sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thay thế những hàng
hoá bị khiếu nại, triết một số khấu trừ một số tiền nhất định về hàng hoá bị khiếu nại.

k. Điều khoản về bảo hành.
Người bán phải cam kết trong thời gian bảo hành hàng hoá sẽ đảm bảo các tiêu
chuẩn chất lượng đặc điểm kỹ thuật phù hợp với điều kiện. Người mua phải tuân thủ
nghiêm chỉnh theo sự hướng dẫn của người bán về sử dụng và bảo dưỡng. Nếu trong
giai đoạn đó, người mua phát hiện thấy khuyết tật của hàng hoá thì người bán phải sửa
chữa miễn phí hoặc giảm giá hoặc giao hàng thay thế.

l. Điều khoản về trường hợp miễn trách.
Trong giao dịch trên thị trường thế giới, người ta thường quy định những trường
hợp nếu xảy ra bên đương sự được hoàn toàn hoặc trong chừng mực nào đó, miễn hay
thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng.


Ngoài những điều kiện trên đây, trong quá trình giao dịch tuỳ tình hình cụ thể,
các bên có thể đề ra những điều kiện khác như: Điều kiện cấm chuyển bán, điều kiện về
quyền lựa chọn....

II.Khía cạnh pháp lý của việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhập nhẩu.

1. Ký kết hợp đồng nhập khẩu ( NK)

1.1. Khả năng để phát sinh một hợp đồng nhập khẩu.

Một hợp đồng nhập khẩu trong giao dịch buôn bán ( bỏ qua hàng tặng và các vấn
đề khác) chỉ đơn giản là một bên đưa ra lời chào hàng và bên kia chấp nhận lời chào
hàng ấy. Chào hàng làm phát sinh trách nhiệm ngay khi nó rời tay bên chào hàng đồng
thời nó cũng có thể huỷ ngang bất cứ lúc nào trước khi được chấp nhận.
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

10

Đặt hàng là một lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua. trong
đơn đặt hàng, người mua liệt kê với người bán cụ thể với các loại hàng hoá mà mình
định mua, cùng các nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng đối với một lời chào
hàng cố định. Khi người bán xác định ( bằng văn bản) đơn đặt hàng của người mua thì
cũng phát sinh một hợp đồng. Trong trường hợp này, hợp đồng được thể hiện bằng hai
văn bản là đơn đặt hàng của người mua và văn bản xác nhận của người bán. Như vậy,
khi một lời chào hàng hoặc đặt hàng được chấp nhận vô điều kiện bằng văn bản thì khả
năng ký kết một hợp đồng là có thực và các bên sẽ chuẩn bị tiến hành cho một hợp
đồng cụ thể hơn.

pháp luật và loại bỏ tất cả các hợp đồng được ký kết trên cơ sở dùng bạo lực, do bị đe
doạ, bị lừa đảo hoặc do sự nhầm lẫn.

1.3. Thủ tục ký kết hợp đồng nhập khẩu
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

11
 Về hình thức ký kết: Có hai loại hình thức ký kết hợp đồng là:
+ Trực tiếp gặp gỡ đàm phán: Nếu các bên thống nhất hoàn toàn về các vấn đề
đã nêu ra trong quá trình đàm phán trực tiếp và cùng ký vào bản dự thảo hợp đồng thì
hợp đồng được coi như là ký kết từ lúc các bên cùng ký vào hợp đồng.

+Ký kết gián tiếp: Những hợp đồng được ký với những khách hàng mà không có
điều kiện gặp gỡ, trực tiếp đàm phán thì hợp đồng phải được ký bằng cách trao đổi ký
kết hợp đồng thông qua việc gửi chào hàng hoặc đặt hàng. Loại hợp đồng này thường
trải qua hai giai đoạn:
1. Giai đoạn đề nghị ký hợp đồng: trong giai đoạn này, người đề nghị ký kết
hợp đồng chú ý các điều kiện có hiệu lực của đơn đề nghị ký hợp đồng, thời
hạn có hiệu lực và điều kiện huỷ bỏ đơn đề nghị ký hợp đồng.
2. Giai đoạn chấp nhận: Việc chấp thuận cũng phải tuân thủ một số quy định
như: Chấp thuận dứt khoát vô điều kiện đề nghị ký kết hợp dồng, thì hợp
đồng được coi là đã ký kết. Nếu bổ sung sửa đổi một số điểm trong đơn đề
nghị thì về mặt pháp lý họ đã từ chối việc ký kết và đưa ra một lời chào từ
chối. Còn nếu người đề nghị chấp nhận mọi sửa đổi bổ xung của phía bên kia
thì lúc đó hợp đồng mới tiếp tục được coi là ký kết.
 Người ký kết:
Người đứng tên tham gia ký kết hợp đồng phải là người có chức năng thẩm
quyền phù hợp với quy định của pháp luật.

Nếu là hợp đồng được ký kết giữa các pháp nhân thì luật pháp sẽ quy định ai là

nước đều quy định rằng cũng như với hợp đồng dân sự, hợp đồng ngoại thương nói
chung và nhập khẩu nói riêng phải chấp hành 3 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc chấp hành hiện thực và thực hiện đúng về mặt đối tượng, không
được thay thế việc thực hiện đó bằng việc đưa một khoản tiền nhất định hoặc
dưới một hình khác,
- Nguyên tắc chấp hành đúng: tức là thực hiện tất cả các điều khoản đã cam
kết.Mọi quy định trong hợp đồng đều phải thực hiện đúng và đầy đủ.
- Nguyên tắc chấp hành trên tinh thần hợp tác hai bên cùng có lợi: Các bên có
nghiã vụ hợp tác chặt chẽ, thường xuyên và theo dõi giúp đỡ lẫn nhau để thực
hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh cam kết, cùng nhau khắc phục khó khăn trong
quá trình thực hiện hợp đồng ngay cả khi có tranh chấp xảy ra.
Nếu một trong hai bên không tuân thủ 1 trong 3 nguyên tắc nói trên thì sẽ bị coi
là vi phạm hợp đồng và chịu trách nhiệm với bên kia.

2.2 Trình tự thực hiện hợp đồng nhập khẩu ( NK )
Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu đơn vị kinh doanh phải tiến hành các
khâu công việc sau:

Bước 1: Xin giấy phép nhập khẩu:
Giấy phép nhập khẩu là một tiêu đề quan trọng trong mỗi chuyến hàng nhập
khẩu . Thủ tục xin giấy phép nhập khẩu ở mỗi nước là khác nhau. ở Việt nam, hàng
năm hoặc 6 tháng một lần Bộ Thương mại công bố danh mục hàng cấm nhập khẩu ,
hàng nhập khẩu theo hạn nghạch.

Khi xin giấy phép nhập khẩu doanh nghiệp cần xuất trình giấy tờ sau: hợp đồng,
phiếu hạn nghạch,( nếu hàng thuộc diện quản lý, hàng hạn nghạch), hợp đồng uỷ thác
nhập khẩu ( nếu đó là trường hợp nhập khẩu uỷ thác) Việc cấp giấy phép nhập khẩu do
Bộ thương mại ( hàng mậu dịch) và Tổng cục Hải quan( hàng phi mậu dịch) cấp .



- Tính chất bao bì và phương pháp xếp hàng
- Loại tàu chuyên chở


Bước 5: Làm thủ tục hải quan
Theo nghị định 200/ CP ngày 31/12/1973 “ Cơ quan vận tải ( ga, cảng) có trách
nhiệm tiếp nhận hàng hoá NK trên các phương tiện vận tải từ nước ngoài vào, bảo quản
hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho lưu bãi và giao cho các đơn vị đặt hàng
theo lệnh giao hàng của Tổng công ty đã nhập ở đó”. Do đó, đơn vị kinh doanh NK
phải trực tiếp hoặc thông qua một đơn vị nhập uỷ thác giao nhận.


Bước 7: Kiểm tra hàng hoá NK
Công ty sau khi nhận hàng hoá phải kiểm tra hàng hoá: Kiểm tra chất lượng, số
lượng, khối lượng.. Nếu không thấy hợp lý như trong hợp đồng NK có quyền yêu cầu
bên nhập khẩu đền bù thiệt hại hoặc giao lại lô hàng khác..


Bước 8: thanh toán tiền hàng
Sau khi nhận hàng hóa nhập khẩu , kiểm tra không sai sót gì, thì bên nhập khẩu
sẽ phải thanh toán tiền hàng nhập khẩu như đã thoả thuận trong hợp đồng.

Có nhiều phương thức thanh toán tiền hàng, tuùy thuộc vào từng hợp đồng nhập
khẩu quy định mà thanh toán cho hợp lý. Thực tế thì có các loại thanh toán chủ yếu sau:
Thanh toán bằng thư tín dụng, thanh toán bằng phương thức nhờ thu, điện chuyển tiền..


Bước 9: Khiếu nại và giải quyết khiếu nại.
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng XNK phát hiện thấy rằng nhập
khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, bị thiếu hụt, mất mát thì lập hồ sơ khiếu nại để khỏi lỡ thời gian

Khi vi phạm hợp đồng nhập khẩu, thụ trái sẽ được miễn trách nhiệm nếu chứng
minh họ gặp được một trong các căn cứ miễn trách sau:
- Lỗi của trái chủ
- Lỗi của bên thứ ba
- Gặp trường hợp bất ngờ
- Gặp trường hợp bất khả kháng
Trong bốn căn cứ trên, bất khả kháng là trường hợp hay gặp nhất trong buôn bán
quốc tế như thiệt hại do không lường trước được, do không vượt qua được, do xảy ra
bên ngoài và độc lập với các bên. Vì luật pháp các nước quy định về bất khả kháng là
khác nhau nên khi ký hợp đồng người ta phải liệt kê một cách cụ thể các trường hợp coi
là bất khả kháng, đồng thời người thụ trái phải trực tiếp báo cho bên kia toàn bộ sự việc
từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết thúc bằng một văn bản.

3.3. Chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nhập khẩu
Khi vi phạm hợp đồng nhập khẩu, thụ trái phải chịu trách nhiệm dân sự này được
thể hiện thông qua 4 loại chế tài sau:


Chế tài phạt:
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

15
Phạt là một hình thức trách nhiệm, một loại chế tài được áp dụng phổ biến đối
với vi phạm hợp đồng ngoại thương. Luật pháp các nước đều cho phép trái chủ có
quyền yêu cầu thụ trái trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng nếu như
trong hợp đồng hoặc các văn bản có liên quan, có mức quy định mức phạt và sau khi đã
nộp tiền phạt rồi thì không phải bồi thường thiệt hại nữa, trừ nhứng trường hợp cá biệt
đã quy định cụ thể. Có hai loại phạt là phạt bội ước và phạt vạ:

Phạt bội ước: Là bên thụ trái phải nộp số tiền nhất định và sau khi nộp phạt thì

gián tiếp và thiệt hại xã hội, đột xuất mà khi ký kết hợp đồng không thể lường được.


Chế tài thực hiện thực sự:
Chế tài này được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp về việc không giao hàng,
giao thiếu hàng, hàng có phẩm chất xấu, khi người mua không trả tiền hàng.. Khi có
những vi phạm này, bên vi phạm vẫn phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ quy
định trong hợp đồng. Điều này có nghĩa là nếu người bán không giao hàng, người mua
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

16
có quyền buộc người bán thực hiện thực sự giao hàng bằng chính số hàng dự kiến. Nếu
không có hàng thì người bán phải mua hàng khác với cùng phẩm chất để giao và tự trả
chi phí.

Khi bên bị vi phạm đòi bên vi phạm thực hiện thực sự mà không được thoả mãn,
thì họ có quyền kiện ra toà án để buộc bên vi phạm phải thực hiện. Chế tài này có thể
áp dụng đồng thời với chế tài phạt.


Chế tài huỷ hợp đồng.
Chế tài này được coi là nặng nhất đối với người bị vi phạm hợp đồng. Điều kiện
để áp dụng chế tài này không giống nhau ở các nước khác. Theo công ước Viên - 1980
thì việc huỷ hợp đồng chỉ được áp dụng khi không giao hàng hoặc không trả tiền trong
thời gian đã gia hạn thêm hoặc khi vi phạm một cách cơ bản hợp đồng đã được ký kết.

Để cho việc hủy hợp đồng có hiệu lực thì bên vi phạm hợp đồng phải sẵn sàng
làm mọi nghĩa vụ cuả mình và thông báo cho phía bên kia biết quyết định huỷ hợp đồng
của mình. Trường hợp đã nhận hàng thì các bên tự phải thương lượng giải quyết với
nhau hoặc nhờ trọng tài giải quyết.

chóng và tự nguyện liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng nhằm tháo gỡ những bất
đồng và giữ gìn mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp giữa họ. Nếu việc thương lượng thành
công thì các bên phải tuân thủ thực hiện, còn nếu không thì phải nhờ trọng tài giải
quyết.
+ Hoà giải các tranh chấp.
Đây là phương thức được nhiều nhà kinh doanh nghiên cứu sử dụng, được pháp
luật của nhiều nước đề cập tới. Việc hoà giải phải được dựa trên một số nguyên tắc sau:
Sự tự nguyên của các bên, sự khách quan, sự công bằng, hợp lý, sự tôn trọng các tập
quán thương mại quốc tế, đảm bảo bí mật tài liệu, chứng cứ của các bên trong hoà giải.
+ Thủ tục hoà giải.
Đây là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn. Trọng
tài sau khi nghiên cứu kỹ hồ sơ sẽ đưa ra quyết định có tính bắt buộc đối với các bên
tham gia tranh chấp. Phán quyết này được luật pháp quốc gia cũng như quốc tế công
nhận, cho dù nó kết quả của sự thoả thuận có tính chất riêng tư hay do một hội đồng
trọng tài ban hành ( kể cả hội đồng đó không còn tồn tại sau phán quyết). Nếu bên nào
không thực hiện phán quyết này thì sẽ bị cưỡng chế thi hành đúng theo trình tự tư pháp.
Do được lập cùng với các điều khoản khác nên ngay cả khi hợp đồng chính đã kết thúc
hoặc vộ hiệu, thì cũng không làm điều khoản trọng tài vô hiệu một cách tương ứng.
+ Thủ tục tư pháp toà án.
Việc giải quyết tranh chấp theo phương thức này được thực hiện tại chính toà án
của một nước nào đó. Do tố tụng tư pháp ở từng nước là khác nhau nhưng lại mang một
số nét chung đã tạo nên ưu thế và nhược điểm của từng phương thức này. Tuy nhiên,
vấn đề phức là cần xác định được toà án được chọn, hiệu lực thi hành án ở các nước
liên quan, tính khách quan của Toà án đối với nước ngoài tham gia tố tụng, thời gian và
chi phí tố tụng. Nếu các bên không thoả thuận về luật nước nào để giải quyết tranh chấp
thì thẩm phán sẽ áp dụng nguyên tắc xung đột pháp luật áp dụng cho hợp đồng.
Việc giải quyết theo thủ tục theo Toà án là mang tính quyền lực Nhà nước; Bản
án được cưỡng chế thi hành và có tính dứt điểm trên quốc gia đó.

5. Luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu.
Tuy nhiên, để hợp đồng NK có hiệu lực thì trước hết nó phải tuân thủ pháp luật
quốc gia mà các chủ thể mang quốc tịch. Theo điều 3 – Luật thương mại Việt nam “
Các hoạt động thương mại và các quy định pháp luật khác có liên quan” Cũng theo luật
Thương mại, các bên trong hợp đồng có thể áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước
ngoài và tập quán quốc tế trong hoạt động Thương mại và các trường hợp:

Điều ước quốc tế nà Nhà nước Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
với quy định của luật Thương mại Việt nam thì các bên trong hợp đồng áp dụng quy
định của điều ước quốc tế.

Các bên có thoả thuận áp dụng luật nước ngoài nếu không trái với pháp luật Việt
nam, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định
áp dụng luật nước ngoài.

Các bên có thể thoả thuận áp dụng tập quán Thương mại quốc tế nếu nó không
trái với pháp luật Việt nam.

Như vậy, trong mua bán quốc tế các bên hoàn toàn có quyền tự do thoả thuận
nguồn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng của mình. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là

điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng XNK thì các điều khoản đó đương nhiên được áp
dụng.

Trên thực tế, việc lựa chọn luật nước nào phụ thuộc vào quá trình đàm phán, thế
lực của người đàm phán và đặc biệt là sự hiểu biết của mỗi bên của luật pháp nước
mình và nước bạn.

5.2 Điều ước quốc tế.
Khi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nhập khẩu liên quan đến vấn đề nhưng
không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong trường hợp đồng, các bên có
thể dựa vào các điều quy ước quốc tế và ngoại thương.

Đối với những điều ước quốc tế mà Việt nam không ký, chưa ký hoặc không
thừa nhận thì không có giá trị bắt buộc đối với chủ thể Việt nam trong hợp đồng nhập
khẩu chúng chỉ trở thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu , nếu các bên thoả
thuận dẫn tới trong hợp đồng.

Nếu trong điều ước quốc tế về ngoại thương có những quy định khác với pháp
luật Việt Nam ( mà Việt Nam chưa tham gia ký kết hoặc công nhận) thì có quyền bảo
lưu, tức là chỉ áp dụng từng chương, mục của công ước nếu không trái với pháp luật
Việt nam.

5.3. Tập quán thương mại quốc tế
Tập quán thương mại quốc tế là những thói quen phổ biến được nhiều nước áp
dụng và công nhận rộng rãi. Thông thường, các tập quán thương mại quốc tế
được chia làm 3 nhóm:

- Tập quán có tính chất nguyên tắc: Là những tập quán cơ bản bao trùm được
hình thành trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và bình đẳng giữa các quốc
gia.

với từng trường hợp cụ thể.

+ Nếu trung tâm trọng tài được lựa chọn theo thoả thuận trong hợp đồng có áp
dụng án lệ vào xét xử tranh chấp thì các đương sự cũng phải áp dụng.

+ Khi các Nghị định đã được ký kết giữa các quốc gia thì nó sẽ trở thành nguồn
luật đương nhiên đôí với các bên của các quốc gia đó và có giá trị bắt buộc đối với hợp
đồng nhập khẩu có liên quan. Các bên có thể dựa vào đó mà không cần phải có sự thoả
thuận nào, tức là chỉ cần áp dụng và nhờ đó mà hoạt động buôn bán thương mại quốc tế
được thuận lợi nhanh chóng hơn, tiết kiệm chi phí, thời gian cho các thương nhân.

Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

21
Phần II:
Thực trạng hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu ở Công ty vận tải
và Đại ly vận tải - Hà nội ( VITACO).

I. Khái quát chung về Công ty vận tải và đại lý vận tải - hà nội.

1. Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty vận tải và đại lý vận tải - Hà nội, tên giao dịch quốc tế là VITACO, trụ
sở tại số 4 Ngô Quyền- Hà nội. Công ty là một thành viên của Tổng công ty xuất nhập
khẩu nông sản và thực phẩm chế biến Hà Nội, được thành lập năm 1970. Tiền thân của
Công ty là Xí nghiệp vận tải của Tổng cục trang bị kỹ thuật, Bộ nông nghiệp.

Trải qua 30 năm phát triển, Công ty Vận tải và Đại lý vận tải thăng trầm với sự

2.2 Nhiệm vụ:
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

22
Xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ và điều kiện xuất nhập khẩu

Cung cấp dịch vụ tuân theo luật hiện hành của Nhà nước và Bộ thương mại.

Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh, cơ sở vật chất theo đúng chế độ chính sách,
đạt hiều quả kinh tế cao, đảm bảo phát triển vốn và sự trang trải về tài chính.

Chấp hành đầy đủ các cam kết trong hợp đồng mua bán, liên doanh, hợp tác với
các tổ chức kinh tế và cá nhân.

Chủ động điều phối các hoạt động kinh doanh và quản lý các đơn vị trực thuộc
theo phương án tối ưu, thực hiện các mục tiêu đề ra.

Quản lý đội ngũ cán bộ, công nhân viên Công ty theo chế độ, chính sách của
Nhà nước và phân cấp của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật về mọi mặt.
Hoàn thành kế hoạch các chỉ tiêu Nhà nước đặt ra, kinh doanh đúng pháp luật,
đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra.

Phát huy ưu thế uy tín hàng nội địa trên thương trường Quốc tế, mở rộng củng
cố và phát triển mối quan hệ làm ăn với bạn bè quốc tế.

Với chức năng nhiệm vụ trên, trải qua 30 năm hoạt động, Công ty đã không
ngừng phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch của Nhà nước và Tổng công ty giao
cho, mục tiêu chiến lược kinh doanh luôn đảm bảo đúng pháp luật, quán triệt phương


 Phó giám đốc: Là những người giúp việc cho giám đốc, chịu trách nhiệm
trước Giám đốc về các công việc mà mình đảm nhiệm.

 Kế toán trưởng: Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc, có trách nhiệm
giúp Giám đốc tổ chức, chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán, thống kê,
thông tin kinh tế, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty theo
quyết định của Nhà nước.

* Các phòng chức năng của Công ty:
Các phòng ban chức năng của Công ty do Giám đốc quyết định theo Điều lệ của
Công ty, đảm bảo tinh giảm và hoạt động có hiệu quả hiện nay Công ty có các phòng
ban như sau:

 Phòng Tổ chức nhân sự: Trong quá trình hoạt động phòng có nhiệm vụ chính
là tuyển lựa các lao động có đầy đủ năng lực và trình độ vào những nơi còn
thiếu tổ chức sắp xếp và thực hiện chế độ đối với cán bộ công nhân viên
trong Công ty và giúp Giám đốc nghiên cứu và xây dựng bộ máy phù hợp,
xây dựng quy chế nội quy, quy định của sản xuất.

 Phòng Kế hoạch sản xuất: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất, phương
hướng sản xuất kinh doanh, tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh Vận tải và
Đại lý vận tải xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, tổng hợp kết
quả, báo cáo lãnh đạo.

 Phòng kinh doanh tổng hợp: Phòng có chức năng chủ yếu nhưu xây dựng kế
hoạch phương hướng kinh doanh tổng hợp, khai thác các nguồn hàng xây
dựng phương án tổ chức điều hành kinh doanh tổng hợp, tổng hợp đánh giá
kết quả kinh doanh tổng hợp.


Là một công ty chuyên về Xuất nhập khẩu, mà chủ yếu kinh doanh về vận tải và
đại lý vận tải. Mặc dù vậy, nhưng hoạt động kinh doanh XNK khá sôi động và đem lại
lợi nhuận khá lớn, góp phần vào công cuộc phát triển của Công ty. Phạm vi kinh doanh
của Công ty mang tính tổng hợp, kinh doanh XNK tất cả các hàng hoá mà Nhà nước
Việt nam không cấm xuất khẩu, nhập khẩu. Về mặt hàng XNK của Công ty phụ thuộc
vào rất nhiều vào bạn hàng và thị trường trong nước. Bởi vì việc kinh doanh XNK đối
với Công ty còn mới, bắt đầu từ năm 1998 đến nay. Do đó chủ yếu là Công ty nhận
XNK uỷ thác cho các công ty và thương nhân có nhu cầu. Điều này nó ảnh hưởng đến
việc kinh doanh XNK của Công ty. Công ty không làm chủ được mặt hàng kinh doanh
cuả mình. Trong thời gian vừa qua, Công ty đã nhận uỷ thác XNK những mặt hàng chủ
yếu sau:
- Nguyên liệu để sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng hàng ngày của dân chúng
như nguyênliệu sản xuất mút( Voranol *3010 ).
- Thiết bị vệ sinh.
- Giấy và bột giấy từ mọi nguyên liệu.
- Các loại đồ dùng trong nhà ăn, gia đình, khách sạn.
- Hàng nông lâm, thổ sản.
- Quạt điện các loại.

Công ty vận tải và đại lý vận 0tải kinh doanh XNK chịu sự ảnh hưởng cuả nhiều
yếu tố. Chẳng hạn như chịu sự ảnh hưởng hết sức phức tạp của môi trường bên ngoài và

Trích đoạn Đặc điểm hoạt động kinh doanh của cụng ty vận tải và đại lý vận tải – hà nội. Kết quả thực hiện hợp đồng nhập khẩu Tỡnh hỡnh thực hiện họp đồng nhập khẩu của Cụng ty 3 1 Hiệu quả thực hiện hợp đồ ng ĐỊNH HƯỚNG XNK HÀNG HOÁ CỦA CễNG TY VITACO HÀ NỘ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status