Dịch vụ hàng hoá tại cảng biển - thực trạng & giải pháp - Trần Phương Thuỳ - Pdf 72

Chơng 1
Tổng quan về Một số dịch vụ hàng hóa
tại Cảng Biển
I. Khái quát chung về cảng biển
1. Sự hình thành và phát triển
a. Giai đoạn trớc thế kỷ XV
Ngay từ thế kỷ thứ V trớc công nguyên con ngời đã biết lợi dụng biển
làm các tuyến đờng giao thông để giao lu các vùng, các miền, các quốc gia trên
thế giới. Loài ngời thủa ấy luôn khao khát chinh phục biển cả vì biển cả hết sức
rộng lớn chiếm tới 71% trái đất. Cùng với sự tiến bộ của xã hội loài ngời là sự
phát triển không ngừng của ngành hàng hải với những thành tựu hết sức to lớn
nh phát minh ra la bàn, kỹ thuật đóng thuyền buồm, những hiểu biết về thuật đi
biển con ng ời đã chinh phục đợc biển Địa Trung Hải, biển Đen, biển Hồng
Hải. Gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngành hàng hải là sự phát triển
của cảng biển. Lúc đầu cảng chỉ đợc coi là nơi tránh gió to, bão lớn của các loại
tàu bè. Trang thiết bị của cảng biển lúc bấy giờ rất đơn giản và thô sơ. Trong
lịch sử cổ đại, thơng cảng nổi tiếng và sầm uất nhất là thơng cảng Alecxandria
với một trang thiết bị cảng biển tiêu biểu cũng nổi tiếng không kém là ngọn hải
đăng Alexandria
b. Giai đoạn từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX
Sự kiện nhà thám hiểm Colombia băng qua Đại Tây Dơng tìm ra châu
Mỹ vào đầu thế kỷ XV đánh dấu một bớc ngoạt lớn trong lịch sử hàng hải. Việc
Đại Tây Dơng đợc chinh phục và miền đất hứa châu Mỹ đợc tìm thấy đã góp
phần quan trọng thúc đẩy quá trình vận tải hàng hóa bằng đờng biển. Thêm vào
đó là sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và quá trình chuyên
môn hóa sản xuất đã tạo ra một khối lợng hàng lớn nảy sinh nhu cầu cấp thiết
1
phải trao đổi, thông thơng quốc tế khiến vận tải biển có vai trò ngày một to lớn
trong thơng mại quốc tế. Sở dĩ nh vậy là vì vận tải biển có năng lực vận chuyển
lớn, thích hợp với việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hóa, ngoài ra chi phí
xây dựng các tuyến đờng hàng hải thấp vì hầu hết là các tuyến đờng giao thông

- Đến năm 1977 trên thế giới đã có 38 tuyến Container nối bờ biển Đông,
Tây và các cảng hồ lớn của Mỹ với hơn 100 cảng khác trên thế giới.
Năm 1980, công ớc của liên hợp quốc về vận tải đa phơng thức quốc tế đ-
ợc ký kết tại Geneva tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển vận tải container và
vận tải đa phơng thức trên phạm vi toàn thế giới. Vận tải container tiếp tục phát
triển khong chỉ ở các nớc phát triển mà còn lan sang các nớc đang phát triển.
Trớc sự thay đổi lớn lao của ngành vận tải, hệ thống cảng biển trên thế giới
cũng có sự đổi mới. Nhu cầu vận tải container đòi hỏi có những cảng nớc sâu
để chuyên phục vụ tàu container với những trang thiết bị xếp dỡ hàng container
phức tạp và hiện đại. Năm 1981 cảng Rotterdam đã thay thế vị trí cảng New
York và trở thành cảng container lớn nhất trên thế giới. Năm 1989 cảng Hồng
Kông thay thế cảng Rotterdam trở thành cảng containner lớn nhất trên thế giới.
Ngoài ra một số cảng container khác có khối lợng container thông qua lớn trên
thế giới nh: Singapore, Hamburg, Los Angeles, Yokohama Cảng biển hiện
nay thực hiện các chức năng và nhiệm vụ rất khác nhau. Do đó kỹ thuật xây
dựng trang thiết, cơ cấu tổ chức của cảng cũng rất khác nhau và ngày càng đợc
hiện đại hóa.
Cảng biển đợc phân thành nhiều loại tùy theo tiêu chuẩn quy định. Theo
mục đích sử dụng thì có: cảng buôn, cảng quân sự, cảng cá, cảng trú ẩn
Đối với cảng buôn lại đợc phân thành nhiều loại: cảng sông biển, cảng
nội địa cảng quốc tế, cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng
ở Việt Nam, trong suốt thời kỳ phong kiến, nền kinh tế nớc ta bị bế quan
tỏa cảng nên trì trệ không phát triển. Tuy nhiên do sự phát triển xã hội, và nhu
cầu cần trao đổi, thông thơng nên cũng hình thành nên những thơng cảng sầm
uất, tiêu biểu nh Hội An, Phố Hiến Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp
cũng cho xây dựng cảng biển tại Việt Nam để phục vụ mục đích quân sự và vận
3
chuyển hàng hóa. Tiêu biểu là cảng Hải Phòng - cảng lớn nhất khu vực phía
Bắc, ngoài ra phía nam còn có cảng Sài Gòn.
Hiện nay, trong thời kỳ mới, Việt Nam chú trọng phát triển hệ thống

bên ngoài. Hơn thế nữa sự đóng góp của cảng biển từ các dịch vụ vào ngân sách
nhà nớc là đáng kể đặc biệt đối với những nớc có nhiều cảng biển hoặc có vị trí
địa lý chiến lợc nh: Singapore, Hà Lan, Hồng Kông Các cảng biển đem đến
sự đông đúc, sầm uất, giàu có cho các thành phố có cảng vì nó thu hút một số l-
ợng lớn dân c từ lao động trí óc tới lao động chân tay đến đây và kéo theo sự
phát triển của hàng loạt các dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí, hỗ trợ, t vấn
Cùng với việc đem lại nguồn lợi nhuận cho quốc gia, các dịch vụ hàng hóa tại
cảng biển còn góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp vì nó tạo ra rất nhiều công
ăn việc làm cho ngời lao động. Rất nhiều cảng biển và thành phố cảng trên thế
giới trở nên nổi tiếng và trở thành niềm tự hào và bộ mặt quốc gia.
Những chỉ số phản ánh mối tơng quan giữa phát triển cảng biển với nền
kinh tế quốc gia là chỉ tiêu về bình quân qua hàng qua cảng theo đầu ngời năm,
chỉ tiêu khối lợng hàng qua cảng trên thu nhập tổng sản phẩm quốc nội, mối
quan hệ tốc độ tăng trởng hàng hóa qua cảng với tổng sản phẩm quốc nội... Các
chỉ số này ở Việt Nam năm 1993 nh sau: bình quân hàng qua cảng theo đầu ng-
ời là 0,35 tấn/ngời/năm; khối lợng hàng qua cảng trên GDP là 1- 1,1 kg/USD và
tốc độ tăng khối lợng hàng hóa thông qua cảng và tốc độ tăng GDP là 1,07 tức
là khối lợng hàng hóa thông qua cảng tăng 1,07% thì GDP tăng1%. Năm 2000
các chỉ số này lần lợt là 1,07 tấn/ngời /năm; 2,57 kg/USD và 1,002. Nhìn vào
5
các con số này ta thấy khối lợng hàng hóa thông qua cảng năm 2000 so với năm
1995 đã tăng lên rất cao và mức tăng của khối lợng hàng hóa cao hơn mức tăng
GDP. Điều đó chứng tỏ sự đóng góp của các dịch vụ hàng hóa tại cảng biển vào
ngân sách nhà nớc ngày càng nhiều và chiếm tỷ trọng đáng kể trong quốc khố.
Với tiền năng của biển Việt Nam, các chỉ số này so với khu vực còn thấp, tuy
nhiên các cảng biển Việt Nam đặc biệt là các cảng lớn nh Sài Gòn, Hải Phòng,
Đà Nẵng, Quảng Ninh vẫn đã và đang là động lực to lớn thúc đẩy quá trình phát
triển kinh tế, xã hội của mỗi vùng nói riêng và cả nớc nói chung. Các cảng biển
thực sự là cửa ngõ giao lu, là cầu nối đa nền kinh tế nớc ta từng bớc tiếp cận và
hoà nhập với nền kinh tế phát triên của khu vực và thế giới.

Mạch
28649 28696 57345 37899 38030 75928 31661 31787 63448
Hy Lạp 18177 19003 37180 16169 16090 32259 17312 18053 35364
Tây Ban
Nha
1687 974 2661 1430 1038 2468 106 117 223
Pháp 15233 15203 30436 16576 16548 33124 15426 15400 30825
Ailen 1468 1449 2912 2315 2291 4605 2385 2413 4798
Italia 42744 42695 85439 40128 40056 80184 40398 40223 80621
Hà Lan 976 973 1949 974 989 1964 928 912 1840
Phần Lan 8096 8051 16146 7617 7574 15191 8012 7974 15986
Bồ Đào
Nha
237 235 472 19 15 34 238 235 473
Thuỵ
Điển
20914 20660 41574 20054 19833 39877 20476 20312 40788
Anh 17942 17942 35816 17951 18020 35971 18407 18478 36885
Nguồn: Eurosat (Maritime database); Belgium: National satistics2002
Nhờ có hệ thống cảng biển và vận tải biển mà số lợng du khách tăng lên
đáng kể do giá vé giảm hơn các phơng tiện khác. Chính điều đó đã góp phần
7
phát triển ngành du lịch và nhu cầu đi lại của mọi ngời khắp mọi nơi trên thế
giới.
II. Khái niệm về dịch vụ hàng hóa tại cảng biển
1. Định nghĩa dịch vụ và phân loại dịch vụ
Theo từ điển Oxford, có nhiều cách định nghĩa dịch vụ (service):
- Là một hệ thống cung cấp việc gì đó mà cộng đồng cần, do Nhà nớc
hay công ty t nhân tổ chức; hay
- Là một tổ chức hay công ty làm một việc gì đó cho cộng đồng hay làm

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, vận tải là một ngành sản xuất vật
chất đặc biệt. Sản phẩm của vận tải là sự dịch chuyển hàng hóa, hành khách từ
một điểm này đến một điểm khác. Vận tải không làm tăng giá trị sử dụng của
hàng hóa nhng làm thay đổi giá trị của hàng hóa.
Cùng với thời gian, quan niệm về vận tải là một ngành sản xuất vật chất
đặc biệt cũng đã có thay đổi. Theo các số liệu thống kê, nền kinh tế quốc dân
chia thành ba khối: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Cách phân chia này là
cách phân chia phù hợp với các nớc trên thế giới ngày nay. Và nh vậy, vận tải sẽ
là một trong các hoạt động đợc liệt kê vào dịch vụ vận tải.
ở nớc ta cha có sự phân loại dịch vụ cụ thể và thống nhất:
Theo cách phân chia ngành nghề đăng ký kinh doanh mới đây nhất tại
thông t liên tịch số 07/2001/TTLT-BKH-TCKT ngày 1/11/2001 của liên Bộ Kế
hoạch và đầu t, Tổng cục Thống kê hớng dẫn ngành nghề đăng ký kinh doanh
thì ngành nghề đợc chia làm 14 nhóm:
- Nông nghiệp và Lâm Nghiệp.
- Thủy sản.
- Công nghiệp khai thác mỏ.
- Công nghiệp chế biến.
- Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nớc
9
- Thơng nghiệp, sản xuất xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân
và gia đình.
- Khách sạn và nhà hàng.
- Vận tải kho bãi và thông tin liên lạc.
- Tài chính tín dụng.
- Hoạt động khoa học và công nghệ.
- Các hoạt động liên quan đến tài sản và dịch vụ t vấn.
- Giáo dục và đào tạo.
- Hoạt động văn hóa, thể thao.
- Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng.

Dịch vụ này chiếm tỷ trọng lớn trong khối dịch vụ kinh doanh khai thác cảng
biển nói chung và các dịch vụ hàng hóa nói riêng.
- Dịch vụ giao nhận hàng hóa
Là dịch vụ do cảng thực hiện dựa trên hợp đồng ký kết giữa chủ hàng và
cảng. Dựa trên hợp đồng, cảng sẽ cung cấp hàng loạt các dịch vụ hàng hóa theo
yêu cầu của chủ hàng. Ngoài các dịch vụ phổ biến nh xếp dỡ, lu kho và bảo
quản hàng hóa cảng còn thực hiện các dịch vụ khác nh:
+ Sữa chữa bao bì
+ Làm thủ tục hải quan
+ Xếp dỡ bảo quản hàng nguy hiểm
- Dịch vụ hàng quá cảnh (chuyển tải quốc tế)
Dịch vụ này rất phát triển tại các nớc có cảng biển hiện đại và có vị trí
địa lý thuận lợi nh: Singapore, Hà Lan, Hong Kong Dịch vụ này không chỉ
đem lại nguồn thu lớn mà còn góp phần thúc đẩy các dịch vụ xếp dỡ, lu kho
phát triển theo.
* Dịch vụ liên quan đến tàu
11
Dới đây là các dịch vụ liên quan đến tàu tại cảng biển:
- Dịch vụ sửa chữa tàu biển.
- Dịch vụ lai dắt tàu biển.
- Dịch vụ vệ sinh tàu biển.
- Dịch vụ cung ứng tàu biển.
- Dịch vụ đại lý tàu biển.
- Dịch vụ đại lý vận tải đờng biển.
- Dịch vụ môi giới hàng hải.
b. Theo phân loại của WTO
Theo phân loại của WTO thì các dịch vụ hàng hóa tại cảng biển nằm
trong nhóm các dịch vụ bổ trợ cho loại hình vận tải đợc phân chia theo mã số và
nhóm sau:
Nhóm các dịch vụ bổ trợ cho loại hình vận tải (Services auxiliary to all

vận tải thống nhất nh thế nào để quyết định phạm vi hậu phơng phục vụ của
cảng. Thông thờng trong một cảng có hệ thống đờng bộ, đờng sất, đờng thủy
phục vụ vận chuyển hàng hóa từ cảng vào hậu phơng và ngợc lại.
- Các trang thiết bị khác phục vụ cho việc giao dịch kinh doanh và quản
lý nh hệ thống thông tin liên lạc, điện nớc, nhà làm việc, câu lạc bộ
13
III. Một số dịch vụ hàng hóa tại cảng biển
1. Dịch vụ xếp dỡ
a. Định nghĩa
Theo quy định của tổ chức thơng mại quốc tế(World Trade Organization-
WTO), dịch vụ xếp dỡ hàng hóa hoạt động của các công ty xếp dỡ, bao gồm cả
ngời khai thác cầu bến, nhng không bao gồm các hoạt động trực tiếp của công
nhân bốc xếp khi lực lợng này độc lập với các công ty xếp dỡ hay khai thác cầu
cảng. Hoạt động này gồm:
- Xếp dỡ hàng hóa vào/từ tàu.
- Buộc /cởi dây hàng hóa.
- Nhận/giao và trông coi hàng hóa trớc khi xếp hàng lên tàu hay sau khi
dỡ hàng.
Theo định nghĩa trong thể lệ bốc dỡ, giao nhận và bảo quản hàng hóa tại
cảng Việt Nam ngày 23/7/1997 có quy định: xếp hàng là việc đa hàng từ cảng
hoặc hàng từ phơng tiện vận chuyển khác đến cảng để xếp hàng đó lên tàu.
Còn dỡ hàng là đa hàng từ tàu lên cảng hoặc phơng tiện khác.
Tuy nhiên, trong trờng hợp hàng hóa có số lợng ít, chủ hàng không chủ
động trong việc ký kết hợp đồng, cảng có thể vẫn chủ động xếp dỡ và giao hàng
hóa theo tập quán quốc tế và phù hợp với luật Việt Nam.
b. Các nghiệp vụ bốc dỡ
Cảng biển thực hiện dịch vụ xếp dỡ trên cơ sở hợp đồng đợc ký kết giữa
cảng và chủ hàng, ngời chuyên chở hoặc ngời đợc ủy thác.
Theo tập quán quốc tế, đối với hàng xuất khẩu, sau khi chủ tàu lên sơ đồ
xếp hàng, chủ hàng với phòng điều độ lên kế hoạch xếp và giao hàng cho tàu.

điểm của hàng hóa để có những biện pháp bốc dỡ thích hợp và nếu cần chủ
hàng hoặc ngời đợc ủy thác phải trực tiếp hớng dẫn cảng việc bốc dỡ hàng hóa
đó.
15
- Tàu phải chăm lo đủ ánh sáng trong hầm hàng và các nơi cần thiết khác
cũng nh các trang thiết bị làm hàng khác để đảm bảo an toàn cho việc bốc dỡ
hàng hóa.
- Cảng có quyền từ chối hoặc đình chỉ việc bốc dỡ hàng hóa trong các tr-
ờng hợp tàu không đủ điều kiện an toàn để làm hàng. Trong trờng hợp này,
cảng và các bên có liên quan phải lập biên bản xác nhận các vi phạm quy định
về đảm bảo an toàn bốc dỡ hàng hóa.
- Cảng có quyền từ chối không nhận bốc dỡ những hàng hóa không có ký
mã hiệu hoặc ký mã hiệu không rõ ràng hoặc bao bì không đảm bảo an toàn
trong khi bốc dỡ. Trờng hợp hàng hóa có trọng lợng thực tế không đúng với
trọng lợng đã ghi trên lợc khai hàng hóa của tàu thì chủ hàng phải chịu mức cớc
xếp dỡ cao hơn mức cớc quy định đối với phần trọng lợng vợt quá so với lợc
khai hàng hóa (mức cớc này do Cảng quy định). Nếu vì sai trọng lợng mà gây
thiệt hại đến phơng tiện thiết bị xếp dỡ của cảng thì chủ hàng có trách nhiệm
bồi thờng cho cảng.
2. Dịch vụ lu kho, bãi
a. Khái niệm kho, bãi
Theo quan niệm cũ, kho bãi đợc định nghĩa là nơi chứa hàng và bảo quản
hàng hóa. Tuy nhiên do sự phát triển của dịch vụ giao nhận kho vận và dịch vụ
logistics nên kho bãi đã có một vai trò và chức năng mới.
Hiện nay theo cách hiểu mới của quốc tế và ngay cả trong các văn bản
của WTO trong những vòng đàm phán gần đây, kho bãi không đợc dùng là
warehouse (nhà kho) mà đợc dùng là terminal (đích cuối cùng) nghĩa là
kho bãi đã trở thành trung tâm đầu mối của quá trình vận tải hiện đại.
Dới đây là những chức năng chủ yếu của kho bãi theo cách hiểu mới:
+ Chứa hàng.

17
quyết thỏa đáng thì cảng đợc xử lý số hàng hóa đó theo quy định của pháp luật.
Cớc, phí lu kho bãi cảng đợc tính theo nguyên tắc lũy tiến theo thời gian.
d. Chứng từ kho hàng
Chứng từ kho hàng là những chứng từ do các xí nghiệp kho hàng tại cảng
cấp cho ngời chủ hàng nhằm xác nhận đã nhận hàng để bảo quản và xác nhận
quyền sở hữu đối với hàng hóa đó.
- Biên lai kho hàng (Warehouse s Receipt)
Là chứng từ do xí nghiệp kho hàng cấp để biên nhận đã lu kho một số
hàng hóa nhất định, trong một thời hạn nhất định. Hàng hóa sẽ đợc giao cho ng-
ời chủ hàng chuyển nhợng bằng cách ký hậu trên biên lai kho hàng.
- Chúng chỉ lu kho (Warrant)
Là chứng từ do xí nghiệp kho hàng cấp cho ngời chủ hàng để xác nhận
hàng hóa đã đợc tiếp nhận bảo quản trong kho. Chứng chỉ lu kho gồm hai phần:
phần chứng nhận lu giữ hàng và phần chứng nhận cầm cố. Phần chứng nhận
cầm cố đợc dùng để vay tiền với sự bảo đảm bằng số hàng đang đợc lu kho.
Muốn nhận đợc hàng hóa từ xí nghiệp kho hàng, ngời đi nhận hàng phải xuất
trình đồng thời cả hai phần nói trên của chứng chỉ lu kho.
3. Dịch vụ bảo quản hàng hóa
a. Định nghĩa
Theo tập quán hàng hải quốc tế, có thể hiểu bảo quản hàng hóa trong kho
bãi là việc duy trì hàng hóa trong điều kiện tốt nhất sao cho hàng hóa khi ra
khỏi kho vẫn giữ nguyên tình trạng nh trớc lúc trớc khi vào kho ngoại trừ những
thay đổi tự nhiên mang tính bản chất của hàng hóa.
18
b. Nghiệp vụ bảo quản hàng hóa trong kho, bãi
Sau khi hàng hóa đợc lu kho, trách nhiệm của cảng là phải bảo quản hàng
hóa. Trong trờng hàng hóa lu kho bị h hỏng, tổn thất, cảng phải có trách nhiệm
bồi thờng nếu có biên bản hợp lệ và cảng không chứng minh đợc mình không
có lỗi.

có quy định:
Cảng có trách nhiệm bảo quản hàng hóa lu kho bãi cảng theo đúng kỹ
thuật và thích hợp với từng vận đơn, từng lô hàng.
Cảng có quyền từ chối việc nhận bảo quản và lu kho bãi cảng đối với
hàng hóa không có ký mã hiệu hoặc ký mã hiệu không rõ ràng hay
bao bì không bảo đảm an toàn cho việc lu giữ hàng hóa.
Trờng hợp phát hiện hàng lu ở kho bãi cảng có hiện tợng bị h hỏng,
cảng phải báo cáo ngay cho chủ hàng đến giải quyết đồng thời tiến
hành nhng biện pháp cần thiết để ngăn chặn và hạn chế tổn thất. Chủ
hàng phải chịu mọi chi phí phát sinh cho cảng nếu không chứng minh
đợc rằng những biện pháp do cảng tiến hành là không cần thiết.
4. Dịch vụ đóng gói bao bì và kẻ ký mã hiệu
a. Đóng gói bao bì
- Định nghĩa bao bì
Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Organisation- ISO) ra
đời đã đem đến sự thống nhất về các tiêu chuẩn hàng hóa và dịch vụ trong đó
bao gồm có bao bì hàng hóa xuất khẩu. Tiêu chuẩn hóa bao bì là sự quy định
thống nhất về các yêu cầu và chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật đối với các loại bao bì
nhằm đảm bảo giữ gìn tốt hàng hóa đợc bao gói và tạo điều kiện thống nhất
trong sản xuất, lu thông, tiết kiệm nguyên vật liệu. Bao bì cũng thuận lợi trong
việc bốc dỡ, vận chuyển. Nói một cách khác tiêu chuẩn hóa bao bì tức là thống
nhất hóa bao bì, hạn chế sự đa dạng, nhiều quy cách, cỡ loại có thể có trong sản
20
xuất bao bì thành một số loại hợp lý nhất, áp dụng cho từng loại sản phẩm hoặc
từng nhóm sản phẩm riêng biệt cho từng thời kỳ tơng đối lâu dài. Nó có ý nghĩa
quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất lu thông và sử dụng bao bì.
Nội dung tiêu chuẩn hóa bao bì nh sau:
Về mặt kết cấu: bền chắc, thuận tiện cho việc chứa đựng sản phẩm, thuận
tiện cho việc tháo lắp, làm vệ sinh, định hình và có thể bảo vệ tốt nhất cho sản
phẩm.

thay thế và sữa chữa bao bì, do đó cần phải lựa chọn bao bì phù hợp với tiêu chí
trên. Việc đóng gói bao bì theo một số hớng dẫn kỹ thuật sau:
* Hàng hóa phải đợc xếp gọn gàng trong bao bì, rải đều và đợc chằng
buộc quy cách. Hàng xếp đầy trong hòm gỗ hay trong hòm carton sẽ làm cả
hòm vững chắc.
Hòm đóng không đầy hòm phải kê đệm để chống sóc hay lắc. Cần phải
chống chèn bên trong bằng cách sử dụng ván lót hay chèn lót (gỗ thanh, chiếu,
vỏ bao..)
* Khi lô hàng gom một số kiện nhỏ nên đóng gói gộp lại thành những
kiện to bằng cách chằng buộc chúng với một giá đỡ bằng gỗ (woooden pallet
base).
Việc tập hợp thành một đơn vị lớn nhất thích hợp với yêu cầu trọng lợng,
kích cỡ làm cho khi bốc dỡ giảm tối thiểu nguy cơ trộm cắp, và giảm bớt sự
căng thẳng về làm hàng vì những đơn vị lớn hơn cần sử dụng thiết bị làm hàng
bằng cơ giới hơn là sử dụng kỹ thuật thủ công thô sơ.
Đóng gói pallet hoàn toàn phù hợp với hàng hóa đợc vận chuyển bằng
container mặc dù những hàng hóa đó có thể chuyên chở bằng phơng pháp bình
thờng.
* Khi lựa chọn bao bì thích hợp, cần chú ý khả năng hàng có thể bị xếp
quá tải khi xếp cùng kiện khác trong kho hay dới gầm tàu.
22
* Kỹ thuật chằng buộc dán băng thích hợp cần sử dụng cho tất cả các
kiện hàng.
* Những thể lệ của nớc đến cũng nh nớc chuyển tải (nếu có) cần phải đợc
kiểm tra để bảo đảm là nớc đó không ngăn cấm một số loại vật liệu đóng gói,
đặc biệt đối với vật liệu có hại cho môi trờng.
* Cần kiểm tra kỹ những hòm carton hay hòm gỗ cũ vì những hòm này
rất dễ bẹp, hay dễ h hỏng và có thể dẫn đến mất cắp vặt do hàng hóa lộ ra bên
ngoài.
* Để cải tiến việc xếp dỡ những khối lợng lớn hơn, thiết kế của bao bì

hiệu, địa chỉ, hoặc mã hiệu.
Tên địa chỉ đơn vị nhận hàng, cảng, ga đợc thể hiện bằng tên thật kể
cả ký hiệu địa chỉ, số nhà cơ quan phố.
Số hợp đồng đã đợc ký kết giữa hai bên, ghi mã hiệu và số hợp đồng
hoặc đơn đặt hàng đã ký.
Số lợng hòm kiện của hòm gửi hàng(ví dụ 7/10).
Tên ga cuối cùng nhận hàng; tên thật và tên quốc tế.
Trọng lợng tịnh và trọng lợng cả bì của hàng hóa.
Các tài liệu kèm theo.
24
Các thông tin chỉ dẫn làm hàng (ký hiệu là hàng), hớng dẫn cách chất
xếp, bảo quản, bảo vệ móc cáp, mở bao bì và những điểm cần chú ý
đến tác động của sản phẩm. Một số ký mã hiệu thông dụng gồm:
- Để thẳng theo chiều mũi tên.
- Dễ vỡ tránh va chạm mạnh.
- Tránh ma, tránh ẩm ớt.
- Tránh lửa, tránh ánh nắng mặt trời.
- Cấm lăn, bẩy, lật nghiêng.
- Vị trí móc cáp.
- Trọng tâm của hòm, thùng.
- Chỗ mở hòm.
- Hàng độc hại.
- Cấm dùng tay kéo.
Các ký hiệu làm hàng nêu trên cần đợc ghi tách riêng ra khỏi ký mã hiệu
nhằm tránh nhầm lẫn, nên ghi ở phía ngoài bao bì băng ngôn ngữ của nớc nhập
khẩu nhằm đảm bảo cho ngời làm hàng có thể dễ dàng hiểu đợc.
Hình 1.1. Minh họa ký mã hiệu gửi hàng và xếp một kiện hàng

25
ABC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status