Sự cải thiện tính di động tinh trùng của cá hồi cầu vòng-Oncorhynchus mykiss đực đã được
chuyển đổi giới tính (XX), bằng cách ủ tinh dịch trong môi trường nhân tạo có pH cao.
Tóm tắt
Thay đổi thời gian di động của tinh trùng được thu thập từ tinh hoàn và ống dẫn
tinh bình thường và cá hồi cầu vòng đực chuyển đổi giới tính(XX) trong dung dịch muối
sinh lý cân bằng đã được kiểm tra sau khi ủ trong môi trường nhân tạo có pH cao. Mặt dù
không được xử lý trong môi trường pH cao các tinh trùng trong ống dẫn tinh di động 60s
-90s trong dung dịch muối cân bằng. Trong suốt thời gian ủ trong môi trường nhân tạo có
pH=7 thì các tinh trùng khó di chuyển giống như các tinh trùng trong môi trường muối cân
bằng. Bằng cách trì hoãn và ủ trong môi trường nhân tạo có pH=9.9 trong 2h ở 4
0
C, tỉ lệ
tinh trùng có thể di động tăng từ mức 0-5% đến 80%. Các tinh trùng vẫn di động sau khi ủ
dài hạn (12h) ít nhất là 2 phút. Khi trứng đủ điều kiện thụ tinh với tinh trùng không được
xử lý hay được xử lý với môi trường pH cao trong 2h, thì tỉ lệ sống tăng từ 5.5% đến
53.8% ở giai đoạn mắt trong môi trường có pH cao. Tinh trùng được ủ ở môi trường có pH
cao sẽ tăng khả năng di động đặc biệt đối với những trường hợp mất ống dẫn tinh thì khả
năng di động của tinh trùng rất kém. Bằng cách này, có thể tăng hiệu quả rõ rệt cho sản
xuất số lượng lớn cá toàn cái hay tất cả cá tam bội không có khả năng sinh sản ở thế hệ
con.
Lời mở đầu
Cá toàn cái hay cá không có khả năng sinh sản là mong muốn ngăn chặn những tác
động bất lợi cho sự trưởng thành của cá hồi và cá hồi cầu vòng (Donaldson&Hunter
1982,Lincoln&Scott 1983, Lincoln & Bye 1984, Bye & Lincoln 1986,Benfey et al. 1988,
Quillet et al. 1988, Olito & Brock1991, Johnstone et al. 1991, McGeachy et al.
1995,Ojolick et al. 1995). Các chi nhánh kinh tế đã ảnh hưởng đáng chú ý đến quản lý cá
giống. Giới tính được xác định phần lớn ở các mô hình cá hồi là XY (Johnstone et al.1978,
Donaldson & Hunter 1982, Yamazaki 1983,Devlin&Nagahama 2002). Vì vậy để thế hệ
con là cá toàn cái thì trứng cần được thụ tinh với tinh trùng chỉ mang một nhiễm sắc thể X
(Donaldson et al. 1993). Cho mục đích này, các phương pháp được phát triển để đảm bảo
giới tính cho con cá đực chuyển giới tính(XX), bằng cách tổ hợp di truyền của các cá thể,
O, 0,31g MgCl
2
.6H
2
O, 0,21g NaHCO
3
, 1000ml nước cất. Điều chỉnh pH bằng
cách thêm NaOH 1N. Để so sánh những biến đổi (biến hóa) giữa tinh trùng trong tinh hoàn
và ống dẫn tinh, kiểm tra sự ảnh hưởng của những giá trị pH khác nhau lên mỗi loại tinh
trùng, hai loại tinh trùng này được pha loãng 100 lần với ASPs pH 8.0 và pH 10.5 (ASP
8.0 và ASP 10.5). Sau khi ủ khoảng 10 phút, lấy 0.02 ml dung dịch đã huyền phù cộng với
0.05 ml dung dịch muối sinh lý hòa tan (BSS; 7.5g NaCl, 0.2g KCl, 0.2g CaCl
2
.2H
2
O,
0.02g NaHCO
3
và 1000ml nước cất). Thời gian di động của tinh trùng được quan sát trực
tiếp dưới kính hiển vi. Ngay khi BSS tác động thì được quy ước như là thời gian khởi đầu,
và thời gian di động kết thúc khi tất cả tinh trùng dưới kính hiển vi ngừng di chuyển.
Sau đó, tinh trùng lấy từ tinh hoàn được huyền phù trong ASPs với 3 giá trị pH
khác nhau (ASP 7.4, ASP 8.4, ASP 9.9) và ở nhiệt độ 4
0
C. Những dung dịch huyền phù
này được dùng để kiểm tra thời gian di động và phần trăm tinh trùng di động như nhân tố
quyết định sự di động của những tinh trùng ngay sau khi pha loãng và ủ trong khoảng thời
gian 10, 20, 40, 60, 90, 120, 150 phút. Tính di động của tinh trùng được ghi nhận khoảng
12 giờ trong APS tại một giá trị pH nào đó để kiểm tra ảnh hưởng dài hạn. Để xác định ảnh
hưởng của pH trong ASP, dung dịch mà tinh trùng được ủ trên tỷ lệ sống sót trong giai