THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP BẢO TRÌ VÀ XÂY LẮP CƠ
ĐIỆN HÀ NỘI
I. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP BẢO TRÌ VÀ XÂY LẮP CƠ ĐIỆN HÀ NỘI
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện là một doanh nghiệp nhà nước trực
thuộc Công ty phát triển điện lực và hạ tầng.
Hiện nay trụ sở của Xí nghiệp được đóng tại số 1 An Dương - Hà Nội,
với nhiệm vụ chủ yếu là xây lắp đường dây và trạm biến áp điện từ 110KV
trở xuống.
Về quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp:
Cùng với sự ra đời của Công ty phát triển điện lực và hạ tầng, với mục
đích chuyên môn hoá công việc của các đơn vị thành viên. Tháng 11 năm
1988 Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện được thành lập. Kể từ khi hình
thành cho đến nay Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện đã hoàn thành tốt
chức năng nhiệm vụ của mình góp phần cùng Công ty phát triển điện lực và
hạ tầng xây lắp nhiều công trình trọng điểm thuộc địa bàn Hà Nội như: Tuyến
cáp ngầm và trạm biến áp Đại học Sư phạm I, trạm biến áp tuyến cáp ngầm
EMS, tập thể văn phòng Quốc hội, Viện dầu khí, tuyến cáp ngầm Trần Khắc
Trân... và nhiều công trình xây lắp khác trên toàn khu vực miền Bắc như ở
Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thanh Hoá...
Thành lập khi đất nước mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt
động sản xuất kinh doanh nói chung và xây lắp nói riêng gặp nhiều khó khăn,
cho nên, tuy mới ra đời nhưng Xí nghiệp đã phải đương đầu với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt của thị trường, để tồn tại và phát triển toàn thể cán bộ công
nhân viên trong Xí nghiệp đã phải cố gắng hết mình, phát huy hết những tiềm
năng có thể để hoà nhập với thị trường vươn lên trong kinh doanh.
Chức năng chính của Xí nghiệp là xây lắp đường dây và trạm biến áp
điện từ 110 KV trở xuống. Xây lắp công trình điện trong đó có xây lắp các trạm
biến áp, các tuyến cáp ngầm, đường dây trên không... Đồng thời sửa chữa các
giá thành. Các phần hành kế toán được thực hiện theo đúng chế độ kế toán mà Bộ
tài chính đã ban hành.
- Công ty mở sổ theo dõi, quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm theo đúng quy định, đảm bảo ghi chép đầy đủ và kịp thời các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh liên quan đến quá trình sản xuất.
- Phương pháp tính giá thành của xí nghiệp giản đơn, dễ thực hiện. Kỳ tính
giá thành phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
2.2. Một số điểm tồn tại cân khắc phục
Bên cạnh những ưu điểm đã đề cập ở trên, trong công tác hạch toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm công ty vẫn còn tồn tại một số cần khắc phục.
Đối với việc tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Trong công tác hạch toán chi phí sản xuất, phần hạch toán khoản mục chi
phí nhân công trực tiếp công ty vẫn chưa tính đến khoản trích trước tiền lương nghỉ
phép cho công nhân sản xuất trực tiếp điều đó sẽ làm giảm tính ổn định của việc
tính giá thành khi ở những tháng đó có công nhân nghỉ phép nhiều.
Đối với việc hạch toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ:
Công ty cũng không tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, khi
phát sinh thì tính vào giá thành sản phẩm ở tháng đó, do vậy mà giá thành sản
phẩm của tháng đó sẽ bị đẩy lên cao, như vậy là không hợp lý cho tính ổn định của
giá thành sản phẩm.
Đối với việc hạch toán chi phí dịch vụ mua ngoài:
Kế toán thường căn cứ vào các hoá đơn chứng từ thực tế nhận được trong
kỳ trong đó có một số khoản chi phí như: tiền điện, nước, tiền điện thoại… thường
là các chi phí phát sinh của tháng trước. Như vậy việc tập hợp chi phí cho tháng đó
sẽ gặp khó khăn.
Về việc trích khấu hao TSCĐ
Công ty áp dụng phương pháp tính khấu hao TSCĐ là phương pháp khấu
hao đều theo thời gian, điều đó cũng làm giảm tính ổn định của giá thành sản phẩm
giữa các tháng. Bởi vì có những thánh sản phẩm ít nhưng vẫn phải chịu chi phí
khấu hao đều giữa các tháng làm cho giá thành đơn vị tăng, như vậy là chưa hợp
độ Nhà nước đã ban hành được áp dụng thống nhất trong các doanh nghiệp. Tuy
nhiên, tuỳ theo loại hình, quy mô, đặc điểm, cơ cấu tổ chức mà mỗi doanh nghiệp
có thể áp dụng cho phù hợp.
Thứ ba: Cung cấp đầy đủ thông tin kịp thời. Các kiến nghị đưa ra phải đáp
ứng yêu cầu cơ bản của công tác kế toán, mang tính hữu ích.
Cuối cùng là: đảm bảo tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả. Tức là các yêu cầu
đưa ra phải đảm bảo tính khả thi có thể thực hiện đựơc trong thực tế, đạt hiệu quả
kinh tế cao và chi phí bỏ ra có thể ở mức chấp nhận được
4. Thực trạng kế toán chi phí sản xuất ở Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ
điện Hà Nội
Mặt hàng Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện Hà Nội sản xuất rất phong
phú và đa dạng là các loại ván nhân tạo, các sản phẩm nội thất… Việc sản xuất này
được thực hiện ở các phân xưởng: với một quy trình công nghệ hiện đại, phần lớn
được nhập từ Châu âu.
Tuy nhiên để có thể trình bày một cách cụ thể và đầy đủ nhất về cách tập
hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm ở công ty em xin đi sâu vào nghiên cứu nội
dung hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm và trên cơ sở lấy số liệu
của tháng 10/2004, còn phân xưởng ép trình tự hạch toán cũng tương tự như vậy.
4.1. Phân loại chi phí sản xuất
Để phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất và yêu cầu quản lý chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm. Công ty đã sử dụng tiêu thức phân loại chi phí sản
xuất theo "khoản mục chi phí". Theo tiêu thức này chi phí sản xuất của công ty
được phân thành:
- Chi phí NVL trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
4.2. Đối tượng tập hợp chi phí
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và đặc biệt
quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm ở mỗi doanh nghiệp. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
+
Giá trị VL thực tế
nhập trong kỳ
Số lượng VL tồn đầu
kho đầu kỳ
+
Số lượng VL nhập
kho trong kỳ
Từ đó có thể tính:
= x
Mỗi tháng trên cơ sở các chứng từ xuất kho được phân loại theo từng loại
NVL của phân xưởng được tập hợp về phòng kế toán để nhập số liệu vào máy và
tập hợp theo các đối tượng.
Cuối tháng, kế toán căn cứ vào các phiếu xuất kho trong kỳ để tập hợp chi
phí NVL trực tiếp và tiến hành kết chuyển vào TK 154 để tính giá thành sản phẩm.
Trong trường hợp NVL thực tế không dùng hết sẽ được nhập trở lại kho (kế toán
phải viết phiếu nhập kho). Vật liệu không dùng hết sẽ làm giảm được chi phí
NVLTT và như vậy ở TK 621 chỉ còn chi phí NVL tiêu hao thực tế để kết chuyển
vào TK 154
Kế toán sẽ ghi:
Nợ TK 154 (chi phí vật tư)
Có TK 621 (chi tiết cho đối tượng sử dụng)
Để miêu tả rõ hơn quá trình này em xin lấy ví dụ về việc hạch toán của
Công ty trong tháng 10/2004.
Ví dụ ngày 1/10 xuất kho vật liệu để sản xuất dây cuốn điện, theo hợp đồng
số 210 với công ty TNHH Lam Sơn.
Trên cơ sở hợp đồng, sau khi tính toán các định mức tiêu hao NVL, kế toán
viết phiếu xuất kho theo mẫu sau:
Biểu số 1:
Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện Hà Nội
2.128.55
6
2 Các cuộn dây T01M0
3
m
2
30 30 69.592,8 2.087.78
4
3 Vỏ máy T02V06 cái 25 25 500,0 12.500
…. …. …. …. …. …. …. ….
Cộng
Cộng thành tiền (Bằng chữ):
Kế toán trưởng
(đã ký)
Phụ trách cung tiêu
(đã ký)
Người nhận
(đã ký)
Thủ kho
(đã ký)
Căn cứ vào bảng tổng hợp nhập - xuất vật tư tháng 9/2004 và bảng tổng hợp
nhập - xuất vật tư tháng 10/2004, kế toán lập bảng tính giá nguyên vật liệu xuất
kho.
Cách lập như sau:
- Cột đầu kỳ: lấy số liệu từ cột tồn cuối kỳ của bảng tổng hợp nhập xuất vật
tư tháng 9/2004.
- Cột nhập: lấy số liệu từ cột nhập của bảng tổng hợp nhập xuất vật tư tháng
10/2004.
- Đơn giá được tính theo đơn giá bình quân gia quyền đã đựơc trình bày ở
trên. Cụ thể biểu số 2, đơn giá (cột 8) sẽ bằng (cột 7 + cột 5) / (cột 4 + cột 6).
ký chung và các sổ cái của các TK có liên quan. Cụ thể ở đây là Nhật ký chung
(biểu số 5), TK 621 (Biểu số 6).
Căn cứ vào việc tổng hợp thực tế kế toán sẽ ghi như sau:
Nợ TK 621: 648.673.867,9
Có TK 1521: 584.633.377,9
Có TK 1522: 63.014.632
Có TK 153: 1.025.858
Cuối tháng kế toán ghi bút toán kết chuyển:
Nợ TK 154: 648.673.867,9
Có TK 621: 648,673,867,9
Máy tính sẽ tự động ghi nhận bút toán trên vào sổ Cái TK 154, TK 621.
Biểu số 3
BẢNG TỔNG HỢP PHÁT SINH THEO ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG VẬT TƯ
Từ 1/10/2004 đến 31/10/2004
Đơn vị tính: Đồng
Mã vật tư Tên vật tư Đơn vị tính Số lượng Thành tiền
Phân xưởng 265.320.019
Phân xưởng 382.327.990,
9
Lõi thép KT điện m
2
600 51.264.000
Các cuộn dây m
2
450 35.935.047,9
Biểu số 4:
Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện Hà Nội
BẢNG PHÂN BỔ NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ XUẤT DÙNG
Tháng 10/2004
Đơn vị tính: Đồng
41 31/10 Kết chuyển CPNVLTT Nợ TK154 648.673.867,9
Có TK621 648.673.867,9
254 31/10 Kết chuyển CPNCTT Nợ TK154 62.937.100
Có TK622 62.937.100
416 31/10 Kết chuyển CPNVPX Nợ TK154 11.573.594,4
Có TK6271 11.573.594,4
… v.v.
Cộng
Biểu số 6:
Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện Hà Nội
SỔ CÁI TK621
Chi phí nguyên vật trực tiếp
Từ ngày 1/10/2004 đến ngày 31/10/2004
Đơn vị tính: Đồng
Chứng từ
Diễn giải
Tài khoản
đối ứng
Số tiền
Số Ngày Nợ Có
15 1/10 Xuất vật tư cho PX sản xuất
dây
1521 51.264.000
16 1/10 Xuất vật tư cho PX dây 1521 35.935.047,9
… … … … …
20 7/10 Xuất vật tư cho PX dây 1551 250.500.000
21 7/10 Xuất vật tư cho PX lõi thép 1521 25.000.762
… … … … …
Cộng đối ứng 584.633.377,9
29 9/10 Xuất vật tư cho PX dây 1522 6.020.000
theo từng chi tiết bộ phận của sản phẩm.
Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành và phương pháp tính
giá thành là phương pháp tổng cộng chi phí.
Tuy nhiên giá thành của từng chi tiết của sản phẩm thì không được tập
hợp đủ các loại chi phí mà chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Giá thành của nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm là chi phí thực tế mua
vào, không bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ. Khi xuất kho nguyên vật liệu
sử dụng cho sản xuất, kế toán áp dụng phương pháp giá thực tế đích danh của
từng loại nguyên vật liệu. Chi phí vận chuyển, bốc dỡ nguyên vật liệu đầu vào
được hạch toán ngay vào chi quản lý kinh doanh <TK642>
Để tính giá thành đơn vị sản phẩm, kế toán xác định chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp sử dụng cho từng tổ sản xuất để sản xuất ra từng đơn vị sản phẩm. Còn
chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được phân bổ cho từng đơn
vị sẩn phẩm chứ không phân bổ cho từng tổ sản xuất.
2.2. Nội dung hạch toán chi tiết chi phí sản xuất.
Tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chi phí sản xuất sản phẩm cũng được chia
thành 03 loại là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi
phí sản xuất chung. Nhưng các loại chi phí sản xuất này không được tập hợp trên
các tài khoản khác nhau là 621, 622, 627 như ở các doanh nghiệp lớn mà chúng
đều được tập hợp trên tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang - theo
đúng quy định dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, Kế toán
Công ty sử dụng tài khoản 154 chi tiết theo từng tổ sản xuất. Tuy nhiên, chi phí
được theo dõi đến từng tổ sản xuất chỉ là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn chi
phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung chỉ được theo dõi tổng quát tại
bộ phận sản xuất.
4. Thực trạng kế toán chi phí sản xuất ở Xí nghiệp bảo trì và xây lắp
cơ điện Hà Nội
4.1 Phân loại chi phí sản xuất
Để phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất và yêu cầu quản lý chi phí sản
- Liên gốc bộ phận kế toán giữ lại.
- Liên thứ 2 sẽ chuyển cho thủ kho để thực hiện việc xuất kho và ghi vào
thẻ kho.
Cuối tháng căn cứ vào số lượng NVL xuất - nhập - tồn, kế toán sẽ tính
toán được đơn giá từng loại vật tư theo cách tính sau:
=
Từ đó có thể tính:
= x
Mỗi tháng trên cơ sở các chứng từ xuất kho được phân loại theo từng loại
NVL của các phân xưởng được tập hợp về phòng kế toán để nhập kho số liệu
vào máy và tập hợp theo các đối tượng.
Cuối tháng, kế toán căn cứ vào phiếu xuất kho trong kỳ để tập hợp chi phí
NVL trực tiếp và tiến hành kết chuyển vào TK154 để tính giá thành sản phẩm.
Trong trường hợp NVL thực tế không dùng hết sẽ được nhập trở lại kho (kế
toán phải viết Phiếu nhập kho). Vật liệu không dùng hết sẽ làm giảm được chi
phí NVLTT và như vậy ở TK621 chỉ còn chi phí NVL tiêu hao thực tế để kết
chuyển vào TK154.
Kết toán sẽ ghi:
Nợ TK154 (chi phí vật tư)
Có TK621 (chi tiết cho đối tượng sử dụng)
Để miêu tả rõ hơn quá trình này em xin lấy ví dụ về việc hạch toán của
Công ty trong tháng 10/2004.
Ví dụ: ngày 1/10 xuất kho vật liệu để sản xuất dây cuốn điện, theo hợp
đồng số 210 với Công ty TNHH Lam Sơn.
Trên cơ sở hợp đồng, sau khi tính toán các định mức tiêu hao NVL, kế
toán viết Phiếu xuất kho theo mẫu sau:
Biểu số 7
Xí nghiệp bảo trì và xây lắp cơ điện Hà Nội
PHIẾU XUẤT KHO
Ngày 1/10/2004
… … … … … … …
Cộng 4.228.840
Cộng thành tiền (bằng chữ): Bốn triệu hai trăm hai tám nghìn tám trăm
bốn mươi đồng.
Kế toán trưởng
(Đã ký)
Phụ trách cung tiêu
(Đã ký)
Người nhận
(Đã ký)
Thủ kho
(Đã ký)