THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN VÀ KINH DOANH THAN HÀ NỘI - Pdf 72

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CHẾ
BIẾN VÀ KINH DOANH THAN HÀ NỘI
I. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY.
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Ngay từ khi hoà bình lập lại, Nhà nước ta đã bắt tay vào việc khai thác và
sử dụng than, nguồn tài nguyên quý giá đã từng được coi là " vàng đen" của đất
nước. Vì thế, chức năng quản lý và phân phối vật tư than cho nền kinh tế quốc
dân cũng sớm hình thành ngay từ khi Miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Và tiền
thân của Công ty kinh doanh và chế biến than Hà Nội lúc đó là Công ty cung
ứng than - xi măng Hà Nội trực thuộc Bộ vật tư.
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về quản lý vật tư theo ngành từ sản
xuất đến lưu thông phân phối. Chính phủ đã ra quyết định số 245/CP ngày
22/11/1974 chuyển giao nhiệm vụ quản lý cung ứng than từ Bộ vật tư sang Bộ
điện than. Ngày 9/12/1974 Bộ điện và than ra quyết định số 1878/ĐT - QLKT
tiếp nhận các tổ chức chuyển doanh cung ứng than thành lập "Tổng Công ty
quản lý và phân phối than" gồm 7 đơn vị trực thuộc trong đó có "Công ty quản
lý và phân phối than Hà Nội" hoạt động từ ngày 1/1/1975.
Do yêu cầu hoạt động và nhiệm vụ đòi hỏi, Công ty đã qua nhiều lần đổi
tên :
- Từ năm 1975 - 1978 tên Công ty là : "Công ty quản lý và phân phối than
Hà Nội" trực thuộc Bộ điện và than.
- Từ năm 1979 - 1981 đổi tên là "Công ty quản lý và cung ứng than Hà
Nội" trực thuộc Tổng Công ty cung ứng than - Bộ mỏ than, sau này là Bộ năng
lượng.
Theo chủ trương của Nhà nước thành lập lại Doanh nghiệp, ngày
30/6/1993 Bộ năng lượng ban hành quyết định số 448/NL - TCCB - LĐ thành
lập lại Doanh nghiệp Nhà nước "Công ty cung ứng than Hà Nội" thành "Công
ty kinh doanh và chế biến than Hà Nội" trực thuộc Công ty kinh doanh than
Việt Nam- Bộ năng lượng.
Năm 1995 Nhà nước thành lập lại Tổng công ty than Việt Nam theo quyết

trình ra quyết định, giám đốc được sự tham mưu trực tiếp của các phòng chức
năng: Phòng tổ chức hành chính, Phòng kế hoạch kinh doanh, Phòng kế toán ,
các chuyên viên tài chính, kinh tế, kỹ thuật, luật pháp để đưa ra các quyết định
kịp thời, chính xác
* Các phó giám đốc : Là người giúp việc trực tiếp cho giám đốc giải quyết
các công việc thuộc phạm vi quyền hạn do giám đốc phân công.
* Phòng kế hoạch kinh doanh : Giúp giám đốc trong việc lập kế hoạch
triển khai thực hiện kế hoạch, tìm kiếm thị trường, ký kết hợp đồng mua bán
nguyên vật liệu và thị trường sản phẩm hàng hoá, đồng thời thu thập những
thông tin phản hồi từ khách hàng.
* Các phòng chức năng : Có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc trong
phạm vi chuyên môn, hướng dẫn, chỉ đạo kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ đối
với các đơn vị trong Công ty. Đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc Công
ty, trước pháp luật về chức năng tham mưu, hướng dẫn kiểm tra đối với các đơn
vị trong Công ty.Các phòng chức năng không có quyền ra mệnh lệnh cho các
đơn vị trong Công ty. Toàn bộ các đề xuất phải thông qua giám đốc là người
xem xét và biến chúng thành mệnh lệnh cho các đơn vị trong Công ty nếu thấy
hợp lý và cần thiết.
* Phòng kế toán : Thực hiện các nghiệp vụ kế toán theo quy định của Nhà
nước , thu thập và xử lý thông tin cung cấp cho việc ra quyết định quản trị của
giám đốc.
Ngoài ra các chuyên viên tài chính, kinh tế, kỹ thuật, luật pháp tham mưu
cho giám đốc trong lĩnh vực mình phụ trách để giúp giám đốc đưa ra các quyết
định kịp thời và chính xác.
* Các trạm trực thuộc : Có nhiệm vụ tiếp nhận và tổ chức thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty giao cho. Trực tiếp tiếp xúc và giao
dịch với khách hàng, tìm kiếm nguồn than cung ứngtừ các mỏ theo nhu cầu của
khách hàng. Đề xuất với công ty ký kết hợp đồng với các mỏ trong Tổng Công
ty. Sau khi công ty ký kết hợp đồng, các trạm tổ chức nhận hàng theo nội dung
hợp đồng đã ký, đồng thời tổ chức bảo quản kho, tổ chức chế biến và tiêu thụ

hoạt động kinh tế, đề ra các giải pháp tài chính kịp thời phục vụ cho sản xuất
kinh doanh đạt hiệu quả cao.
2.2.2. Chức năng của bộ phận kế toán.
- Kế toán trưởng : Là người giữ vị trí cao nhất trong Phòng kế toán , điều
hành và xử lý toàn bộ các hoạt động có liên quan đến công tác kế toán của
Công ty, giúp giám đốc trong việc quản lý quỹ tài chính và thay mặt Phòng kế
toán chịu trách nhiệm trước Công ty.
- Kế toán tổng hợp: Chịu trách nhiệm sau kế toán trưởng, ký và giải quyết
công việc khi kế toán trưởng đi vắng. Phụ trách theo dõi quản lý tăng giảm tài
sản cố định và trích khấu hao tài sản cố định hàng tháng, quý, năm; vào sổ, thẻ
theo dõi thường xuyên tài sản cố định. Tính giá thành và phân tích giá thành
hàng quý.
: Mối quan hệ chủ đạo
: Mối quan hệ qua lại
Kế toán
vật tư
Kế toán
thanh toán
Kế toán
tiêu thụ sp
Kế toán
tổng hợp
Nhân viên kinh tế ở các đơn vị trực thuộc
Kế toán trưởng
- Kế toán tiền lương : Tiền lương tại Công ty chủ yếu được chia làm hai
loại là lương trực tiếp và lương gián tiếp. Lương trực tiếp được thực hiện ở khối
văn phòng Công ty thông qua bảng chấm công, phiếu nghiệm thu do các nhân
viên kinh tế ở các bộ phận gửi lên. Bộ phận tính lương trực tiếp sau khi tính
toán xong sẽ gửi sang Phòng tài chính kế toán . Tại đây bộ phận kế toán tổng
hợp cùng với kế toán tiền lương sẽ tiến hành tổng hợp lương toàn Công ty.

Khi mới thành lập, Công ty chỉ có 3 nhà cấp 4 , các trang thiết bị còn hết
sức thô sơ, hầu như không có gì đáng kể, tổ chức bốc xếp hàng hoá thủ công
bằng cuốc xẻng, giao nhận than bằng phương pháp đo, năng suất làm việc thấp,
không có thiết bị thí nghiệm kiểm định chất lượng than. Đến nay, cơ sở vật chất
kỹ thuật của Công ty không ngừng được cải thiện và phát triển từng bước hiện
Ghi chú:
: ghi hàng ngày
: ghi cuối tháng
: đối chiếu, ktra
(7)
Báo cáo kế toán
Sổ cái
(5)
(6)
Bảng tổng
hợp số liệu
(2)
(1) (4)
(3)
Sổ, thẻ kế
toán chi tiết
Sổ nhật ký
đặc biệt
(2) (1)
Sổ nhật ký
chung
Bảng cân đối số
phát sinh
Chứng từ gốc
đại. Văn phòng Công ty ngày nay là ngồi nhà 3 tầng khang trang, Công ty trang

hoạt.
Các đơn vị công nghiệp như : Công ty gạch Xuân Hoà, Công ty gạch Đại
Thanh dùng than cám số 5 và số 6 là chủ yếu. Các nhà máy xi măng lò đứng
dùng than cám số 4 và số 5 là chính.
Các đơn vị: Công ty Sao Vàng, Công ty phân lân Văn Điển, các xí nghiệp
cán thép, chế tạo phôi dùng than cục là chủ yếu.
Than dùng trong sinh hoạt thì chủ yếu là than số 6 và số 7 chế biến có than
tổ ong, than đóng bánh.
Như vậy, vấn đề sản phẩm và chất lượng sản phẩm không phải là trở ngại
lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, công ty hoàn toàn có
đủ khả năng cung cấp chủng loại theo nhu cầu của khách hàng.
Biểu 2: Chủng loại sản phẩm
Chủng loại than Địa danh khai thác
I. Than cục
1. Than cục số 2 Hòn Gai, Mạo Khê
2. Than cục số 3 Hòn Gai, Vàng Danh
3. Than cục số 4 Hòn Gai, Vàng Danh
4. Than cục số 5 Hòn Gai
II. Than cám
1. Than cám số 3 Hòn Gai, Mạo Khê
2. Than cám số 4 Hòn Gai, Núi Hồng
3. Than cám số 5 Mạo Khê
4. Than cám số 6 Hòn Gai, Mạo Khê
5. Than cám số 7 Hòn Gai, Núi Hồng
III. Than chế biến
1. Than tổ ong
2. Than đóng bánh
2.2.6. Đặc điểm thị trường nguyên vật liệu đầu vào.
Nhiệm vụ chính của Công ty là chế biến và kinh doanh than dưới sự chỉ
đạo, quản lý của Công ty chế biến và kinh doanh than Miền Bắc và Tổng Công

3. Lao động tiền lương ở Công ty chế biến và kinh doanh than Hà Nội
và yêu cầu cần quản lý.
Như ta đã biết, lao động có vai trò đặc biệt trong sản xuất kinh doanh. Lao
động chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần tạo nên sản
phẩm. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh có hai loại lao động đó là lao động
trực tiếp (những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm)và lao động gián tiếp
(viên chức các loại - không kể những người điều hành chung toàn doanh nghiệp,
những người không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm).
Trong hoạt động sản xuất nếu thiếu một trong hai loại lao động thì quá
trình sản xuất sẽ không thể tiến hành được. Nói như vậy, để thấy rằng dù trong
bất cứ hoàn cảnh nào, trường hợp nào thì lao động cũng đã, đang và sẽ vẫn giữ
vai trò quan trọng nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng này cho nên ở Công ty chế biến và kinh
doanh than Hà Nội đã có những quan tâm đặc biệt trong công tác quản trị nhân
sự. Hàng năm Công ty thường tổ chức bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ
công nhân, tổ chức các buổi tham quan làm việc với các đơn vị làm ăn tiên tiến
trong toàn Tổng Công ty và cử cán bộ đi học tại các trường, các trung tâm... Và
một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu đó là vấn đề tiền lương, tiền
công của người lao động. Đây là một trong những yếu tố để thu hút và kích
thích lao động làm việc một cách có hiệu quả nhất.
Hiện nay, hình thức trả lương mà Công ty đang áp dụng chủ yếu là trả
lương theo sản phẩm và lương khoán. Theo hình thức này, Doanh nghiệp thanh
toán lương cho người lao động căn cứ vào khối lượng sản phẩm công việc đã
hoàn thành và đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định căn cứ vào đơn giá tiền lương.
Song bên cạnh đó, đối với một số bộ phận lao động Công ty áp dụng chế độ trả
lương theo thời gian, theo khối lượng công việc hoàn thành. Đây chủ yếu là
những lao động ngắn hạn.
Hình thức trả lương mà Công ty đang áp dụng đã có nhiều điểm hợp lý.
Một mặt nó phản ánh chính xác kết quả của công nhân trong Công ty, mặt khác
tự nó đã làm tăng hiệu quả trong việc quản lý công nhân, thúc đẩy công nhân ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status