NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN - Pdf 72

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN.
1.1 Dự án
1.1.1 Khái niệm dự án.
Hiện nay từ “dự án” được sử dụng rất rộng rãi - ta thường nghe nói
đến các dự án đầu tư phát triển tầm cỡ quốc gia hoặc quốc tế, song cũng có
thể nói đến dự án của cá nhân mỗi người, như tiến hành một nghiên cứu
thử nghiệm, viết một cuốn sách...Vậy có thể hiểu "dự án” là gì?
Thường có hai cách hiểu về dự án. Theo cách hiểu thứ nhất (tĩnh) dự
án là hình tượng về một tình huống (một trạng thái ) mà ta muốn đạt tới.
Trong cách hiểu thứ hai (động) theo từ điển về quản lý dự án AFNOR, dự
án là một hoạt động đặc thù tạo nên một thực tế mới một cách có phương pháp và
tịnh tiến, với các phương tiện ( nguồn lực đã cho).
Theo nghị định 177/CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ quy định:
“ Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc
cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số
lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó
trong một khoảng thời gian nhất định”.
Qua đây ta có thể nhận thấy:
+Dự án không chỉ là một ý định hay phác thảo, mà có tính cụ thể và
mục tiêu xác định, nhằm đáp ứng một nhu cầu chuyên biệt.
+Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng, mà
phải cấu trúc nên một thực tế mới, một thực tế mà trước đó còn chưa tồn
tại nguyên bản tương đương. Ngoài ra mỗi dự án phải có tính sáng tạo
riêng.
+ Vì liên quan đến một thực tế trong tương lai, bất kì dự án nào
cũng có một độ bất định và những rủi ro có thể xảy ra.
+Cuối cùng, như một hoạt động đặc thù, dự án phải có bắt đầu, có
kết thúc và chịu những hạn chế nói chung là đã cho về nguồn lực( phương
tiện).
Ta cũng thấy rõ các đặc trưng sau đây cho phép nhận dạng một dự
án:

Dự án là tài liệu để các cấp có thẩm quyền xét duyệt cấp giấy phép
đầu tư, là căn cứ pháp lý để tòa án xem xét giải quyết khi có sự tranh chấp
giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này.
1.1.2.3 Đối với các tổ chức tài trợ vốn.
Dự án là căn cứ để các cơ quan này xem xét tính khả thi của dự án
để quyết định có nên tài trợ hay không, tài trợ đến mức độ nào cho dự án
để đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ.
1.1.3 Phân loại dự án.
Các dự án trong thực tế rất đa dạng và dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau, ta
có các cách phân loại khác nhau:
+Xét theo người khởi xướng, ta có các dự án của cá nhân, tập thể
hay quốc gia (quốc tế).
+Xét theo phân ngành kinh tế xã hội, ta có các dự án sản xuất, dự án
thương mại, xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội...
+Xét theo địa chỉ khách hàng, ta có dự án xuất khẩu; tiêu thụ địa
phương ( thậm chí nội bộ) hoặc trong nước.
+Xét theo thời gian, ta có dự án ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Một cách tổng hợp, ta có thể phân biệt các dự án lớn và các dự án nhỏ.
*Các dự án lớn ( xây dựng một nhà máy hay một tổ hợp công
nghiệp, quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ...) được đặc trưng bởi tổng kinh
phí huy động lớn, số lượng các bên tham gia đông và sử dụng nhiều công
nghệ khác nhau, thời gian thực hiện ra dài, có ảnh hưởng mạnh đến môi
trường kinh tế và sinh thái. Chúng đòi hỏi phải thiết lập các cấu trúc tổ
chức chuyên biệt, với các mức phân cấp trách nhiệm khác nhau, đề ra quy
chế hoạt động và các phương pháp kiểm tra chặt chẽ. Tầm bao của các dự
án này rộng tới mức người quản lý không thể nào đi sâu vào từng chi tiết
trong quá trình thực hiện. Trái lại, nhiệm vụ chủ yếu của người quản lý là,
một mặt thiết lập hệ thống quản lý và tổ chức (Phân chia dự án thành các dự
án bộ phận và phối kết hợp các dự án bộ phận đó) cho phép mỗi cấp thực hiện
được trách nhiệm của mình, và mặt khác đảm nhận các mối quan hệ giữa dự án với

kinh tế quốc dân.
-Thông qua việc phát hiện những nguồn tài nguyên, nguyên nhiên
vật liệu chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
-Dự án có thể được đề xuất để đáp ứng những nhu cầu sản xuất tiêu
dùng ở thị trường trong nước và ngoài nước còn chưa được thỏa mãn.
-Ý đồ dự án có thể nảy sinh từ yêu cầu khắc phục những khó khăn
và trở ngại đối với sự phát triển kinh tế-xã hội do thiếu các điều kiện vật
chất cần thiết.
Trên cơ sở các lĩnh vực và ý đồ đầu tư khác nhau được đề xuất, cần
tiến hành nghiên cứu chi tiết hóa, lựa chọn ra những ý đồ dự án có triển vọng
nhất để tiến hành chuẩn bị và phân tích trong giai đoạn tiếp theo.
Việc xác định và sàng lọc các ý đồ dự án có ảnh hưởng quyết định
tới quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án. Dự án có thể thất bại hay không
đạt được kết quả mong muốn, tuy rằng việc thực hiện và chuẩn bị dự án tốt
đến đâu, nếu như ý đồ ban đầu đã hàm chứa những sai lầm cơ bản.
1.1.4.2 Phân tích và lập dự án.
Sau khi xác định ý đồ, mục tiêu và phương tiện của dự án, ta có thể
tiến hành quá trình phân tích và lập dự án. Phân tích và lập dự án là giai
đoạn nghiên cứu chi tiết ý đồ đầu tư đã được đề xuất trên tất cả mọi
phương diện như: thể chế - xã hội, thương mại, tài chính, kinh tế kỹ thuật,
tổ chức - quản lý. Để thực hiện nhiệm vụ này phải thu thập đầy đủ những
thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu về thị trường, môi trường tự nhiên,
các nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, các quy định và chính sách có liên quan
của Chính phủ, về đặc điểm kinh tế- văn hóa - xã hội của dân cư trong
vùng có liên quan đến dự án.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn phân tích và lập dự án là nghiên cứu
một cách toàn diện tính khả thi của dự án. Tuy vậy, đối với những dự án có
quy mô lớn, thì trước khi thực hiện nghiên cứu khả thi thì nên có bước
nghiên cứu tiền khả thi. Trong bước nghiên cứu này, tất cả mọi phương
diện chuẩn bị và phân tích dự án đều được đề cập tới, song chỉ ở mức độ

nhận là có hiệu quả và khả thi. Ngược lại, trong trường hợp còn có những
bất hợp lý trong thiết kế dự án, thì tùy theo mức độ, dự án có thể được sửa
đổi bổ xung hay buộc phải xây dựng lại hoàn toàn.
1.1.4.4 Triển khai thực hiện.
Giai đoạn triển khai thực hiện dự án bắt đầu khi kinh phí được đưa
vào. Trong giai đoạn triển khai thực hiện có thể chia thành những thời kỳ
nhỏ hơn. Chẳng hạn, thời kỳ thứ nhất là thi công xây dựng các công trình
cơ sở. Sau khi hoàn thành xây dựng cơ bản, dự án chuyển sang thời kỳ phát
triển. Trong thời kỳ này dự án bắt đầu sinh lợi và trả dần những khoản nợ
trong thời kỳ đầu. Thời kỳ thứ ba bắt đầu khi dự án đã đạt tới sự phát triển
toàn bộ, nói cách khác các công trình đầu tư ban đầu đã được sử dụng hết
công suất và kéo dài cho tới khi dự án chấm dứt hoạt động.
Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích
kỹ lưỡng, song trong thực tế rất ít khi dự án được tiến hành hoàn toàn đúng
như hoạch định. Nhiều dự án đã không đảm bảo được tiến độ thời gian và
chi phí dự kiến, thậm chí một số dự án đã phải thay đổi thiết kế ban đầu do
giải pháp kỹ thuật không thích hợp hay do thiếu vốn hoặc do nhiều yếu tố
khách quan đem lại. Nói chung những khó khăn mà dự án phải đối phó
trong khi thực hiện, đặc biệt trong thời kỳ thi công là:
+Các khó khăn tài chính: Thường xuất hiện do những biến động về
giá cả hay do việc thiếu các nguồn vốn cần thiết trong quá trình thực hiện.
Hậu quả là dự án bị trì hoãn, chi phí tăng và trong một số trường hợp quy
mô của dự án bị thu hẹp lại.
+Các hạn chế về mặt quản lý: Phổ biến nhất đối với nhiều dự án
trong các nước đang phát triển là thiếu những cán bộ quản lý giỏi, cơ cấu
tổ chức, phân công trách nhiệm không rõ ràng, sự phối hợp kém hiệu quả
giữa các cơ quan khác nhau tham gia dự án. Những yếu kém trong quản lý
thường gây ra tình trạng chậm trễ khi thực hiện và chi phí vượt mức, giám
sát thiếu chặt chẽ và kém linh hoạt, phản ứng chậm trước những thay đổi
trong môi trường kinh tế- xã hội.

1.2 Thẩm định dự án.
1.2.1 Khái niệm
Thẩm định dự án là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách
quan toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng
định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định
đầu tư.
1.2.2 Nội dung thẩm định dự án.
Công tác thẩm định dự án là khâu quan trọng trong thời kỳ chuẩn bị
dự án, được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã được thiết lập để ra
quyết định đầu tư.
Công tác thẩm định dự án gồm các bước: Thẩm định thị trường,
thẩm định kỹ thuật, thẩm định tổ chức- quản lý dự án, thẩm định tài chính
và thẩm định kinh tế - xã hội.
1.2.2.1 Thẩm định thị trường.
Là việc tiến hành phân tích các kết quả nghiên cứu thị trường nhằm
đưa ra các kết luận hợp lý, chính xác về thị trường tiêu thụ sản phẩm của
dự án. Thẩm định thị trường là tiền đề cho việc thực hiện các bước thẩm
định tiếp theo. Thẩm định thị trường giúp nhà đầu tư lựa chọn mục tiêu,
xác định rõ phương hướng và quy mô của dự án.
Thẩm định thị trường bao gồm các nội dung sau:
- Thẩm định nhu cầu hiện tại và tương lai về sản phẩm của dự án
trên thị trường dự kiến xâm nhập chiếm lĩnh: Xác định xem ai là khách
hàng tiềm năng, ai là khách hàng mới, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong
hiện tại và tương lai, mức gia tăng nhu cầu hàng năm về sản phẩm của dự
án.
- Thẩm định các nguồn và các kênh đáp ứng nhu cầu: Mức độ đáp
ứng nhu cầu hiện tại, xác định khối lượng sản phẩm của dự án dự kiến bán
ra hàng năm
- Thẩm định các yếu tố về sản phẩm: Chất lượng, giá bán, quy cách,
hình thức trình bày, dịch vụ sau khi bán sản phẩm của dự án…

xuất trong một đơn vị thời gian vừa đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị
trường mà dự án sẽ chiếm lĩnh, vừa để bù vào những hao hụt tổn thất trong
quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển và bốc dỡ.
Xác định công suất thực tế khả thi của dự án và mức sản xuất dự
kiến qua các năm cần căn cứ vào nhu cầu thị trường, trình độ kỹ thuật của
máy móc thiết bị, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, chi phí sản xuất và
chi phí vốn đầu tư.
- Thẩm định công nghệ và phương pháp sản xuất: Lựa chọn trong
các công nghệ và phương pháp sản xuất hiện có loại nào thích hợp nhất đối
với loại sản phẩm mà dự án định sản xuất, phù hợp với điều kiện của máy
móc, thiết bị cần mua sắm, với khả năng tài chính và các yếu tố có liên
quan khác như tay nghề, trình độ quản lý…
Tuỳ thuộc công nghệ và phương pháp sản xuất, đồng thời căn cứ vào
trình độ tiến bộ kỹ thuật, chất lượng và giá cả phù hợp với khả năng vận
hành và vốn đầu tư, điều kiện bảo dưỡng, sửa chữa, công suất, tính năng,
điều kiện vận hành, năng lượng sử dụng, điều kiện khí hậu… mà lựa chọn
máy móc thiết bị thích hợp.
- Xác định nguyên vật liệu đầu vào: Nguyên vật liệu đầu vào bao
gồm tất cả các nguyên vật liệu chính và phụ, vật liêu bao bì đóng gói. Đây
là một khía cạnh kỹ thuật quan trọng của dự án.
- Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng: Nhu cầu năng lượng,
nước, giao thông, thông tin liên lạc.. của dự án phải được xem xét, nó có
ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và chi phí sản xuất hay không.
- Xem xét lựa chọn địa điểm thực hiện dự án: Các khía cạnh về địa
lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật… có liên quan đến sự hoạt
động và hiệu quả h oạt động của dự án.
- Thẩm định kỹ thuật xây dựng công trình của dự án: Tìm các giải
pháp kỹ thuật xây dựng vừa đảm bảo yêu cầu sản xuất sau này, vừa rút
ngắn được thời gian xây dựng công trình, mau chóng đưa công trình vào sử
dụng, vừa đảm bảo chi phí xây dựng công trình phải căn cứ vào yêu cầu về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status