Vài nét về tiền gửi và quản lý tiền gửi ở Việt Nam
IV.1. Tình hình huy động và quản lý tiền gửi tại các NHTM Việt Nam
Tiền gửi là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguổn
vốn của ngân hàng. Huy động được lượng tiền gửi càng nhiều, ngân hàng sẽ có cơ
sở để cho vay nhiều hơn. Tuy nhiên, quyết định đến lợi nhuận ngân hàng là sự
chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Thông thường, ngân hàng huy
động lãi suất tiền gửi thấp và cho vay với lãi suất cao hơn để hưởng chênh lệch.
Yêu cầu tìm kiếm được nguồn tiền gửi lớn với lãi suấ thấp là một trong những mục
tiêu của quản lý tiền gửi.
Lãi suất là một trong những công cụ tài chính quan trọng nhấ của ngân hàng.
Lãi suất huy động tiền gửi, còn gọi là lãi suất huy động vốn hay tiết kiệm, và lãi
suẩ cho vay là hai công cụ chính của các ngân hàng dùng để nâng cao thế mạnh tài
chính của họ và giúp đóng góp vào việc ổn đỉnh và phát triển kinh tế quốc dân.
Công cụ tài chính này thường được các NHTW của các quốc gia thường suyên sử
dụng để ổn định nền kinh tế trong nước. Khi nền kinh tế của họ có dấu hiệu chậm
lại, NHTW đưa ra một lãi suất cho các ngân hàng thương mại vay rất thấp để
khuyến khích việc họ vay và cho vay lại để tiêu dùng hay đầu tư phát triển giúp
hâm nóng nề kinh tế trở lại. Khi tốc độ phát triển của nền kinh tế tăng quá nhanh
dẫn đến tình trạng lam phát, NHTW sẽ đưa ra lãi suất cao để giảm thiểu số lượng
tiền vay của các NHTM và qua đó gialr nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Ỏ Việt Nam, các NHTM đều chịu sự chi phối của Ngân hàng nhà nước
(NHNN). Một cách nào đó, việc tăng hay giảm lãi suất tiết kiệm hay cho vay đều
phản ánh chính sách của NHNN, chiến lược riêng của từng ngân hàng và có sự tác
động của nền kinh tế thị trường.
Mỗi ngân hàng đều có chiến lược hay lý do riêng khi quyết định tăng lãi suất
tiền gửi. Điểm mấu chốt là khi tăng lãi suất này, các ngân hàng đều nhằm vào việc
thu hút thêm lượng tiền hiện đang luân chuyển trong thị trường để phục vụ một
mục đích tài chính nào đó. Tùy vào nhu cầu tiền mặt của ngân hàng, của Chính phủ
hay các khách hàng lớn cần vay để mua bán, đầu tư vào dự án trọng điểm, các
ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất thấp hay cao để thu hút dân chúng bỏ tiền vào tài
khoản hoặc quỹ tiết kiệm. Với các nền kinh tế phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng
Trong 6 tháng đầu năm 2006, lãi suất huy động và cho vay của các NHTM
tăng nhẹ, đối với lãi suất VNĐ tăng khoảng 0,12% - 0,24% /năm,còn lãi suất đồng
USD tăng khoảng 0,1% - 0,3% / năm. Tuy nhiên, lãi suất tăng trong khi nguồn vốn
khả dụng của các tổ chức tín dụng vẫn dư thừa, cung – cầu vốn ở mức bình thường,
lãi suất VNĐ chênh lệch dương so với lạm phát ( cao hơn lạm phát) khoảng 2%.
Đến đầu tháng 7/2006, sau khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) điều chính lãi suất
cơ bản đồng USD từ mức 5% - 5,25% /năm, nhiều ngân hàng đã không thể “kìm”
được áp lực, tiếp tục tăng lãi suất huy động. Những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8
(2006), người ta chứng kiếm tin hình nhiều ngân hàng thương mại cổ phần, ngân
hàng liên doanh tăng lãi suất huy động cả VNĐ và USD. Chúng ta hãy xem xét từ
thực tiễn ở Hà Nội và Tp. HCM ( hai địa bàn chiếm đến 70% tổng vốn huy động
và hơn 50% dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân háng). Đến cuối tháng 7/2006,
số dư vốn huy động từ các tổ chức kinh tế - xã hội và dân cư của các tổ chức tín
dụng tại Hà Nội đạt trên 175.000 tỷ đồng nhưng dư nợ cho vay chủ gần 92.000 tỷ
đồng. Còn tại Tp.HCM, liên tục trong 7 tháng đầu năm hoạt động tăng trưởng tín
dụng trên địa bàn có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so vơi các năm trước đây trong
khi huy động vốn tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao. Tỷ lệ sử dụng vốn cho vay
trực tiếp nền kinh tế trên vốn huy động của các NHTM tại Tp.HCM chỉ trên 80%
( trước đâu có lúc lên trên 90%).
Ta có thể xem xét lãi suất huy động tiền gửi dân cư của VCB làm ví dụ
Bảng 1:Lãi suất huy động tiền gửi dân cư của VCB – 08/11/2006
(đơn vị: %/năm)
1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng Không kỳ hạn
VND 6.24 6.84 7.44 7.8 8.04 8.4 2.4
USD 3.7 3.8 4.2 4.4 4.55 4.85 1.25
EUR 1.2 1.4 1.6 1.8 1.8 1.9 0.5
Cuộc chạy đua lãi suất của các NHTM đầu năm 2008 diễn biến hết sức gay
cấn và quyết liệt. Trong những ngày gần đây hàng loạt ngân hàng thương mại
(NHTM) công bố tăng lãi suất huy động vốn Đồng Việt Nam với mức lãi suất tăng
khá, tăng thêm từ 0,12% - 0,48%/năm so với trước đó. Mức tăng lớn nhất vẫn
Không kỳ hạn 3.0
1 tuần 13.0
1 tháng 17.0
2 tháng 17.0
3 tháng 17.5
6 tháng 17.5
9 tháng 17.0
12 tháng 17.0
18 tháng 16.0
24 tháng 15.0
36 tháng 15.0
48 tháng 15.0
60 tháng 15.0
Lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng Công thương lên mức cao nhất là
17.5%/năm trong khi trước đó, vào cuối năm 2007, lãi suất cao nhất cũng chỉ giữ ở
mức 8%/năm.
Nguyên nhân
Ngoài những nguyên nhân khách quan từ tình hình kinh tế, chính trị trong
nước, thế giới và những chính sách điều hành kinh tế vĩ mô bất hợp lý của NHNN
thì sau đây, em xin đưa ra những nguyên nhân chủ quan từ việc điều hành lãi suất
và quản lý tiền gửi của các NHTM
- Cơ cấu tiền gửi của các NHTM chưa vững chắc. Cơ cấu vốn huy động
Đồng Việt Nam của các NHTM có sự thay đổi theo hướng tiền gửi ngắn hạn và
tiền gửi không kỳ hạn tăng lên nhanh hơn tiền gửi trung và dài hạn. Đây là loại tiền
gửi không những có tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao tới 11%, mà tỷ lệ sử dụng thấp do
khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào. Trong số đó có những khoản tiền gửi lớn