THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN HẺ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - Pdf 73

THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN
HẺ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
I. TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THẺ Ở NGÂN
HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Như trên đã nêu, với xu hướng phát triển chung của thế giới và triển vọng
rất lớn trong việc phát triển dịch vụ thẻ ở Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam (NHNTVN) - một trong những ngân hàng lớn của Việt Nam- muốn phát triển
theo hướng chung đó thì phải cần ứng dụng công nghệ thẻ vào hoạt động kinh
doanh của mình.
NHNT như đã biết là một ngân hàng lớn có nhiều kinh nghiệm trong công
tác thanh toán, đặc biệt là thanh toán quốc tế. NHNT trong nhiều năm qua luôn đi
đầu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Qua thực tế hoạt động và kinh doanh trong
lĩnh vực này, NHNT đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, đồng thời tạo được nhiều
mối quan hệ kinh doanh với các ngân hàng và tổ chức tài chính , tín dụng, kinh tế
lớn trong và ngoài nước. Do có những mối quan hệ rộng rãi này và nhờ vào bề dày
trong thanh toán quốc tế, NHNT cần phải ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động
của mình nếu ngân hàng không muốn bị tụt hậu so với thế giới. Đó cũng là một tất
yếu đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt nam nói chung.
Thẻ ra đời trên cơ sở những thành tựu của công nghệ thông tin. Ở Việt Nam
hiện nay công nghệ thông tin cũng như hệ thống thông tin liên lạc đang đạt được
những bước tiến vượt bậc, ví dụ như Việt Nam đã tạo ra nhiều mạng nội bộ ngoài
dịch vụ Internet có chất lượng tốt. Như vậy có hệ thống thông tin tốt, NHNT ứng
dụng công nghệ thẻ nhằm mở rộng hệ thống dịch vụ của mình để đáp ứng tốt nhu
cầu của khách hàng nhằm đạt hiệu quả cao trong dịch vụ thanh toán.
Như đã trình bày ở phần trên (chương I, phần II, 4), thẻ có rất nhiều tiện ích
không chỉ đối với khách hàng mà còn đối với cả ngân hàng như thanh toán gọn
nhẹ, nhanh chóng, an toàn thuận tiện... Do vậy, việc ứng dụng công nghệ thẻ là rất
cần thiết vì nhờ có ứng dụng công nghệ này, hệ thống ngân hàng Việt Nam nói
chung và NHNT nói riêng vừa có thể tranh được tụt hậu với ngân hàng khác, vừa
có thể tiếp cận và giao dịch được với các ngân hàng nước ngoài thì hệ thống Ngân
hàng Việt Nam mới phát triển được, từ đó giúp cho việc ổn định và phát triển kinh

làm đơn xin sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của mình.
Thẻ cá nhân: là thẻ do cá nhân sử dụng và chịu trách nhiệm thanh toán bằng
nguồn tiền của mình.
Mỗi loại thẻ được chia làm hai hạng: thẻ vàng và thẻ chuẩn.Thẻ vàng có
hạn mức chi tiêu tối thiểu là 50 triệu VND, tối đa là 90 triệu VND.
Thẻ chuẩn có hạn mức tín dụng thấp hơn hạn mức tối thiểu của thẻ vàng, 50
triệu VND và có số tiền tối thiểu là 10 triệu VND.
* Đối tượng phát hành và sử dụng thẻ:
- Các các nhân được các tổ chức, công ty sau đây uỷ quyền (là đại diện hợp pháp)
xin phát hành và sử dụng thẻ: các cơ quan Nhà nước, đoàn thể; các doanh nghiệp
(bao gồm cả doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); các tổ chức quốc tế, cơ quan ngoại giao và các
tổ chức nước ngoài khác tại Việt Nam.
- Các cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, không mất trí, không phải là người đang chấp hành
án hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp dưới 18 tuổi thì cá nhân phải
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có bảo lãnh của một người thứ ba (bố, mẹ,
người đỡ đầu) theo pháp luật của Việt Nam.
- Người nước ngoài: Ngoài yêu cầu trên phải có thời hạn cư trú và làm việc tại Việt
Nam bằng thời hạn phát hành thẻ + 40 ngày.
Các tổ chức, cá nhân nêu trên có thể mở tài khoản tiền gửi tại NHNT hoặc
tại các ngân hàng thương mại khác nhưng các tổ chức, cá nhân đó phải có năng lực
tài chính lành mạnh ( như đối với tổ chức thì cần phải có khả năng trả nợ, không có
nợ qua hạn đối với NHNT; đối với cá nhân thì có thu nhập ổn định, có uy tín).
Trong trường hợp không có những điều kiện nêu trên thì họ có thể thế chấp, cầm
cố hoặc ký quỹ.
CHỦ THẺ
CHI NHÁNH PHÁT HÀNH
TRUNG TÂM THẺ
* Các bước phát hành thẻ tín dụng tại NHNT
(1) Chủ thẻ đến ngân hàng làm thủ tục xin phát hành thẻ

thông báo cho khách hàng đến nhận.
Trước khi giao thẻ cho khách hàng, chi nhánh yêu cầu chủ thẻ ký vào mặt
sau của thẻ. Sau đó, chủ thẻ có thể hoàn toàn sử dụng thẻ cho hoạt động thanh toán
tiền hàng hoá, dịch vụ hay rút tiền mặt.
(5) Cuối mỗi tháng, chi nhánh phát hành sẽ nhận sao kê chi tiết những khoản khách
hàng đã tiêu trong tháng được gửi đến từ trung tâm thẻ và gửi cho khách hàng để
yêu cầu chủ thẻ thanh toán.
2.1.2 Phân tích và đánh giá kết quả công tác phát hành thẻ tại NHNT
Cho đến nay, NHNT đã tiến hành Master Card đã được gần 10 năm và Visa
Card được gần 5 năm. Khoảng thời gian từ 1995 trở về trước, trong những bước đi
chập chững ban đầu, NHNT chỉ phát hành được 302 thẻ trong vòng gần 3 năm. Bắt
đầu từ năm 1996, cùng với sự khởi sắc của thị trường thẻ Việt Nam, tình hình phát
triển thẻ tại NHNT đã có những bước tiến rõ rệt thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Tình hình phát hành thẻ Master Card qua các năm
(1996- 2002)
Chi tiêu
Năm
Số thẻ phát hành Doanh số sử dụng
Số thẻ
(cái)
Tỷ lệ tăng
(giảm) hàng năm
Doanh số (triệu
VND)
Tỷ lệ tăng
(giảm) hàng năm
1996 389 - 17.065 -
1997 419 + 7,7% 17.722 + 3,8%
1998 340 - 0,19% 31.000 + 74,9%
1999 650 + 91% 29.000 - 6,5%

quả đáng kể, từ đó thu hút được lượng lớn khách nước ngoài tới Việt Nam. Chính
sự ổn dịnh về kinh tế và tiền tệ đã ảnh hưởng tích cực tới công tác phát hành thẻ tại
NHNT. Ngoài những nguyên nhân trên còn có những nguyên nhân chủ quan từ
chính bản thân ngân hàng. Trong hai năm 1995, 1996, NHNT lần lượt trở thành
thành viên chính thức của hai tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất đó là Visa và Master
Card. Với việc trở thành thành viên chính thức của hai tổ chức thẻ lớn này, NHNT
đã củng cố được lòng tin của khách hàng và vị thế của mình trên thị trường thẻ
Việt Nam. Đây chính là tiền đề quan trọng giúp ngân hàng đạt được kết quả như
vậy.
Sang đến năm 1997, số lượng Master Card phát hành tiếp tục tăng nhưng
với tốc độ chậm chạp. Cả năm 1997 ngân hàng phát hành được 419 thẻ , tăng 30
thẻ (tăng 7,7%) so với năm 1996. Tuy nhiên doanh số sử dụng thẻ tăng không
nhiều (từ 17.065 triệu VND lên17.722 triệu VND), tăng 3,8% so với năm 1996. Sự
giảm sút phát hành thẻ chủ yếu là do khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt đầu nổ ra ở
một số nước Châu á vào tháng 7. Số thẻ được phát hành chủ yếu tập trung vào thời
gian đầu của năm 1997. Trong nửa cuối của năm, mặc dù đồng Việt Nam vẫn
tương đối ổn định, nhưng do tâm lý lo sợ khủng hoảng sẽ lan tới Việt Nam nên tiến
độ phát hành thẻ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Trong năm 1998, tình hình kinh tế của Việt Nam không có dấu hiệu khả
quan hơn, thêm vào đó là hai lần điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Nhà Nước tạo ra
những cơn sốt đô la trên thị trường tư nhân đã ảnh hưởng không tốt tới công tác
phát hành thẻ tại NHNT. Tổng số thẻ Master Card phát hành trong năm chỉ đạt 340
thẻ với doanh số sử dụng là 31.000 triệu VND. Tuy doanh số sử dụng có tăng hơn
so với năm 1997 nhưng có cũng không cho ta thấy những dấu hiệu tích cực vì số
thẻ giảm qúa nhiều so với năm 1997: giảm 97 thẻ, giảm 0,19%. Nguyên nhân chủ
yếu là do sự mất giá của đồng Việt Nam. Số thẻ phát hành đa phần được sử dụng ở
nước ngoài bằng USD vì vậy khi quy về đồng Việt Nam có sự tăng trưởng về số
lượng.
Cũng trong năm này, NHNT bắt đầu phát hành thẻ Visa Card. Sự xuất hiện
của Visa Card cũng là một nguyên nhân làm giảm số lượng Master Card phát hành.

giảm giá của một số mặt hàng tiêu dùng trong nước. Hoạt động kinh doanh nhà
hàng khách sạn, du lịch có chiều hướng giảm (có nơi giá khách sạn giảm xuống tới
30%). Thẻ tín dụng của NHNT có một phần sử dụng trong nước nên doanh số sử
dụng giảm xuống.
Sang đến năm 2000, tình hình phát hành 2 loại thẻ này tuy có tăng nhưng
còn chậm. Trong năm nay lại xảy ra sự chênh lệch số thẻ phát hành giữa Visa Card
và Master Card. Số lượng thẻ Master Card giảm nhiều, khoảng 466 thẻ (giảm
71,7%) so với năm 1999. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do thói quen
sử dụng thẻ Visa Card, một phần là vì thời gian đầu máy in thẻ của NHNT không
in được do loại thẻ Master Card có độ kháng từ cao nên buộc phải nâng cấp, buộc
các chủ thẻ phải chuyển sang dùng thẻ Visa. Tuy nhiên, doanh số sử dụng thẻ
Master Card lại không giảm mà lại tăng chút ít so với 1999, tăng 2,3%. Như vậy
chứng tỏ khách hàng cũng đã dần quen thuộc với sử dụng thẻ Master Card.
Ngược lại so với Master Card, năm 2000 số lượng thẻ Visa đã tăng lên đáng
kể, lớn nhất trong 3 năm gần đây, với số lượng 1.143 thẻ, tăng 523 thẻ, với tỷ lệ
tăng 58,8% so với năm 1999. Đạt được thành tích như vậy, một phần là do sự nỗ
lực của cán bộ phòng thẻ trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tăng
cường việc khuếch trương quảng cáo cho sản phẩm dịch vụ này, một phần là do
máy in thẻ Visa Card đã được sửa chữa, ít trục trặc như những năm trước, do đó đã
không gây ấn tượng khó chịu cho chủ thẻ. Qua đây có thể nhận thấy rằng khả năng
việc mở rộng phát hành Visa Card là rất triển vọng. Vì vậy NHNT cần chú ý đến
hoạt động phát hành Visa Card.
Tổng chi tiêu của chủ thẻ đối với hai loại thẻ năm 2000 đã tăng lên nhiều
hơn so với năm 1999 là 15% (từ 61.000 triệu VND năm 1999 lên 69.340 triệu
VND năm 2000) chứng tỏ việc sử dụng thẻ của khách hàng đã trở nên quen thuộc
và đã có sự tự tin về thẻ do NHNT phát hành hơn.
Sang năm 2001, hoà cùng với xu thế đi lên của nền kinh tế đất nước trong
năm đầu của thế kỷ 21, doanh số phát hành thẻ tại NHNT VN cũng đánh dấu một
bước phát triển vượt bậc. So với năm 2000, tổng số thẻ phát hành cho cả hai loại
thẻ là Visa và Master Card là 3.057 thẻ, tăng 131,7%, đưa tổng số thẻ từ khi phát

3000
4000
5000
6000
7000
1996 1998 2000 2002
Master Card
Visa Card
Từ biểu đồ 1 ta thấy mặc dù phát hành sau nhưng số lượng thẻ Visa Card là
lớn hơn rất nhiều so với Master Card. Điều này chứng tỏ thẻ Visa Card có uy tín
với khách hàng nhiều hơn. Tuy nhiên do có sự chênh lệch qua nhiều giữa hai loại
thẻ nên NHNT bên cạnh việc tăng số lượng Visa Card cũng cần có những chính
sách thích hợp để cả hai loại thẻ được phát triển đồng đều.
Biểu đồ 2: Tình hình chung về phát hành thẻ ở NHNT VN
(1996-2002)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status