NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Khái niệm rủi ro và rủi ro thanh toán quốc tế.
1.Khái niệm rủi ro:
Rủi ro là một hiện tượng khách quan có liên quan và có ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến mục tiêu hoạt động của con người mà con người có thể nhận biết được nhưng
con người không thể lượng hoá được những rủi ro đó xảy ra ở đâu, lúc nào và mức độ tác
động xấu đến mục đích của con người như thế nào.
2.Rủi ro thanh toán quốc tế
2.1. Khái niệm TTQT và rủi ro TTQT
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát
sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu
dịch giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các nước
khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng.
Khác với thanh toán nội địa, Thanh toán quốc tế thường gắn liền với việc trao đổi
đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác. Do vậy khi ký kết các hợp đồng
thương mại, tín dụng, hay dịch vụ các bên thường đàm phán, thống nhất về loại ngoại tệ
được dùng trong giao dịch là đồng tiền của nước người bán hay của nước người mua, hoặc
cũng có thể là đồng tiền của nước thứ ba.
Ngoài ngoại tệ là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong thanh toán quốc tế, một yếu tố
không kém phần quan trọng trong hoạt động này là các chứng từ. Chứng từ là cơ sở để
người thụ hưởng có quyền được đòi tiền và là căn cứ để chấp nhận nợ hoặc từ chối nghĩa
vụ chi trả của mình. Các chứng từ được tạo lập theo các luật lệ, tập quán của mỗi quốc gia,
phù hợp với thông lệ quốc tế
Phần lớn các giao dịch chi trả trong thanh toán quốc tế đều thông qua hệ thống tài
khoản tại các ngân hàng.
Với tư cách là một bên liên quan trong các hoạt động TTQT, ngân hàng cũng giống
như nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu sẽ có thể gặp phải những rủi ro gây ảnh hưởng đến uy
tín và tài sản của ngân hàng.
Vậy rủi ro TTQT là những rủi ro về kinh tế phát sinh trong quá trình thực
ngân hàng trả tiền không kiểm tra đầy đủ hai điều kiện trên mà đã tiến hành chi trả thì có
thể gặp phải rủi ro mất tiền, do không được báo có nhưng đã tiến hành chi trả cho người
thụ hưởng, hoặc chi trả sai người thụ hưởng và không đòi lại được từ người nhận tiền.
Để tránh được rủi ro có thể xảy ra, các ngân hàng phải nghiên cứu và sử dụng các
phương tiện thanh toán chuyển tiền bằng điện hoặc bằng thư (T/T hoặc M/T) một cách
chuẩn xác. Hiện nay, các ngân hàng thường xử dụng điện chuyển tiền để thanh toán vì nó
đáp ứng yêu cầu nhanh chóng, chính xác và bảo mật. Điện chuyển tiền có thể bằng Swift
hoặc Telex, trong đó điện Swift được sử dụng phổ biến hơn, chiếm khoảng 90% giao dịch
chuyển tiền quốc tế.
b.Trong phương thức nhờ thu
Người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng gửi hối phiếu và chứng từ nhờ thu hộ tiền từ
người nhập khẩu. Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thu hộ
tiền, không có nghĩa vụ cam kết trả tiền. Việc nhờ thu có thể được thực hiện trên cơ sở hối
phiếu (Nhờ thu trơn-Clean Collection) hoặc bộ chứng từ (Nhờ thu kèm chứng từ-
Documentary Collection).
Giống như phương thức chuyển tiền, do chỉ đóng vai trò trung gian nên ngân hàng
có thể gặp phải rủi ro khi không thực hiện đúng chỉ dẫn của các bên liên quan. Ngân hàng
gửi nhờ thu (Remitting Bank) khi nhận chứng từ nhờ thu của nhà xuất khẩu có trách nhiệm
kiểm tra kỹ chỉ dẫn nhờ thu: D/P – trả ngay hay D/A - trả chậm, người trả tiền, ngân hàng
nhờ thu… Nếu thực hiện sai chỉ dẫn của khách hàng, gửi bộ chứng từ không đúng địa chỉ,
không đòi được tiền, hoặc làm thất lạc chứng từ của khách hàng trong quá trình xử lý
nghiệp vụ, ngân hàng nhờ thu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người xuất
khẩu.
Trong phương thức nhờ thu, khách hàng muốn thông qua ngân hàng để ràng buộc
việc nhận hàng với nghĩa vụ thanh toán của người nhập khẩu. Ngân hàng nhờ thu được chỉ
dẫn trả chứng từ nếu người nhập khẩu thanh toán bộ chứng từ D/P hoặc chấp nhận thanh
toán bộ chứng từ D/A. Ngân hàng nhờ thu có thể gặp rủi ro nếu không đọc kỹ chỉ dẫn của
bộ chứng từ nhờ thu, trả chứng từ khi chưa yêu cầu nhà nhập khẩu nộp tiền để thanh toán
bộ chứng từ D/P, hoặc thực hiện thanh toán không đúng chỉ dẫn thanh toán (Payment
Instruction) của ngân hàng nhờ thu, dẫn đến thất lạc hoặc chậm trễ trong việc chuyển trả
Về bản chất, hợp đồng ngoại thương là văn bản pháp lý ràng buộc trách nhiệm của
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu; đơn đề nghị mở L/C là văn bản pháp lý ràng buộc trách
nhiệm giữa người đề nghị mở L/C (nhà nhập khẩu) và ngân hàng phát hành, còn L/C là văn
bản pháp lý ràng buộc trách nhiệm giữa ngân hàng phát hành với người thụ hưởng (nhà
xuất khẩu). Mặc dù L/C do ngân hàng phát hành nhưng nội dung của nó về cơ bản là do
nhà nhập khẩu đưa ra trong đơn đề nghị phát hành L/C. Do vậy, trách nhiệm của ngân hàng
phát hành là phải chuyển tải chính xác các yêu cầu của đơn đề nghị mở L/C vào nội dung
L/C, để đảm bảo bộ chứng từ xuất trình phù hợp với L/C thì cũng đồng thời phù hợp với
yêu cầu của nhà nhập khẩu. Có như vậy ngân hàng mới có thể đòi bồi hoàn từ nhà nhập
khẩu. Cũng vì vấn đề này, UCP đã khuyến cáo các nhà nhập khẩu và các ngân hàng không
nên đưa quá nhiều chi tiết mô tả hàng hoá vào L/C. Việc đưa quá nhiều chi tiết kỹ thuật
vào L/C một mặt không thể giúp cho ngân hàng và nhà nhập khẩu kiểm soát được chất
lượng hàng hoá thực tế, mặt khác lại dễ gây nhầm lẫn, sai sót trong khi phát hành L/C,
kiểm tra chứng từ, dẫn đến tranh chấp giữa các bên.
Khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tới ngân hàng phát hành, ngân hàng
phát hành có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ để quyết định trả tiền nếu bộ chứng từ hoàn
hảo hay từ chối nếu bộ chứng từ có bất đồng. Khi kiểm tra chứng từ, ngân hàng phát hành
có thể rơi vào những tình huống sau:
- Tình huống thứ nhất: Ngân hàng phát hành trả tiền bộ chứng từ hoàn hảo
- Tình huống thứ hai: Ngân hàng phát hành từ chối trả tiền bộ chứng từ bất đồng
- Tình huống thứ ba: Ngân hàng phát hành trả tiền bộ chứng từ bất đồng
- Tình huống thứ tư: Ngân hàng phát hành từ chối trả tiền bộ chứng từ hoàn hảo.
Tình huống thứ nhất và thứ hai là hai tình huống phù hợp với quyền và trách nhiệm
của ngân hàng phát hành, do vậy không có vấn đề tranh cãi xảy ra. Tình huống thứ ba và
thứ tư là những sai sót của ngân hàng phát hành trong quá trình tác nghiệp, dẫn đến rủi ro.
Ở tình huống thứ ba, nhà nhập khẩu từ chối trả tiền cho ngân hàng phát hành, trong khi ngân
hàng phát hành đã thanh toán cho người thụ hưởng. Trong tình huống thứ tư, người thụ
hưởng sẽ kiện ngân hàng phát hành vì không thực hiện cam kết, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tài chính và uy tín của ngân hàng phát hành. Việc xác định tình trạng bộ chứng từ
hành.
Có hai hình thức chiết khấu là chiết khấu miễn truy đòi và có truy đòi. Đối
với hình thức chiết khấu có truy đòi, ngân hàng chiết khấu nếu không đòi được tiền từ ngân
hàng phát hành thì có quyền đòi hoàn lại số tiền đã chiết khấu từ người thụ hưởng. Ngược
lại, với hình thức chiết khấu miễn truy đòi, trong mọi tình huống, ngân hàng chiết khấu
không được phép đòi lại từ người thụ hưởng. Hình thức chiết khấu miễn truy đòi tiềm ẩn
nhiều rủi ro hơn cho ngân hàng chiết khấu do vậy tỷ lệ chiết khấu thường nhỏ hơn hình
thức chiết khấu có truy đòi. Để đảm bảo cao nhất khả năng đòi tiền từ ngân hàng phát
hành, điều kiện tiên quyết là bộ chứng từ phải hoàn toàn phù hợp với quy định của L/C.
Đối với ngân hàng xác nhận:
Ngân hàng xác nhận có trách nhiệm cùng với ngân hàng phát hành cam kết thanh
toán cho nhà xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp. Ngân hàng xác nhận xuất
hiện khi người thụ hưởng của L/C không tin tưởng vào cam kết của ngân hàng phát hành
thư tín dụng, nên đã yêu cầu một ngân hàng có uy tín và đáng tin cậy đối với mình xác
nhận L/C nói trên.
Ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người thụ hưởng thư tín dụng về việc sẽ
thanh toán cho họ khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C nếu ngân hàng phát hành
không có khả năng thanh toán. Do vậy, ngân hàng xác nhận có trách nhiệm kiểm tra và
định đoạt tình trạng bộ chứng từ do khách hàng xuất trình, nếu chứng từ phù hợp thì tiến
hành thanh toán cho người thụ hưởng và đòi bồi hoàn từ ngân hàng phát hành.
Ngân hàng xác nhận sẽ gặp rủi ro nếu không phát hiện ra bộ chứng từ có bất đồng
vì đã thanh toán cho người thụ hưởng nhưng không đòi bồi hoàn được từ ngân hàng phát
hành. Việc ngân hàng xác nhận trả tiền cho người thụ hưởng là miễn truy đòi, do vậy việc
xác nhận L/C cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh rủi ro do năng lực tài chính và uy tín của
ngân hàng phát hành không tốt, ngân hàng xác nhận còn gặp những rủi ro về nghiệp vụ.
L/C do ngân hàng phát hành phát hành và có quyền định đoạt cuối cùng đối với bộ chứng