THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU - Pdf 73

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI
CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
I/ MỘT SỐ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI CHÂU
1/ Lịch sử ra đời và phát triển:
Ngày 2-9-1965, đựơc sự giúp đỡ của hai tỉnh Quảng Châu và Thượng
Hải (Trung Quốc). Bộ công nghiệp nhẹ quyết định thành lập nhà máy bánh
kẹo Hải Châu. Nhà máy có trụ sở và mặt bằng sản xuất tại đường Minh Khai
- Quận Hai Bà Trưng - Hà nội với tổng diện tích là 50.000 m
2
. Trong đó khu
văn phòng là 3000 m
2
, nhà xưởng là 25.000 m
2
, phục vụ công cộng là 24.000
m
2
, kho bãi là 5000 m
2
.
Khi thành lập nhà máy có ba phân xưởng:
- Phân xưởng mỳ sợi với sáu dây chuyền sản xuất, công suất 2,5-3
tấn/ca. Sản phẩm chính là mỳ sợi lương thực, mỳ thanh, mỳ hoa.
- Phân xưởng kẹo với hai dây chuền sản xuất với công suất 1,5 tấn/ca
sản xuất kẹo cứng, kẹo mềm (Cam, Chanh, Cà Fê).
- Phân xưởng bánh với một dây chuyền sản xuất với công suất 2,5
tấn/ca chuyên sản xuất bánh quy và lương khô phục vụ quốc phòng.
Vào năm 1972, do chiến tranh một phần nhà xưởng máy móc bị hư
hỏng, Bộ công nghiệp thực phẩm (cũ) quyết định tách phân xưởng kẹo
chuyển về nhà máy miến Tương Mai thành lập nên nhà máy Bánh kẹo Hải
Hà ( nay là công ty bánh kẹo Hải Hà thuộc Bộ công nghiệp).

Hiện nay hai sản phẩm bánh kem xóp và bánh kem xốp phủ Socola là hai
mặt hàng chủ đạo của Công ty.
Ngày 29/9/1994, để phù hợp với chức năng và nhiệm vụ kinh doanh
trong giai đoạn mới, nhà máy có quyết định đổi tên thành Công ty Bánh Kẹo
Hải Châu là doanh nghiệp nhà nước là thành viên Tổng Công ty Mía Đường
I, thuộc Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (Nay là Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn).
Năm 1995, được sự tài trợ của Oxtraylia- trong chương trình chống
biếu cổ - Công ty Bánh Kẹo Hải Châu đã đầu tư dây chuyền sản xuất bột
canh Iốt với công suất 3-4 tấn/ca.
Năm 1996, một bộ phận của công ty bánh kẹo Hải Châu đã liên doanh
với một Công ty của Bỉ thành lập một Công ty liên Donah sản xuất kẹo
Sôcôla - Sản phẩm này chủ yếu là để xuất khẩu (70%). Cũng trong năm
1996, Công ty đã đầu tư lắp đặt thêm 2 dây chuyền sản xuất kẹo của CHLB
Đức. Dây chuyền sản xuất kẹo cứng có công suất 4 tấn/ ca, dây chuyền sản
xuất kẹo mềm có công suất 3 tấn/ca.
+ Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty được xác định là:
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm bánh kẹo.
- Sản xuất và kinh doanh bột canh.
- Sản xuất và kinh doanh mỳ ăn liền.
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nước uống có cồn và không có
cồn.
- Kinh doanh vật tư nguyên liệu, bao bì của ngành công nghiệp thực
phẩm.
- Xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng Công ty được phép kinh
doanh (theo giấy phép kinh doanh cấp ngày 29/9/1994).
Mặt hàng chủ yếu của Công ty bao gồm:
Bánh các loại: Bánh Hương Thảo, Hướng Dương, Hải Châu
hương cam. Hải Châu hương dừa, bánh Qui kem, Qui bơ, bánh
Chocobis, bánh kem xốp các loại, bánh kem xốp phủ Socola các

- Công tác cán bộ, tiền lương, lao động;
- Công tác kế toán tài chính, tài vụ;
- Công tác kỹ thuật;
- Công tác XDCB
+ Phó Giám đốc Kinh doanh:Giúp việc cho giám đốc trong lĩnh vực:
- Kế hoạch, kinh doanh tiêu thụ sản phẩm
- Hành chính quản trị, bảo vệ
+ Phó giám đóc Kỹ thuật: Giúp việc cho giám đốc trong lĩnh vực:
- Kỹ thuật: Sửa chữa máy móc, áp dụng công nghệ mới
- Bồi dưỡng nâng cao trình độ công nhân, công tác bảo hộ LĐ
- Kế hoạch tác nghiệp của các phân xưởng
- Kiểm tra chất lượng sản phẩm.
2.1.2 – Các phòng ban:
+. Phòng tổ chức: Giúp việc cho giám đốc trong các hoạt động:
- Tổ chức cán bộ, lao động tiền lương
- Soạn thảo nội quy, quy chế tuyển dụng lao dộng
- Điều động, tuyển dụng, đào tạo lao động
- Bảo hộ lao động
- Giải quyết các chế độ chính sách về lao động
- Công tác hồ sơ nhân sự
+ Phòng Kế hoạch-Vật tư: Giúp việc cho giám đốc trong các hoạt
động:
- Kế hoạch dài hạn
- Kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch tác nghiệp
- Kế hoạch điều độ sản xuất hàng ngày
- Kế hoạch giá thành
- Kế hoạch cung ứng vật tư, nguyên liệu vật liệu
- Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
+ Phòng Kế toán-Tài vụ: Giúp việc cho giám đốc trong các hoạt động:
- Kế toán, thống kê, tài chính

70%, biên chế là 14,16 %, trình độ Đại học là 9,15 %, bậc thợ bình quân là 3-5
-Chính sách đào tạo nhân lực :
Trong những năm gần đây, Công ty có chủ trương đổi mới đội ngũ cán bộ
quản lý trong toàn Công ty. Ngoài ra nhứng công nhân có chí hướng đều được đều
được ưu tiên đào tạo
Với công nhân- Công ty tổ chức thi tay nghề hàng quý, hàng năm để nâng
cao tay nghề cho họ
-Phân bổ nguồn nhân lực:
Việc phân bổ nguồn nhân lực do phòng tổ chức cán bộ sắp xếp theo yêu cầu
công việc mà phòng kế hoạch đã đề ra cả về số lượng và chất lượng lao động-
Phòng tổ chức căn cứ vào đó để phân bổ. Hiện nay, Công ty đang phân bổ lực
lượng lao động cho các ca sản xuất như sau:
. Dây chuyền Trung Quốc 31 người/ca với bậc thợ trung bình 3,5
. Dây chuyền Đài Loan 23 người/ ca bậc thợ bình quân 3,7
. ở phân xưởng bánh- dây chuyền kem xốp 24 người/ca bậc thợ bình quân là
3,85
. Dây chuyền sản xuất bánh kem xốp phủ Sôcôla 11 người/ ca bậc thợ bình
quân là 4,2
. ở phân xưởng sản xuất bột canh thì thường là 70 người/ ngày bậc thợ bình
quân là 3,3 , dây chuyền sản xuất bột canh Iốt 85 người/ ngày bậc thợ bình quân
là 3,3
_ Trả công lao động
Công ty thực hiện trả công lao động căn cứ vào bảng chấm công, bảng phân
loại thi đua, đơn giá theo lượng thời gian, cấp bậc và theo lượng sản phẩm. Căn cứ
vào thực tế của từng phân xuởng, giá thành của từng loại sản phẩm để tính và trả
lương cho người lao động, ngoài ra còn có các loại phụ cấp, các khoản BHXH,
BHYT, KPCĐ...
_ Mức lương bình quân của các năm cũng được nâng lên như sau:
Năm 1993 250.000 đ/ tháng
Năm 1994 330.000 đ/ tháng

Biểu :Sản lượng tiêu thụ của một số Cơ sở bánh kẹo chủ yếu sau:
Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999
Số Công ty SL TP SL TP SL TP SL TP
thị
trườn
g
% % % %
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Hải Châu
Hải Hà
Tràng an
Hữu nghị
19_5
Vinabico
Lubico
Qảngngãi
Lam sơn
Biên hoà
DNkhác
4448

2360
19117
8,42
19,5
8,18
2,78
3,29
7,68
4,48
2,79
3,6
4,49
36,2
5900
11000
4500
1600
1800
4300
2500
1700
2300
2700
17700
10,53
19,6
8,03
2,86
3,21
7,69

Hải hà. Nhưng năm 1999, Công ty bánh kẹo Hải Châu Đạt mức tăng cao nhất thể
hiện : thị phần tăng 4,5%- sản lượng bánh kẹo tăng 59% tương đương với 3487 tấn
Thực tiễn cho thấy trong môi trường cạnh tranh, nếu Công ty thường xuyên
đổi mới công nghệ , nâng cao chất lượng và kiểu dáng sản phẩm thì chắc chắn sẽ
cạnh tranh được cả sản phẩm trong nước và sản phẩm ngoại nhập. Vậy bài toán đặt
ra cho Công ty bánh kẹo Hải Châu là phải biết tận dụng lợi thế so sánh để nâng cao
ưu thế và vị thế của mình
2.3 – Dây chuyền công nghệ sản xuất một số sản phẩm chủ yếu sau
2.3.1 – Dây chuyền sản xuất các loại bánh quy:
Các loại bánh Hải Châu, Hương Thảo, Quy bơ, Quy ép, Hướng Dương nói
chung đều trải qua các quy trình công nghệ sau:
1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8
1 : Phối trộn nguyên liệu
2 : Cán dầy 6 : Làm nguội
3 : Cán mỏng 7 : Chọn
4 : Định hình 8 : Bao gói, đóng hộp
5 : Nướng, sấy
- Công suất thiết kế : 2,5 – 3 tấn/ca
- Công suất thực tế : 1,5 tấn/ca
- Đặc điểm : Đây là dây chuyền cũ do Trung Quốc sản xuất từ năm 1965 , vận
hành thủ công bán cơ khí, nướng bằng lò thủ công
2.3.2 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10
1 : Phối liệu 6: Làm lạnh
2 : Nhào bột 7: Cắt
3 : Nướng vỏ 8: Bao gói đơn
4 : Làm nguội 9: bao gói tổng hợp
5 : Phết kem 10: Đánh kem
- Các sản phẩm của dây chuyền bao gồm : Bánh kem xốp các loại 125g, 150g,
250g, 500g.
- Công suất thiết kế : 1 tấn/ ca

5: Cắt kẹo
6:Bao gói, đóng hộp
_ Công suất thiết kế : 3tấn/ca
_ Công suất thực tế : 1 tấn/ca
_ Đặc điểm : Đây là hai dây chuyền sản xuất hiện đại mới nhập từ CHLB
Đức năm 1996, tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất hoàn toàn tự
động,riêng công đoạn bao gói đóng hộp là làm thủ công
2.3.5 – Dây chuyền sản xuất bột canh thường, bột canh Iốt
a _ Bột canh thường
1- 2 - 3 - 4 - 5
1 :Rang muối
2: Nghiền nhỏ
3: sàng lọc
4: Trộn phụ gia
5 :Bao gói, đóng hộp
_ Công suất thiết kế : 15 tấn/ ngày
_ công suất thực tế : 10 _ 12 tấn/ngày
b _ Bột canh Iốt
1- 2 - 3 - 4 - 5 - 6
1 : Rang muối
2 :Nghiền nhỏ
3 : Sàng lọc
4:Trộn Iốt
5: Trộn phụ gia
6:Bao gói , đóng hộp
_ Công suất thiết kế : 2 _ 4 tấn /ca
_ Công suất thục tế : 1 _ 2 tấn /ca
_ Đặc điểm : Hai dây chuyền này công nghệ đơn giản, chủ yếu là thủ công,
riêng chỉ có công đoạn trộn Iốt là dùng máy của Ôxtralia.
Nhìn vào dây chuyền công nghệ của một số sản phẩm chủ yếu của Công ty

6.407.731
19.975
195,8
105,2
100,0
2- TSLĐ
Vốn bằng tiền
Đầu tư tài chính ngắn hạn
Các khoản nợ phải thu
Các khoản nợ khó đòi
TSLĐ khác
1.774.592
3.342.247
25.066.306
193.856
501.689
4.416.993
23.610.026
368.532
28,27
132,15
94,19
190,10
3- TSCĐ
Nguyên giá tài sản cố
định
Giá trị hao mòn luỹ kế
Đầu ư tài chính dài hạn
Chi phí XDCB dở dang
26.183.253

tông vốn vay. Năm 1997, con số đó là 64,8%. Điều này gây khó khăn cho hoạt
động sản xuất – kinh doanh của công ty nói chung và hoạt động tiêu thụ sản phẩm
nói riêng.
2.5_ Các nhân tố thuộc về môi trường
2.5.1 _Điều kiện nhiệt độ thời tiết
Bánh kẹo hiện nay sản xuất tại công ty bánh kẹo Hải Châu chiếm
một lượng rất lớn bột mỳ, sữa, đường, dầu thực vật, đây là những chất
gây ra cảm giác khô , nóng khi sử dụng. Do đó, điều kiện nhiệt độ thời
tiết có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty.
Vào mùa nóng (các tháng 5_10 ) mọi người sử duụng các sản phẩm đem
lại cảm giác mát mẻ như các loại hoa quả, người nào có thói quen sử dụng
đồ ngọt, họ sẽ chuyển sang sử dụng các loại nước giải khát. Như vậy,
việc tiêu thụ sản phẩm trong những tháng này gặp rất nhiều khó khăn. Khi
thời tiết chuyển sang mùa lạnh (từ tháng 4_ tháng 11), nhu cầu về sản
phẩm của công ty tăng mạnh. Trong những tháng này, việc đảm bảo cung
ứng một khối lượng sản phẩm đều đặn, đầy đủ, đung với yêu cầu của các
đại lý và khách hàng là rất khó khăn, có lúc đã xảy ra hiện tượng thiếu hụt
hàng hoá. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng, các đại lý
phải đi tìm nguồn hàng khác, do đó, công ty đã để mất một phần thị
trường vào tay các công ty khác.
Để có thể đáp ứng được nhu cầu tăng cao vào mùa lạnh, công ty bánh kẹo
Hải Châu đã thực hiện việc dự trữ sản phẩm trong suốt mùa nóng, khi mà nhu cầu
xuống thấp. Tuy nhiên, bánh kẹo là mặt hàng thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm
khó bảo quản lâu trong các điều kiện bình thường, nên chi phí bảo quản tương đối
cao, làm sản phẩm trở nên đắt hơn, làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó
khăn hơn
2.5.2_Tâm lý tiêu dùng
Từ lâu, tại Việt nam, thích tiêu dùng hàng ngoại đã trở thành thói quen của
đông dảo nguời tiêu dùng, đặc biệt là ở các thành phố lớn, nơi mà những người tiêu
dùng sẵn sàng chấp nhận những sản phẩm có mức giá cao với chất lượng và mẫu

việc tiêu thụ sản phẩm của công ty sẽ gặp khó khăn
2.5.5- Danh tiếng (uy tín ) của Công ty
Với hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty bánh kẹo Hải Châu đã
tạo dựng cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường, các sản phẩm của
Công ty đã được người tiêu dùng tín nhiệm. Nhãn hiệu Hải Châu đã trở nên quen
thuộc với không ít người tiêu dùng. Công ty đã tạo được giá trị vô hình cho sản
phẩm của mình. Như vậy, việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty gặp nhiều thuận lợi.
Công việc hiện nay đối với Công ty không chỉ dừng lại ở việc khai thác hình ảnh
tốt về sản phẩm của Công ty trong đông đảo người tiêu dùng mà Công ty phải tiếp
tục xây dựng và mở rộng hình ảnh đó đến với đông đảo người tiêu dùng hơn nữa,
phải tạo dựng thêm giá trị vô hình cho sản phẩm của mình.
2.5.6- Cạnh tranh
Như ta đã biết, nghành sản xuất bánh kẹo luôn có sự cạnh tranh rất mạnh mẽ
do công nghệ sản xuất không quá phức tạp, không đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư
quá lớn như các nghành sản xuất khác. Bất kể một ca nhân hay một tổ chức nào
cũng có thể bỏ vốn thành lập cơ sở sản xuất- kinh doanh bánh kẹo. Do đó, Công ty
bánh kẹo Hải Châu luôn phải hoạt dộng trong một môi trường cạnh tranh rất gay
gắt.
Sản phẩm của Công ty luôn phải cạnh tranh với sản phẩm của các Công ty
sản xuất bánh kẹo trong và ngoài nước.
- Hàng nội: hiện nay trong nước có rất nhiều công ty sản xuất bánh
kẹo có truyền thống như: Công ty bánh kẹo Hải Hà, Công ty bánh kẹo
hữu Nghị, Công ty Tràng An...ở Hà Nội, các công ty bánh kẹo lam
Sơn...ở Miền Trung, công ty Vinabico, công y bánh kẹo Biên Hoà, công
ty bánh kẹo Quảng Ngãi ở miền Nam và rất nhiều công ty liên doanh sản
xuất bánh kẹo. Ngoài ra còn có hàng trăm nghìn cơ sở sản xuất bánh kẹo
tư nhân. Hàng năm, các công ty và các cơ sở trên đưa ra thị trường một
khối lượng sản phẩm rất lớn, đa dạng về chủng loại, mẫu mã, đáp ứng
mọi nhu cầu của các loại khách hàng.
- So sánh trên thị trường thì ngoài sản phẩm bánh kem xốp thì các loại bánh kẹo

1
2
3
4
_Bánh các loại:
. Hương thảo
. Hải Châu
. Lương khô
. hướng dương
. Quy kem
. Quy bơ
. Quy hoa quả
_Kem xốp:
. KX thỏi-
. KX thượng hạng
. KX phủ Sôcôla
.KX gói (300,270,470)
_ Bột canh:
. Bột canh thường
. Bột canh Iốt
_Kẹo các loại
Tấn
-
-
-
-
-
-
-
-

35,27
21,25
27,08
11,37
572,77
330,46
216,48
25,83
4818,01
2983,73
2007,4
976,33
922, 85
4467,24
663,339
1922,17
1217,89
53,20
26,03
-
4,6818

576,9
65,01
22,15
3,34
467,14
58489,7
2706,57
2783,13

• Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty:
Biểu 4 : Giá trị tổng sản lượng hàng hoá các năm của Công ty:
Đơn vị : Triệu đồng
Năm 1997 1998 % 98 với 97 1999 % 99 với 98
Giá trị
hàng hoá 58930,58 80209 136,1 92744,62 115,62
Năm 1999 là một năm đầy khó khăn và thử thách, song toàn Công ty đã đạt
được cá kết quả trong sản xuất kinh doanh và trên mọi mặt công tác, thực hiện giá
trị TSL hàng hoá là 92744,62 triệu đồng, so với năm 1998 thì tăng 15,62%. Như
vậy Công ty đã hoàn thành được chỉ tiêu đề ra là tăng tổng sản lượng bán ra nhằm
tăng doanh thu và điều này cũng cho thấy rằng sản phẩm của Công ty ngày càng
được ưa chuộng hơn trên thị trường. Chứng tỏ rằng niềm tin của khách hàng ngày
càng được củng cố bởi chất lượng và mẫu mã sản phẩm ngày càng được nâng cao
Biểu 4: Kết quả kinh doanh của Công ty bánh kẹo Hải Châu
Các năm 1997,1998,1999
+
Số
TT
Chỉ tiêu Đơn
vị
1997 1998 %98so
với 97
1999 %99 so
với 98
1
2
3
4
5
TổngDT

20380
750000
126,26
134,69
69,8
-
115,38
Là một doanh nghiệp nhà nước, Công ty bánh kẹo Hải Châu từ chỗ được bao
cấp sang hạch toán kinh doanh độc lập trong nền kinh tế thị trường đã gặp rất nhiều
khó khăn như :Trang thiết bị – máy móc lạc hậu, năng lực quản lý kém, thiếu vố
sản xuất.v.v..
Để Công ty đi lên và đứng vững trên chính đôi chân của mình rồi từng bước
khẳng định vị trí của mình trên thương trường là cả một quá trình sáng tạo và lỗ
lực của cán bộ lãnh đạo, cùng với đội ngũ công nhân của Công ty
Bằng các giải pháp đúng đắn mà công ty đã áp dụng các chỉ tiêu phản ánh
kết quả kinh doanhcủa Công ty qua các năm đều tăng với tỷ lệ cao . Qua biểu trên
ta thấy doanh thu của doanh nghiệp có xu hướng tăn lên, tỷ lệ khá cao. Năm 1998
so với 1997 tăng 134,39 %, Năm 1999 so với 1998 tăng 126,26 %. Các khoản phải
nộp ngân sáchcủa Công ty htực hiện rất tốt: Năm 1998so với 1997 tăng 106,21%,
Năm 1999 so với năm 19998 tăng 134,69 % . Riêng năm 1999, Mặc dù lợi nhuận
đạt được chỉ bằng 69,8 % so vớ năm 1998, nhưng các khoản phải nộp ngân sách và
thu nhập bình quân của công nhân viên tăng với tỉ lệ khá cao.
Riêng về tình hình sản xuất kẹo của Công ty trong những năm gần đây
không ổn định : năm 1996 khối lượng kẹo sản xuất ra chỉ bằng 33, 48 % so với
năm 1995 nhưng lại tăng vọt lên trong năm 1997: khối lượng kẹo
sản xuất trong năm 1997 băng 961,07% so với năm 1996. Việc tăng khối
lượng kẹo sản xuất là do trong năm 1996, Công ty bánh kẹo Hải Châu đầu tư hai
dây chuyền sản xuất kẹo của CHLB Đức và hai dây chuyền này bắt đầu hoạt động
từ năm 1997.
Trong các sản phẩm do Công ty bánh kẹo Hải Châu sản xuất, sản phẩm bột


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status