CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THẾ GIỚI - Pdf 73

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG THẾ GIỚI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu lao động
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ tăng dân số hàng năm vẫn còn cao, vấn đề
giải quyết việc làm cho số người đến độ tuổi lao động là một gánh nặng cho các
quốc gia. Do đó, xuất khẩu lao động (XKLĐ) trở thành vấn đề cấp thiết có nội
dung kinh tế - xã hội (KT - XH) sâu sắc và liên quan chặt chẽ với các yếu tố KT -
XH khác trong việc định hướng và phát triển nền kinh tế quốc gia.
Trước hết, để có cái nhìn tổng thể và rõ ràng về vấn đề nghiên cứu của khoá
luận này, chúng ta cần thống nhất một số khái niệm có liên quan trong lĩnh vực lao
động, việc làm được sử dụng trong nghiên cứu:
1. Nguồn lao động: là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh khác nhau.
Đầu tiên, với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nguồn lao
động bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (không bị khiếm
khuyết hay dị tật bẩm sinh).
Với tư cách là một yếu tố của sự phát triển KT - XH, nguồn lao động là khả
năng lao động của xã hội bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động.
Ngoài ra, còn có thể hiểu nguồn lao động là tổng hợp cá nhân những con
người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và
tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Nguồn lao động bao gồm những
người từ độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi).
- Phân loại nguồn lao động:
Có rất nhiều cách để phân loại nguồn lao động. Tuỳ theo giác độ nghiên cứu
mà người ta tiến hành phân loại theo các tiêu thức khác nhau như: căn cứ theo
nguồn gốc hình thành, căn cứ theo vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực tham
gia vào nền sản xuất xã hội hay căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không. Tuy
nhiên trong khuôn khổ của khoá luận tốt nghiệp sẽ chỉ phân loại nguồn lao động
dựa theo nguồn gốc hình thành của lực lượng lao động.

tế.
2. Lao động : là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay
đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Lao động là sự vận
dụng sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất, là quá trình kết hợp giữa
sức lao động và tư liệu sản xuất.
3. Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình
tạo ra của cải vật chất. Trong nền kinh tế hàng hoá, sức lao động là một hàng hoá
đặc biệt, vì: Trước hết, nó có giá trị và giá trị sử dụng như các hàng hoá khác.
Ngoài ra, hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có tư duy, có đời sống tinh
thần. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả. Hàng hoá
sức lao động cũng tuân theo qui luật cung - cầu của thị trường. Mức cung cao sẽ
dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp, ngược lại khi mức
cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao động (tiền công) sẽ trở
nên cao hơn.
4. Việc làm: Theo quy định của Bộ luật lao động : Mọi hoạt động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
- Tỉ lệ người có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế được tính theo công
thức:
Tvl ( % ) = Nvl/Dkt
Trong đó : . Tvl : % người có việc làm
. Nvl : Số người có việc làm
. Dkt : Dân số hoạt động kinh tế
5. Thất nghiệp: là tình trạng người có sức lao động, từ đủ 15 tuổi trở lên
trong nhóm hoạt động kinh tế tại thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có
nhu cầu tìm việc.
- Tỉ lệ người thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế được tính theo công
thức :
Ttn ( % ) = Ntn/Dkt
Trong đó : . Ttn : Tỷ lệ thất nghiệp
. Ntn : Số người thất nghiệp

một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ngày nay XKLĐ
trở nên rất phổ biến và đã trở thành xu thế chung của thế giới.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa XKLĐ. Nếu như trước đây
với thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động”, XKLĐ được hiểu là sự trao đổi lao
động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thoả thuận và kí kết giữa các
quốc gia đó hay là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách
hợp pháp và có tổ chức. Trong hành vi trao đổi này, nước đưa lao động đi được coi
là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận sử dụng lao động thì được coi là nước nhập
khẩu lao động.
Một cách hiểu khác nữa về XKLĐ là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước
thừa và thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ
nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động.
Ngày nay với cách sử dụng thống nhất thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh hơn
đến tính hiệu quả kinh tế của hoạt động này, từ các khái niệm trên có thể hiểu:
XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao
động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất
pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại,
mang đặc thù của xuất khẩu nói chung. Thực chất XKLĐ là sự di cư quốc tế. Tuy
nhiên, đây chỉ là sự di cư tạm thời.
- Đặc điểm:
Trước hết, XKLĐ là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung nên nó
mang tất cả các đặc điểm vốn có của xuất khẩu. Và vì là một bộ phận của nền kinh
tế đối ngoại với những mối quan hệ hợp tác xuyên quốc gia, XKLĐ là một hoạt
động tất yếu khách quan của quá trình hợp tác và chuyên môn hoá quốc tế trong
sản xuất, đưa các quốc gia trên thế giới hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, do XKLĐ không chỉ là xuất khẩu hàng hoá đơn thuần mà là xuất
khẩu con người nên bản thân nó cũng có những đặc điểm riêng. Là một hoạt động
được sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước, XKLĐ mang một số tính chất chính trị,
trở thành một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng. Việc thực hiện XKLĐ phải

Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:
. Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kĩ thuật cao sang các
nước đang phát triển để thu ngoại tệ. Trường hợp này không phải là chảy máu chất
xám mà là đầu tư chất xám có mục đích. Việc đầu tư nhằm một phần thu lại kinh
phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác lớn hơn là
phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kĩ thuật bậc cao ở nước
ngoài .v.v... để thu ngoại tệ.
. Nhóm các nước đang phát triển: Có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặc
bậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảm bớt
khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước.
- Các hình thức XKLĐ mà nước ta đã sử dụng:
Trong quá trình phát triển lĩnh vực XKLĐ, với chưa đầy 20 năm kinh
nghiệm nước ta bước đầu đã áp dụng được một số hình thức khác nhau trong hoạt
động XKLĐ như:
Đưa lao động đi bồi dưỡng, học nghề, nâng cao trình độ và làm việc có thời
hạn ở nước ngoài. Đây là hình thức được chúng ta thực hiện chủ yếu trong giai
đoạn 1980 - 1991. Thông qua việc kí hiệp định hợp tác, sử dụng lao động với các
nước: Liên xô (cũ), CHDC Đức, Tiệp Khắc trước đây, lao động của nước ta ở tại
các nước này được sống, sinh hoạt theo đoàn, đội, có sự quản lý thống nhất từ trên
xuống dưới và làm việc xen ghép với lao động của các nước. Đây là hình thức
được áp dụng cho cả hai đối tượng là lao động có nghề và lao động không có nghề.
Hợp tác lao động và chuyên gia: Đây là hình thức được áp dụng đối với các
nước Trung Đông và Châu Phi trong việc cung ứng lao động và chuyên gia sang
làm việc tại một số nước. Số lao động này có thể đi theo các đoàn, đội hay các
nhóm, cá nhân...
Đưa lao động đi làm tại các công trình doanh nghiệp VN nhận thầu khoán
xây dựng, liên doanh hay liên kết tạo ra sản phẩm ở nước ngoài hay đầu tư ra nước
ngoài. Hình thức này được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng. Đây là hình
thức người lao động thuộc quyền quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam được đi
nước ngoài làm việc đồng bộ tại các công trình phía nước ngoài giao thầu hay giao

quan tất yếu kể từ khi xuất hiện xã hội loài người.
Di cư lao động quốc tế được bắt đầu từ việc buôn bán nô lệ. Vào những năm
1440, các thuỷ thủ Châu Âu đã bắt những người Châu Phi và đưa họ về Châu Âu
để làm nô lệ cho gia đình mình. Và hơn một thế kỉ sau, chuyến tàu buôn nô lệ đầu
tiên đã đưa những người da đen từ Châu Phi tới làm việc trên các đồn điền mía và
thuốc lá tại miền Tây Châu Mĩ. 15 triệu người đã bị bắt đi làm nô lệ chỉ trong vòng
có vài thế kỉ. Bên cạnh đó là làn sóng những người lao động nghèo từ châu Âu
cũng bắt đầu đổ xô sang Châu Mĩ tìm kiếm công việc. Cho tới thế kỉ 18, nhiều
quốc gia ở Châu Âu bắt đầu áp dụng các biện pháp để hạn chế di cư ra nước ngoài
nhằm tránh mất nhiều nguồn nhân lực cần thiết. Nhưng tới giữa những năm 1800,
Chủ nghĩa tự do kinh tế đã xoá bỏ hoàn toàn những rào cản này tạo điều kiện cho
việc tự do buôn bán và đồng thời cả tự do di cư lao động quốc tế.
Cho tới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất tình hình mới dần được cải
thiện, việc quản lý lao động nhập cư được sử dụng để bảo vệ các thị trường trong
nước. Giai đoạn 1920 và 1930, do thất nghiệp hàng loạt xảy ra ở khắp mọi nơi trên
thế giới đã khiến các nước phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ lao động
trong nước khỏi sự cạnh tranh của lao động nước ngoài. Di cư lao động chuyển
sang một giai đoạn mới. Tới thời kì 1950 - 1970, do sự chuyển dịch trong cơ cấu
ngành và cơ cấu lao động dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật, các
quốc gia Châu Âu có nhu cầu rất lớn về lao động phổ thông. Nhằm đáp ứng nhu
cầu đó rất nhiều lao động từ các nước Châu Phi và Châu Á đã đến làm việc tại khu
vực này. Thời gian trôi qua, xã hội loài người ngày càng bước lên một bậc thang
tiến hoá mới văn minh hơn, nhiều thành tựu khoa học ra đời cùng với sự bùng nổ
dân số toàn cầu và do các đặc điểm phân bố địa lý, dân cư ở các vùng là khác
nhau, luồng lao động di cư lại càng phát triển hơn. Từ hình thức tự phát, di cư lao
động bắt đầu chuyển sang hình thức mới có tổ chức với sự can thiệp và quản lý của
Chính phủ. Lao động ở những quốc gia có nền kinh tế chậm và đang phát triển với
mức sống thấp có xu hướng di cư tới các quốc gia có đời sống kinh tế khá hơn, các
quốc gia phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status