NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 73

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT.
1.1.khái niệm đặc điểm vai trò của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
sản xuất.
1.1.1.Khái niệm nguyên vật liệu .
Mác goi tất cả mọi vật xung quanh ta mà lao động có ích tác động vào là đối
tượng lao động . Nhưng đối tượng lao động do lao động lầm ra thì nó mới trở
thành nguyên vật liệu .
Vậy nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã được thay thổi do lao động co ích
của con người tác động vào nó. Trong các doanh nghiẹp sản xuất , nguyên vật liệu
là tài sản dự trữ để sản xuất thuộc tài sản lưu động.
1.1.2.Đặc điểm và vai trò của nguyên vật liệu.
Một trong những điều kiện thiết iếu để tiến hành sản xuất chính là đói tượng
lịch sử trong mọi doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu chính là đối tượng lao
động ,là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm ,nó được thể hiện dưới
dạng vật hoá
Khác với tư liệu lao động ,nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất nhất định và trong quá trình tham gia vào sản xuất , nguyên vật liệu bị tiêu
hao hoàn toàn và bị biến đổi hinh thái ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản
phẩm
Chính vì vậy giá trị của nguyên vật liệu chuyển dịch toàn bộ ít lần vào giá trị
sản phẩm mới tạo ra nên chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ
chi phí sản xuất và giá thành . vì vậy chỉ cần một biến động nhỏ của nguyên vật
liệu cũng ảnh hưởng trực tiếp đến những chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp
như : chỉ tiêu doanh thu , lợi nhuận , giá thành .
Mặt khác, xét về vốn , nguyên vật liệu là phần quan trọng của vốn lưu động ,
đặc biệt là vốn dự trữ . Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, ta cần tăng tốc luân
chuyển của vốn lưu động và điều đó không thể tách rời việc dự trữ và sử dụng vật
liệu một cách hợp lý ,tiết kiệm.
Từ những đặc điểm trên cho thấy nguyên vật liệu có vai trò hết sức quan trọng

phản ánh tình hình xuất và sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất kinh
doanh.Định kỳ phân tích sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm tìm ra nguyên
nhân dẫn đến tăng giảm chi phí vật liệu trong giá thành sản phẩm , khuyến khích
việc phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật , sử dụng tiết kiệm vật liệu, tận dụng phế
liệu sử dụng vật liệu thay thế ngăn ngừa tình trạng lãng phí hư hỏng mất mát vật
liệu trong quả trình sử dụng.
Như vậy công tác quản lý vật liệu có tầm quan trọng lớn, do đó mỗi doanh
nghiệp cần phải quan tâm sâu sắc đến việc cải tiến công tác quản lý cho phù hợp
với thực tế sản xuất tại doanh nghiệp.
1.3.Phân loại đánh giá quản lý nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản
xuất.
1.3.1.Phân loại nguyên vật liệu.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình, các doanh nghiẹp thường phải sử
dụng nhiều loại khác nhau, mỗi loại có một công dụng, vai trò tính năng,cơ hoá
khác nhau. Để có thể quản lý một cách chặt chẽ thì người ta cần phải phân loại vật
liệu theo những yêu cầu nhất định. Vì vậy sẽ là cơ sở để áp dụng các biện pháp
quản lý như: Quản lý theo nơi bảo quản, nguồn bảo quản, nơi sử dụng.
*Căn cứ vào nội dung kinh tế, người ta thường phân vật liệu thành các loại
như sau:
Vật liệu chính: Là những vật liệu sau quá trình gia công chế biến, sẽ thành thể
vật chất chủ yếu của sản phẩm kể cả bán thành phẩm mua vào như sắt, thép.. .
trong xây dựng cơ bản , vải trong doanh nghiệp dệt may.
Nguyên vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng trong sản xuất được sử
dụng để bảo quản, phục vụ hoạt động của tư liệu lao động hay phục vụ cho nhu cầu
kỹ thuật như:Quản lý dầu, keo, hồ , sơn .. .
Nhiên liệu: Thực chất cũng là một loại vật liệu phụ vì nó không trực tiếp tạo ra
thực thể chính của sản phẩm khi sử dụng nó có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Do tính chất ly hoá học nên nhiên liệu được xếp
thành một loại riêng để có chế độ bảo quản sử dụng thích hợp, nhiên liệu có thể ở
thể rắn ,lỏng, khí. Nhiên liệu được sử dụng trực tiếp vào quy trình công nghệ sản

Ký hiệu:1521
Ký hiệu Tên,
nhãn hiệụ
quy cách
Đơn
vị tính
Đơn
giá hạch
toán
Ghi
chú
Nhóm Danh
điểm
Lập bảng danh điểm vật tư là quy định cho mỗi thứ vật tư một ký hiệu riêng bằng
hệ thống các chữ số (có kết hợp với các chữ cái), để thay thế tên gọi quy cách ,
kích cỡ của chúng. Danh điểm vật tư phải được sử dụng thống nhất giữa các bộ
phận quản lý liên quan trong doanh nghiệp có thể lập danh điểm vật tư đối với từng
thứ từng loại vật tư, hàng hoá. Mỗi doanh nghiệp có thể lập danh điểm vật tư hành
hoá theo cách riêng, song cần phải đảm bảo yêu cầu dễ ghi nhớ và hợp lý, tránh
gây nhầm lẫn hay trùng lặp khi lập sổ danh điểm vật liệu. Sổ danh điểm nguyên vật
liệu có tác dụng rất lớn trong công tác hạch toán, đặc biệt đưa công tác tin học vào
hạch toán trong doanh nghiệp mình
1.3.2.Đánh giá nguyên vật liệu
 Các nguyên tắc để đánh giá nguyên vật liệu
+Nguyên tắc giá phí : Theo nguyên tắc này thì vật liệu mua vào phải
được đánh giá theo giá gốc ,giá gốc của nguyên vật liệu phải là toàn bộ chi phí thu
mua ,gia công , chế biến. Giá này bao gồm hai bộ phận chính
Giá bản thân vật liệu + chi phí thu mua + chi phi chế biến
+Nguyên tắc nhất quán : Nguyên tắc nài đòi hỏi một doanh nghiệp phải
sử dụng phương pháp kế toán thống nhất từ kỳ nài sang kỳ khác để đối chiếu ,so

Trong thực tế nguyên vật liệu chủ yếu được nhập từ 3 nguồn: Vật liệu mua ngoài,
nhập sau gia công chế biến,và nhận vốn góp liên doanh và được xác định như sau
*Đối với nguyên vật liệu mua ngoài thì giá vốn thực tế nhập kho là giá
mua ghi trên hoá đơn( bao gồm cả thếu nhập khẩu , thuế GTGT, thếu khác nếu có)
cộng với các chi phi thu mua thực tế( bao gồm chi phi vận chuyển bốc dỡ, bảo
quản , phân loại , bảo hiểm.. .) trừ đi các khoản giàm trừ giad (nếu có)
Giá thực tế nguyên = Giá mua +Chi phí mua – Các khoản giảm giá
Vật liệu mua ngoài (ghi trên hoá đơn) thực tế (nếu có)
+Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp khấu trừ thuế giá trị vật liệu, hàng hoá ,tài sản cố định dịch vụ mua
vào giá mua là giá mua thực tế không có thuế GTGT đầu vào
+Đối với các cơ sở kinh doanh thuộc đối nộp thuế GTGT theo phương pháp
trực tiếp, giá trị vật tư , hàng hoá, tài sản cố định,dịch vụ mua vào là tổng giá thanh
toán(gồm cả thuế GTGT đầu vào ghi trên hoá đơn)
*Đối với nguyên vật liệu doanh nghiệp tự gia công chế biến thì trị giá vốn
nhập kho là giá thực tế của nguyên vật liệu vật liệu cộng các chi phí gia công chế
biến
*Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài chế biến thì giá trị vốn thực tế nhập
kho là giá trị thực tế của nguyên vật liệu xuất thuê ngoài gia công chế biến cộng
với chi phí vận chuyển bốc dỡ đến nơi thuê chế biến và từ nơi chế bién về doanh
nghiệp cộng số tiền phải trả cho người nhận gia công chế biến
Giá thực tế của Giá thực tế nguyên vật chi phí vận chuyển tiền thuê gia
Nguyên vật liệu = liệu xuất thuê ngoài + bốc dỡ , hao hụt + công chế
biến
Nhập từ nguồn gia công chế biến trong định mức
Thuê ngoài gia
Công chế biến
*Trường hợp doanh nghiệp nhận vốn góp liên doanh của các đơn vị khác
bằng nguyên vật liệu, thì giá thực tế của vật liệu nhận vốn góp liên doanhlà do hội
đồng liên doanh đánh giá

nguyên vật liệu tuy nhiên không chinh xác vì không tính đến sự biến động của giá
cả nguyên vật liệu kỳ này
Cách 3:
Giá đơn vị bình Giá thực tế nguyên vật liệu tồn kho sau mỗi lần nhập
=
Quân sau mỗi lần nhập Lượng thực tế nguyên vật liệu tồn kho sau mỗi lần
nhập

Cách tính theo giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập lại khắc phục được nhược
điẻm của hai phương pháp trên vừa chính xác vừa cập nhật.
Nhược điểm của phương pháp này là tốn nhiều công sức tính toán nhiều lần
*Phương pháp nhập trước xuất trước(FIFO): Theo phương pháp này giả thiết
rằng số nguyên vật liệu nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước mới
đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất. Nói cách khác cơ sở của
phương pháp này là giá thực tế của vật liệu mua trước sẽ dùng làm giá để tính giá
thực tế nguyên vật liệu xuất trước và do vậy giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là
giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng phương pháp này thích hợp trong
trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm
*Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO): Phương pháp này giả định những
nguyên vật liệu sau cùng sẽ được xuất trước tiên ngược lại với phương pháp nhập
trước xuất trước ở trên . Phương pháp nhập sau xuất trước thích hợp trong trường
hợp lạm phát, giá cả tăng
*Phương pháp trực tiếp: Theo phương pháp này nguyên vật liệu được xác định
giá trị theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào kho đến khi xuất
dùng( trừ trường hợp điều chỉnh ). Khi xuất nguyên vật liệu nào sẽ tính theo giá
thực tế của vật liệu đó. Do vậy phương pháp này còn có tên gọi là phương pháp giá
thực tế đích danh và thường sử dụng trong các doanh nghiệp sử dụng ít nguyên vật
liệu sử dụng ổn định, có tính tách biệt và nhận diện được
Vậy việc tính giá thành thực tế xuất kho của nguyên vật liệu được tính theo
phương pháp nào thì cũng đảm bảo tính thống nhất trong niên độ kế toán , việc sử

phản ánh tình hình xuất và sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất kinh
doanh.Định kỳ phân tích sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm tìm ra nguyên
nhân dẫn đến tăng giảm chi phí vật liệu trong giá thành sản phẩm , khuyến khích
việc phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật , sử dụng tiết kiệm vật liệu, tận dụng phế
liệu sử dụng vật liệu thay thế ngăn ngừa tình trạng lãng phí hư hỏng mất mát vật
liệu trong quả trình sử dụng.
Như vậy công tác quản lý vật liệu có tầm quan trọng lớn, do đó mỗi doanh
nghiệp cần phải quan tâm sâu sắc đến việc cải tiến công tác quản lý cho phù hợp
với thực tế sản xuất tại doanh nghiệp.
1.4.Kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
1.4.1.Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
Kế toán chi tiết vật liệu được tổ chức theo từng kho từng nhóm nguyên vật
liệu và từng người chụi trách nhiệm bảo quản, sử dụng, kế toán phải thực hiện đầy
đủ các quy định về thủ tục nhập xuất và việc đối chiếu kiểm tra số liệu
Trong doanh nghiệp sản xuất , việc quản lý vật liệu do nhiều người , bộ phận
tham gia. Xong việc quản lý tình hình nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu hàng ngày
được thực hiện chủ yếu ở bộ phận kho doanh nghiệp và phòng kế toán
Hạch toán chi tiết vật liệu phải được thực hiện song song ở kho và phòng kế toán .
Tổ chức hạch toán chi tiết nguyên vật liệu ở kho là một bộ phận kế toán nguyên vật
liệu trong doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng
Ở phòng kế toán với chức năng nhiệm vụ của mình sẽ thông qua các chứng từ
ban đầu đã kiển tra hợp lệ ghi chép vào sổ sách, ghi chép chi tiết và tập hợp bằng
chỉ tiêu giá vốn để phản ánh giám đốc , kiểm tra tình hình nhập xuất, dự trữ , bảo
quản vật liệu trong quá trình sản xuất
• chứng từ sử dụng
Để đáp ứng yêu cầu quản trị kinh doanh , kế toán nguyên vật liệu phải
được thực hiện theo từng nhóm nguyên vật liệu và phải tiến hành đồng thời ở kho
và phòng kế toán trên cùng cơ sở chứng từ .căn cứ vào nội dung các nghiệp vụ phát
sinh liên quan đến vật tư để xác định các chứng từ sử dụng doanh nghiệp
Theo chế độ kế toán quy định ban hành theo QĐ1141TC/CĐKT ngày

thời.
1.4.1.1.Phương pháp thẻ song song
*ở kho: Việc ghi chép tình hình nhập xuất tồn kho hằng ngày do thủ kho tiến
hành. Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập xuất tồn nguyên vật liệu
thủ kho phải tiến hành kiểm tra tính hợp lý, phương pháp của chứng từ rồi tiến
hành số thực nhập thực xuất vào chứng từ và thẻ kho. Mỗi chứng từ nhập, xuất
nguyên vật liệu được ghi một dòng vào thẻ kho. Thẻ kho được mở cho từng danh
điểm vật tư. Cuối tháng thủ kho tiến hành tổng cộng số nhập, xuất tính ra số tồn
kho về mặt lượng theo từng danh điểm vật tư.
*ở phòng kế toán: Kế tóan nguyên vật liệu mở thẻ kho kế tóan chi tiết nguyên
vật liệu cho từng danh điểm vật tư tương ứng với thẻ kho mở ở kho. Thẻ này có
nội dung tương tự thẻ kho, chỉ khác là theo dõi cả về mặt giá trị. Hàng ngày hoặc
định kỳ khi nhận được các chứng từ, nhập, xuất kho do thủ kho chuyển tới, nhân
viên kế toán nguyên vật liệu phải kiểm tra, đối chiếu và ghi đơn giá hạch toán vào
thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liệu và tính ra số tiền. Sau đó lần lượt ghi các nghiệp
vụ nhập, xuất vào các thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liệu có liên quan. Cuối tháng
tiến hành cộng thẻ và đối chiếu với thẻ kho.
để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán phải
căn cứ vào thẻ kế toán chi tiết để lập bản tổng hợp nhập, xuất, tồn kho về mặt giá
trị của từng loại nguyên vật liệu. Số lượng của bàn này đối chiếu với phần kế toán
tổng hợp.
Ngoài ra để quản lý chặt chẽ thẻ kho, nhân viên kế toán nguyên vật liệu còn mở
sổ đăng ký thẻ kho, khi giao thẻ kho cho thủ kho, kế toán phải ghi vào sổ. Có thể
khai thác phương pháp thẻ song song qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 1:
Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song

Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuôi tháng

cho cả năm nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối mỗi tháng. để có số liệu ghi
vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập các bảng kê xuất trên cơ sở lập các
chứng từ nhập, xuất định kỳ do thủ kho gửi lên. sổ đối chiếu luân chuyển cũng
được theo dõi cả về mặt số lượng và giá trị. Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối
chiếu số liệu với thẻ kho, đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp.
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ đối chiếu luân chuyển
Bảng kê xuất
Bảng kê nhập
Kế toán tổng hợp
SƠ ĐỒ 2:
Sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và sổ kế toán tổng hợp
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
*Ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng
Ưu điểm: khối lượng ghi chép của kế toán giảm bớt chỉ ghi một lần vào cuối
tháng
Nhược điểm: Việc ghi sổ vẫn trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về chỉ tiêu
hiẹn vật, việc kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán thang cũng tiến hành
cuối tháng mà hạn chế tác dụng kiểm tra
Phạm vi áp dụng: áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp sản xuất có không
nhiều nghiệp vụ nhập xuất khong phân bổ chỉ riêng nhân viên kế toán chi tiét
nguyên vật liệu. Do vậy không có điều kiện ghi chép theo dõi tình hình nhập xuát
hàng ngày
1.4.1.3. Phương pháp ghi sổ số dư
phương pháp này áp dụng phù hợp với các nghiệp vụ nhập , xuất xảy ra thường

nguyên vật liệu, kế toán căn cứ vào sổ tồn tháng do thủ kho tính ghi ở sổ số dư và
đơn giá hạch toán tính ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền trên sổ số dư viẹc
kiểm tra đối chiếu được căn cư vào số cột tiền tồn kho trên sổ số dư và bảng tổng
hợp nhập xuất tồn(cột số tiền) và số liệu kế toán tổng hợp
*Ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng
Ưu điểm : Tránh được sự ghi chép trùng lặp hiữa thẻ và phòng kế toán, giảm
bớt khối lượng ghi chép kế toán, công việc được tiến hành đều trong tháng
Nhược điểm: Do kế toán chỉ theo dõi về mặt gía trị nên qua số liệu kế toán
không thể biết tình hình biến động của từng thứ nguyên vật liệu mà muốn biết phải
xem trên thẻ kho. ngoài ra khi kiểm tra đối chiếu , nếu có sai sốt thì việc phát hiện
sai sót sẽ khó khăn
Phạm vi áp dụng: thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có khối lượng các
nghiệp vụ về nhập xuất nguyên vật liệu lớn, nhiều chủng loại vật liệu, đã xây dựng
được hệ thống danh điểm vật liệu, dùng giá hạch toán hàng ngày và trình độ kế
toán của doanh nghiệp tương đối cao.
1.4.2.Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
Vật liệu là tài sản lưu động thuộc nhom hàn tồn kho của doanh nghiệp. Theo
chế độ kế toán quy định hiện hành ( theo quyết định 1141/TC/QĐ/CĐTC ngày
1/11/1995) Trong một doanh nghiệp chỉ áp dụng một trong hai phương pháp hạch
toán hàng tồn kho: Phương pháp KKTX hoặc phương pháp KKĐK. Như vậy đối
với nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất phương pháp kế toán tổng hợp
cũng được tiến hành theo một trong hai phương pháp thuộc chế độ quy định
1.4.2.1. Kế toán nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên(KKTX)
Phương pháp KKTX hàng tồn kho là phương pháp ghi chép phản ánh thường
xuyên liên tục và có hệ thống tình hình nhập xuất tồn kho các loại nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ thành phẩm, hàng hoá trên các tài khoản và sổ tổng hợp dựa vào
các chứng từ nhập xuất. Vì thế mà việc xác định giá trị vật liệu, công cụ dụng cụ
xuất kho theo phương pháp KKTX được căn cứ vào chứng từ xuất kho sau khi đã
tập hợp phân loại ra giá trị vật liệu tồn trên tai khoản,sổ kế toán được xác định ở
bất cứ thời điểm nào trong kỳ kế toán

hàng háo mà donh nghiệp đã mua hay chấp nhận mua đã thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp nhưng đến cuối tháng chưa về nhập kho ( kể cả số đang gửi ở kho
người bán)
+ Kết cấu:
Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng đang đi trên đường tăng
Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển giao
cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng
Dư nợ: Giá trị hàng đang đi trên đường( đầu và cuối kỳ)
Ngoài ra trong quá trình hạch toán kế toán còn sử dụng một số tài khoản như tài
khoản 133,111,112,331
*Phương pháp kế toán các nghiệp vụ chủ yếu
Đối với cơ sở kinh donh đã đủ điều kiện tính thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ(thực hiện việc mua bán hàng hoá có hoá đơn thuế GTGT, chứng từ ghi
chép kế toán đày đủ) thuế GTGT đầu vào được tách riêng , không ghi vào giá trị
thực tế của vật liệu. Như vậy khi mua hàng hoá trong giá thanh toán phải trả cho
người bán, phần giá mua chưa thuế được ghi tăng vật liệu còn phần thuế GTGT
đầu vào được ghi vào sổ được khấu trừ
-Trường hợp mua ngoài hàng và hoá đơn cùng về
+ Căn cứ vào hoá đơn mua hàng, biên bản kiểm nhận và phiếu nhập kho kế
toán ghi
Nợ TK 152(chi tiết từngloại vật liệu);Giá mua thực tế
Nợ TK 133(1331): Thuế GTGT được khấu trừ
Có tài khoản liên quan(111,112,141,311): Tổng giá thanh
toán
- Trường hợp hàng thừa so với hoá đơn: Về nguyên tắc khi phát hiện thừa phải
báo cho bên liên quan để cùng sử lý nhưng hạch toàn ghi
+ nếu nhập kho toàn bộ số vật liệu(kể cả số thừa)
Nợ TK 152 (chi tiết vật liệu):Giá tri toàn bộ hàng(giá chưa thuế)
Có TK 331: Trị giá thanh toán theo hoá đơn
Có TK 338:Trị giá hàng thừa( chưa thuế)

Nợ TK 133:Thuế GTGT
Có tài khoản liên quan
- Trường hợp vật tư tự chế thuê ngoài gia công
Nợ TK 152(chi tiết nguyên vật liệu):Giá thành sản xuất thực tế
Có TK 154: Giá thành sản xuất thực tế nhập kho
- Trường hợp làm tăng khác: Ngoài nguồn mua ngoài tự chế , nhập kho vật liệu
của doanh nghiệp còn tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhập góp vốn liên
doanh, đánh giá tăng , thừa.. . Mỗi trường hợp làm tăng giá nguyên vật liệu đều
được ghi Nợ TK 152

Trích đoạn PHIẾU NHẬP KHO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status