CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TRONG CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH THƯƠNG MẠI - Pdf 73

Luận văn tốt nghiệp - 1 - Sinh viên: Nguyễn Văn
Bắc
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG
HOÁ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TRONG CÁC ĐƠN VỊ
KINH DOANH THƯƠNG MẠI.
I. ĐẶC ĐIỂM VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN NGHIỆP VỤ LƯU
CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI
1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại
Thương mại là khâu trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng.
Thương mại bao gồm phân phối và lưu thông hàng hoá
Đặc điểm khác biệt cơ bản giữa doanh nghệp kinh doanh thương mại và
doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp thương mại không trực tiếp tạo ra sản
phẩm, nó đóng vai trò trung gian môi giới cho người sản xuất và người tiêu
dùng. Doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp trực tiếp tạo ra của cải vật chất
phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Doanh ngiệp thương mại thừa hưởng kết quả
của doanh nghiệp sản xuất, vì thế chi phí mà doanh nghiệp thương mại bỏ ra
chỉ bao gồm: giá phải trả cho người bán và các phí bỏ ra để quá trình bán
hàng diễn ra thuận tiện, đạt hiệu quả cao.
Đặc điểm về hoạt động: Hoạt động kinh tế chủ yếu của doanh nghiệp
thương mại là lưu chuyển hàng hoá. Quá trình lưu chuyển hàng hoá thực chất
là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thông qua hoạt
động mua bán, trao đổi sản phẩm hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu hàng hoá
của người tiêu dùng.
Đặc điểm về hàng hoá: Hàng hoá trong kinh doanh thương mại gồm các
loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái vật chất mà
doanh nghiệp mua về để bán.
Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá: Quá trình lưu chuyển
hàng hoá được thực hiện theo hai phương thức: bán buôn và bán lẻ. Trong đó
bán buôn là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, doanh nghiệp
sản xuất...để thực hiện bán ra, hoăc gia công, chế biến bán ra. Đặc điểm của

hàng ở doanh nghiệp được coi là hoàn tất khi hàng hoá đã được kiểm nhận
Khoa kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Luận văn tốt nghiệp - 3 - Sinh viên: Nguyễn Văn
Bắc
nhập kho hoặc chuyển bán thẳng, doanh nghiệp đã thanh toán tiền hàng hoặc
chấp nhận thanh toán.
Quá trình bán hàng (H-T) là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn
bằng hàng hoá sang vốn bằng tiền tệ và hình thành kết quả sản xuất kinh
doanh. Quá trình bán hàng được hoàn tất khi hàng hoá đã giao cho người mua
và đã thu tiền hàng hoặc được chấp nhận thanh toán.
Ngoài nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu là mua bán hàng hoá ra thì các doanh
nghiệp thương mại có thể thực hiện nhiệm vụ sản xuất, gia công, chế biến
kèm theo để tạo ra các nguồn hàng và tiến hành các hoạt động kinh doanh
dịch vụ khác.
Đối với các doanh nghiệp thương mại thì lưu chuyển hàng hoá chiếm tỷ
trọng rất lớn trong hoạt động của doanh nghiệp. Công tác quản lý hàng hoá và
công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá có vai trò rất quan trọng trong hoạt
động lưu chuyển hàng hoá và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
2.2. Yêu cầu quản lý hàng hoá:
Quản lý hàng hoá đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh
thương mại. Quản lý tốt hàng hoá thì có thể tránh rủi ro ảnh hưởng đến việc
tiêu thụ hàng hoá cũng như thu nhập của toàn doanh nghiệp. Để quản lý hàng
hoá tốt thì doanh nghiệp cần đảm bảo quản lý tốt về các mặt số lương, chất
lượng, giá trị.
Quản lý về mặt số lượng: đó là việc phản ánh thường xuyên tình hình nhập
xuất hàng hoá về mặt hiện vật để qua đó thấy được việc thực hiện kế hoạch
mua và tiêu thụ hàng hoá, qua đó cũng phát hiện ra những hàng hoá tồn đọng
lâu ngày tiêu thụ chậm hoặc không tiêu thụ được để có biện pháp giải quyết,

kịp thời những hàng hoá giảm chất lượng, giá cả và khó tiêu thụ.
 Tổ chức tốt nghiệp vụ hạch toán chi tiết hàng hoá, luôn luôn kiểm tra tình
hình ghi chép ở các kho, quầy hàng. Thực hiện tốt chế độ kiểm tra, đối chiếu
sổ sách ghi chép và kết quả kiểm kê hàng hoá ở các kho và quầy hàng.
Khoa kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Luận văn tốt nghiệp - 5 - Sinh viên: Nguyễn Văn
Bắc
 Lựa chọn phương pháp tính giá vốn hàng hoá xuất bán cho phù hợp với
tình hình đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mình để đảm boả đúng chỉ
tiêu lãi gộp hàng hoá.
 Ghi nhận doanh thu bán hàng đầy đủ và kịp thời phản ánh kết quả mua bán
hàng hoá, tham gia kiểm kê đánh giá lại hàng hoá.
 Tính toán chính xác các chi phí liên quan đến quá trình mua bán hàng hoá,
các khoản giảm trừ doanh thu, các khoản thanh toán công nợ với nhà cung
cấp và với khách hàng.
 Xác định kết quả tiêu thụ và lên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
II. HẠCH TOÁN NGHIỆP VỤ LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ:
1. Quá trình mua hàng:
1.1. Các phương thức mua hàng, thanh toán và thủ tục chứng từ:
Doanh nghiệp thương mại có thể mua hàng theo các phương thức sau:
Mua hàng theo phương thức trực tiếp: Theo phương thức này, căn cứ
vào hợp đồng đã ký kết, doanh nghiệp cử nhân viên thu mua hàng hoá mang
giấy uỷ nhiệm nhận hàng đến đơn vị bán hàng để nhận hàng theo quy định
của hợp đồng mua bán hàng hoá, hoặc có thể doanh nghiệp mua trực tiếp tại
các cơ sở sản xuất kinh doanh, tại thị trường. Sau khi hoàn thành thủ tục
chứng từ giao nhận hàng hoá, nhân viên thu mua sẽ vận chuyển hàng hoá
bằng phương tiện tự có hoặc thuê ngoài, mọi chi phí vận chuyển thì do doanh
nghiệp chịu.

thuế TTĐB phải
nộp (nếu có)
-
Giảm
giá hàng
mua
+
Chi phí thu mua
phát sinh trong quá
trình mua hàng
Giá mua hàng hoá là số tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người bán theo
hoá đơn:
Đối với doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
thì giá mua của hàng hoá là mua chưa có thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tang theo phương pháp trực tiếp
và đối với những hàng hoá không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì
giá mua hàng hoá bao gồm cả thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Ngoài ra, đối với trường hợp hàng hoá mua vào trước khi bán cần phải gia
công chế biến thì giá mua hàng hoá bao gồm toàn bộ cho phí phát sinh trong
quá trình đó.
Giảm giá hàng bán là số tiền mà người bán giảm cho người mua. Khoản
này sẽ ghi giảm giá mua hàng hoá. Giảm giá hàng mua bao gồm: giảm giá đặc
biệt, bớt giá và hồi khấu.
Chi phí thu mua hàng hoá là chi phí phát sinh liên quan đến việc thu mua
hàng hoá như chi phí vận chuyển, bôc dỡ, hao hụt trong định mức...
Khoa kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Luận văn tốt nghiệp - 7 - Sinh viên: Nguyễn Văn
Bắc
1.3. Kế toán chi tiết hàng hoá:

Bắc
∗ Nhược điểm:
 Ghi chép trùng lắp giữa kho và phòng kế toán, không thích hợp với doanh
nghiệp sử dụng nhiều loại hàng hoá.
 Nếu sử dụng quá nhiều hàng hoá không ghi chép bằng tay mà phải sử
dụng bằng máy.
Phiếu xuất kho
Thẻ kho
Sổ chi tiết h ng hoáà
Bảng tổng hợp nhập - xuất- tồn
Chứng từ nhập
Sơ đồ 1: Sơ đồ hạch toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp thẻ song song.
1.3.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
Ở kho: thủ kho vẫn mở Thẻ kho để theo dõi số lượng hàng hoá nhập, xuất
giống như ở phương pháp thẻ song song.
Ở phòng kế toán: căn cứ vào chứng từ nhập, xuất hàng hoá kế toán ghi vào
Bảng kê nhập, Bảng kê xuất sau đó tập hợp số liệu trên các bảng này kế toán
ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển. Cuối tháng, kế toán đối chiếu số lượng trên
sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và thủ kho lấy số tiền của từng loại hàng
hoá đối chiếu với kế toán tổng hợp.
∗ Ưu điểm:
 Tránh được việc ghi trùng lắp giữa kho và phòng kế toán
 Cung cấp được thông tin cả về hiện vật và giá trị cho người quản lý
Khoa kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Luận văn tốt nghiệp - 9 - Sinh viên: Nguyễn Văn
Bắc
∗ Nhược điểm: Công việc kế toán thường dồn vào cuối tháng nên việc lên
báo cáo kế toán chậm.
Chứng từ nhập

xuất trong tháng và tính ra số dư cuối tháng cho từng loại hàng hoá trên bảng
luỹ kế. Số dư trên bảng luỹ kế sẽ được đối chiếu với sổ số dư của thẻ kho.
∗ Ưu điểm:
 Tránh được việc ghi chép trùng lắp giữa kho và phòng kế toán
 Cung cấp thông tin thường xuyến giá trị hàng hoá nhập, xuất, tồn
∗ Nhược điểm: Nếu có nhầm lẫn, sai sót khó phát hiện ra. Công tác này đòi
hỏi nhân viên kế toán và thủ kho phải có trình độ chuyển môn cao.
Phiếu nhập kho
Sổ số dư
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Bảng luỹ kế N- X- T
Phiếu giao nhận chứng từ nhập
Phiếu xuất kho
Thẻ kho
Sơ đồ 3: Hạch toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp sổ số dư
Khoa kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Luận văn tốt nghiệp - 11 - Sinh viên: Nguyễn Văn
Bắc
1.4. Hạch toán tổng hợp một số nghiệp vụ mua hàng chủ yếu:
1.4. Theo phương pháp kê khai thường xuyên
 Tài khoản sử dụng:
TK 156 “Hàng hoá”: tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình
hình tăng, giảm theo giá thực tế của các loại hàng hoá của doanh nghiệp,
bao gồm hàng hoá tại các kho hàng, quầy hàng.
TK 156 chi tiết thành 2 tài khoản cấp 2:
TK 1561 “Giá mua hàng hoá”: phản ánh giá trị mua thực tế của hàng hoá
tại kho.
TK 1562 “Chi phí thu mua hàng hoá”: phản ánh chi phí thu mua hàng hoá.
TK 151 “Hàng mua đang đi đường”: phản ánh hàng hoá, vật tư của doanh

chỉ khác, trong giá mua hàng hoá còn bao gồm cả thuế GTGT
1.4. Hạch toán nghiệp vụ mua hàng theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp căn cứ vào kết quả kiểm kê
thực tế để phản ánh giá trị tồn kho cuối kỳ của vật tư, hàng hoá trên sổ kế toán
tổng hợp và từ đó tính ra giá trị hàng hoá, vật tư xuất dùng trong kỳ theo công
thức:
Trị giá vốn
thực tế của
hàng hoá xuất
trong kỳ
=
Trị giá vốn
thực tế của
hàng hoá còn
lại đầu kỳ
+
Trị giá vốn thực
tế của hàng hoá
tăng thêm trong
kỳ
-
Trị giá vốn thực
tế của hàng hoá
còn lại cuối kỳ
 Tài khoản sử dụng:
 TK 611 “Mua hàng”
Khoa kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Luận văn tốt nghiệp - 13 - Sinh viên: Nguyễn Văn
Bắc

tương tự như các doanh nghiệp chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ,
chỉ khác, trong giá mua hàng hoá còn bao gồm cả thuế GTGT.
2. Quá trình tiêu thụ hàng hoá:
2.1. Các phương thức tiêu thụ hàng hoá, phương thức thanh toán và thủ
tục chứng từ:
Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp thương mại. Thông qua bán hàng giá trị và giá trị sử dụng của
hàng hoá được thực hiện, vốn của doanh nghiệp thương mại được chuyển từ
hình thái hiện vật sang hình thái giá trị. Doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra
bù đắp chi phí và có nguồn tích luỹ để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Các doanh nghiệp thương mại có thể sử dụng các phương thức bán hàng
sau:
 Phương thức bán buôn: là phương thức bán hàng cho các đơn vị sản xuất,
các đơn vị thương mại... để tiếp tục bán ra hoặc đưa vào sản xuất, gia công,
chế biến tạo ra sản phẩm để bán ra. Đặc điểm của phương thức bán hàng này
là hàng hoá vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông chứ chưa đưa vào trạng thái
tiêu dùng. Hàng hoá bán ra thường với khối lượng lớn và có nhiều hình thức
thanh toán. Trong bán buôn thường bao gồm 2 kiểu:
∗ Bán buôn qua kho: là phương thức bán buôn hàng hoá trong đó hàng hoá
được xuất kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn qua kho được thể hiện
dưới hai hình thức:
 Bán buôn qua kho theo hình thức giao trực tiếp: theo hình thức này, bên
mua cử nhân viên mua hàng đến kho của doanh nghiệp để nhận hàng. Sau khi
Khoa kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân

Trích đoạn KHÁI QUÁT HẠCH TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status