NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH HOÁ - Pdf 73

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ NỘI DUNG CỦA
KẾ HOẠCH HOÁ
I. NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1. Khái luận nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (về phương diện lý luận ) là nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trường, trong đó việc giả quyết các vấn đề lớn của nền
kinh tế như sản xuất cái gì?, sản xuất như nào?, sản xuất cho ai?, sản xuất ở đâu?
được quyết định bởi thị trường, thông qua các quy luật của thị trường như quy luật
cung cầu, quy luật giá trị, …
2. đặc điểm
- Vế vấn đề sở hữu, chúng ta thực hiện nền kinh tế đa thành phần ứng với
mỗi thành phần là một loại hình sở hữu khác nhau như sở hữu Nhà nước, sở hữu tư
nhân, sở hữu tập thể,…như vậy thông qua việc nhận thức lại, nhận thức đúng
chúng ta đã thực hiện đúng với thực tế đòi hỏi cho sự phát triển hơn ít nhất là trong
vấn đề sở hữu,..
- Về vai trò của Nhà nước, Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế,
thực hiện phát triển thị trường cũng như thực hiện các giải pháp – biện pháp thúc
đẩy, khuyến khích thị trường, cơ chế thị trường phát triển. Tạo ra một cơ chế: Nhà
nước điều tiết thị trường và thị trường điều tiết sản xuất, Nhà nước thực hiện điều
tiết thị trường thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như luật pháp, các chính sách,
kế hoạch hoá (một công cụ duy nhất tác động mền dẻo vào nền kinh tế,..),…Thị
trường thực hiện giải quyết các vấn đề lớn của nền kinh tế thông qua các quy luật
của thị trường,…
Tóm lại: Nhà nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước. Vậy thực chất nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp.
II.NỘI DUNG CỦA KẾ HOẠCH HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Cùng với sự đổi mới một cách toàn diện, thì kế hoạch hoá cũng không
ngừng được đổi mới theo hướng ngày càng hoàn thiện về mọi mặt. Nếu như trong
cơ chế tập trung nội dung của kế hoạch hoá mới chỉ dừng lại ở kế hoạch, một nội
dung trong các nội dung của kế hoạch hoá, thì nay nội dung của kế hoạch hoá được

xã hội là hướng vào con người, hướng vào sự phát triển toàn diện của con người.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là chiến lược đi liền với mục tiêu phát
triển kinh tế là các mục tiêu về xã hội , môi trường. chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội thực chất là tổng hợp sự phân tích đánh giá lựa chọn về các căn cứ, các
quan điểm, các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của một đất nước trong một
thời gian dài và đưa ra những chính sách, thể chế cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu
đề ra,…
b. Đặc điểm
• Tính lâu dai ( tính định hướng dài hạn ): Chiến lược thường được xác định
trong một khoảng thời gian dài, khoảng từ 10 – 20 năm. vì bản chất của chiến lược
là có tính định hướng, các mục tiêu có tính chất tổng quát, tính toàn cục cho sự
phát triển của đất nước,…Để giải quyết các vấn đề lớn này đỏi hỏi phải có thời
gian.
• Tính toàn diện: Các vấn đề, các mục tiêu được đề cập trong chiến lược phát
triển thường mang nặng tinh định tính, tính toàn cục. Phản ánh một cách toàn diện
mọi mặt của đời sống xã hội như các vấn đề về kinh tế, các vấn đề về văn hoá,…
• Tính hệ thống: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là hệ thống bao gồm
nhiều chiến lược hợp thành. Theo cấp quản lý thì có chiến lược quốc gia như chiến
lược quốc gia về quân sự, chiến lược quốc gia về phát triển một ngành công nghiệp
mũi nhọn,…; các chiến lược địa phương như chiến lược phát triển ngành nông
nghiệp của một tỉnh nào đó,…; các chiến lược phát triển các ngành ( thuộc sự quản
lý của các bộ ) như chiến lược phát triển từ năm 2001 tới năm 2010 của nghành
công nghiệp,…; các chiến lược cấp công ty ( chiến lược kinh doanh ).. Tính hệ
thống được thể hiện trong tất cả các nội dung củâ chiến lược, từ việc xác định các
mục tiêu, các quan điểm phát triển, các nội dung củâ chiến lược cho tới khi thực
hiện và đi vào tổng kết đánh giá hiệu quả của chiến lược, tính hệ thống là một đặc
trưng của chiến lược và thể hiện tập trung ở tính thống nhất, tính toàn diện, tính
cân đối trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội …
• Tính hiệu quả: Vấn đề hiệu quả là vấn đề có tính chất quy luật phổ biến. nó
biểu hiện ở sự nâng cao hiệu quả của đời sông xã hội về mọi mặt về cả vật chất lẫn

hữu khác nhau; kết hợp phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội .
Hai là: quan điểm về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
động theo cơ thị trường và có sự quản lý vĩ mô của nhà nước.
Ba là: quan điểm về thực hiện nền kinh tế mở, thực hiện mở cửa nền kinh tế,
đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế
thế giới. Ta xác định quan hệ –tham gia kinh tế với tất cả các nước, các tổ chức
quốc tế trên quan điểm hợp tác đôi bên cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền độc lập
dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ,..
Bốn là: quan điểm về hiệu quả kinh tế – xã hội, coi hiệu quả kinh tế – xã hội
là tư tưởng, quan điểm quan trọng nhất của sự phát triển, các đơn vị sản xuất kinh
doanh phải có hiệu quả, phải có lãi, phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm với Nhà
nước và với xã hội theo luật định.
Năm là: quan điểm kêt hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với ổn
định - đổi mới chính trị tăng cường củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội …
c. Xác định các mục tiêu của chiến lược
Mục tiêu phát triển của chiến lược là mức phấn đấu cần đạt được trong thời
kỳ chiến lược. Nó biểu hiện những biến đổi quan trọng của nên kinh tế một cách
toàn diện. mục tiêu của chiến lược bao gồm hai phần: phần định tính và phần định
lượng.
Về mặt định tính: thường được mô ta bằng lời văn trong đó mô tả sự phát
triển chủ yếu của một quốc gia về mọi phương diện như về trình độ hiện đại hoá
của nền kinh tế, trình độ phát triển của nền kinh tế khi kết thúc thời kỳ chiến lược ,

Về mặt định lượng: thường được biểu hiện bằng con số như tới năm 2000
tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9 –10%. Trong xu thế chung của kế hoạch hoá thì
cac mục tiêu mang nặng tính chất định lượng (tới mức tối đa mà điều kiện cho
phép) vì trước đây ta thường xác định phần định lượng quá cao trong các mục tiêu,

Yêu cầu Trung tâm Thương mại Truyền hình:

• Các chính sách về thu nhập, cải thiện tình hình thu nhập, bảo đảm
công bằng xã hội,…
• Các chính sách về văn hoá, giáo dục, khoa học tài nguyên và môi
trường, các chính sách về an ninh quốc gia, về quốc phòng,…
e. Vai trò của chiến lược
Chiến lược làm căn cứ để hoạch định các quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế – xã hội. việc xây dựng, thực hiện, quản lý các quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội phải xuất phát từ chiến lược; chiến lược còn là cương lĩnh
hành động của quản lý xã hội. Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay việc quản lý
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì Đảng ta xác định quản lý bằng pháp
luật, bằng các chính sách, bằng kế hoạch và thông qua kế hoạch. Trong đó chúng ta
xác định kế hoạch là một công cụ quan trọng để quản lý; Ngoài ra chiến lược còn
là một bước cụ thể hoá đường lối, cụ thể hoá các quan điểm phát triển, là cầu lối
giữa đường lối phát triển của Nhà nước với thực diện của đời sống xã hội,..
2. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status