LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 73

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
BÁN HÀNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1/ Những vấn đề cơ bản về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng.
1.1.1/ Khái niệm về bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Bán hàng: Tự thân nó không phải là một quá trình của hoạt động SXKD mà
nó là một khâu cần thiết không thể thiếu của tái sản xuất xã hội. Trong nền kinh tế
thị trường sản xuất ra sản phẩm hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã
hội là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp
sản xuất bán hàng là bán những sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc cung
cấp dịch vụ cho khách hàng.
Bán hàng là việc doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu về sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ cho người mua, được người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
Kết quả bán hàng: là kết quả cuối cùng về mặt tài chính của hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nói cách khác, kết quả bán hàng là phần chênh lệch giữa doanh
thu bán hàng,các khoản giảm trừ doanh thu với trị giá vốn hàng bán, chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng
để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2/ Ý nghĩa của quá trình bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Thông qua hoạt động bán hàng, giá trị của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mới
được thực hiện và đó là điều kiện để thực hiện mục đích của việc sản xuất hàng
hóa và tái sản xuất không ngừng được mở rộng.
Thông qua hoạt động bán hàng mới thúc đẩy được sản xuất phát triển, góp
phần nâng cao năng suất lao động, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội, góp phần cân đối giữa sản xuất và tiêu
dùng. Mặt khác thông qua hoạt động bán hàng nhằm giải quyết quan hệ hàng hóa -
tiền tệ là tiền đề cân đối giữa tiền hàng trong lưu thông, không những thế nó còn
đảm bảo sự cân đối giữa các ngành, các khu vực trong nền kinh tế.
Đối với mỗi doanh nghiệp bán hàng là điều kiện để sản xuất phát triển, mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng nhanh tốc độ vòng quay vốn và tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Bán hàng còn là tiền đề cho việc xác định kết quả hoạt

nhu cầu sinh hoạt cá nhân và bộ phận nhu cầu kinh tế tập thể. Số lượng tiêu thụ của
mỗi lần bán thường nhỏ, có nhiều phương thức bán lẻ:
+ Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp.
+ Phương thức bán hàng đại lý (ký gửi).
+ Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm.
+ Các phương thức bán hàng khác.
1.2/ Nội dung của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
1.2.1/ Kế toán doanh thu bán hàng
1.2.1.1/ Khái niệm về doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng là tổng số tiền mà doanh nghiệp đã, sẽ thu được từ các
giao dịch bán sản phẩm hàng hoá và cung cấp dịch vụ cho khách hàng, kể cả các
khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán.
1.2.1.2/ Thời điểm ghi nhận doanh thu
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.
- Người bán không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu
hàng hóa hoặc kiểm soát hàng hóa.
- Doanh thu đuợc xác định tương đối chắc chắn.
- Người bán đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bàn hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Như vậy, thời điểm ghi nhận doanh thu (tiêu thụ) là thời điểm chuyển giao
quyền sở hữu về hàng hóa, lao vụ từ người bán sang người mua. Nói cách khác,
thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm người mua trả tiền hay chấp nhận nợ về
lượng hàng hóa, dịch vụ mà người bán chuyển giao.
1.2.1.3/ Phương pháp xác định doanh thu bán hàng
Trong thực tế, mỗi doanh nghiệp áp dụng một hình thức xác định doanh thu
bán hàng khác nhau tùy thuộc vào phương pháp tính thuế GTGT.
Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì doanh
thu bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ không bao gồm thuế GTGT.

trong hóa đơn bán hàng và các chứng từ liên quan đến bán hàng.
- Một số trường hợp không được hạch toán vào TK 511:
+ Trị giá hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công
chế biến.
+ Trị giá sản phẩm, bán thành phẩm, dịch vụ cung cấp giữa các đơn vị thành
viên trong một công ty, tổng công ty hạch toán ngành (sản phẩm, bán thành phẩm,
dịch vụ tiêu thụ nội bộ).
+ Số tiền thu được về nhượng bán, thanh lý TSCĐ.
+ Trị giá sản phẩm, hàng hóa đang gửi đi bán, dịch vụ hoàn thành đã cung
cấp cho khách hàng nhưng chưa được người mua chấp nhận thanh toán.
+ Trị giá hàng gửi bán theo phương thức gửi bán đại lý, ký gửi (chưa được
xác định là tiêu thụ).
+ Các khoản thu nhập khác không được coi là doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ.
- TK 511 có 5 TK cấp 2:
TK 5111 - "Doanh thu bán hàng hóa"
TK 5112 - "Doanh thu bán thành phẩm"
TK 5113 - "Doanh thu cung cấp dịch vụ"
TK 5114 - "Doanh thu trợ cấp, trợ giá"
TK 5117 - "Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư"
* TK 512 - "Doanh thu nội bộ"
- TK 512 dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hóa dịch vụ
tiêu thụ nội bộ doanh nghiệp. Doanh thu tiêu thụ nội bộ là lợi ích kinh tế thu được
từ việc bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong
cùng một công ty, tổng công ty tính theo giá bán nội bộ.
- Kết cấu TK: Tương tự TK 511.
- TK 512 có 3 TK cấp 2:
TK 5121 - "Doanh thu bán hàng hóa"
TK 5122 - "Doanh thu bán thành phẩm"
TK 5123- "Doanh thu cung cấp dịch vụ"


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status