TÌNH HÌNH THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
VỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
DỆT 8/3.
I-/ MỘT SỐ HÌNH ẢNH SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY DỆT 8/3
Tên đơn vị : Công ty Dệt 8/3
Tên giao dịch : Eight March Textile Company
Tên viết tắt : EMTEXCO
Địa chỉ : 460 Minh Khai - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
1-/ Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Với chủ trương khôi phục kinh tế sau chiến tranh đưa miền Bắc tiến lên
XHCN, đầu năm 1959, Chính phủ ta quyết định cho xây dựng nhà máy liên hợp
sợi - dệt - nhuộm. Nhà máy có công suất thiết kế ban đầu là 35 triệu mét vải
thành phẩm mỗi năm và có quy mô loại I trong nền kinh tế quốc dân.
Từ năm 1960 đến năm 1965 là giai đoạn hình thành những nền móng ban
đầu của nhà máy. Trong thời gian này, được sự giúp đỡ của Chính phủ nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, những phân xưởng đầu tiên của nhà máy đã lần
lượt ra đời. Ngày 8/3/1965, nhà máy được cắt băng khánh thành và chính thức
mang tên Nhà máy Dệt 8/3.
Kể từ ngày thành lập và trong suốt thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Nhà máy
Dệt 8/3 luôn đi đầu trong phong trào thi đua sản xuất cung cấp kịp thời nhu cầu
về vải cho tiền tuyến, đồng thời làm tốt công tác hậu cần địa phương vừa sản
xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Chỉ tính từ năm 1965 đến năm 1985, nhà máy đã
sản xuất được 106.087 tấn sợi, 5.920.502 triệu mét vải thành phẩm. Năm 1985,
nhà máy vinh dự được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước trao tặng Huân chương
lao động hạng nhất.
Trong những năm đầu bước sang kinh tế thị trường, Nhà máy đã gặp phải
rất nhiều khó khăn do hầu hết máy móc, trang thiết bị, công nghệ đều cũ kỹ, lạc
hậu nên sản phẩm của nhà máy không thể cạnh tranh với hàng liên doanh. Trước
thực trạng đó, được sự giúp đỡ của Nhà nước, nhà máy đang từng bước đổi mới
quy trình công nghệ, tổ chức lại phương thức sản xuất và bộ máy quản lý để
nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Cho nên trong những năm gần
thuộc Tổng Công ty Dệt - may Việt Nam. Đứng đầu Công ty là Ban Giám đốc
chỉ đạo trực tiếp xuống từng phòng ban, xí nghiệp thành viên. Giúp việc cho
Ban giám đốc là các phòng chức năng và các phòng nghiệp vụ.
Ban Giám đốc của Công ty bao gồm 4 người: 1 Tổng Giám đốc, 3 Phó
Tổng Giám đốc.
- Tổng giám đốc: là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo của Công ty, chịu
trách nhiệm chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý và chịu trách nhiệm trước cơ quan
2
chủ quản cấp trên. Ngoài việc uỷ quyền cho các Phó Tổng giám đốc điều hành
các công việc của Công ty, Tổng giám đốc còn trực tiếp điều hành các phòng:
Kế toán - Tài chính, tổ chức lao động, xuất nhập khẩu.
- Phó Tổng giám đốc kỹ thuật: là người phụ trách về kỹ thuật sản xuất,
công nghệ sản xuất trong Công ty và chỉ đạo trực tiếp phòng kỹ thuật - Đầu tư.
- Phó Tổng giám đốc sản xuất và tiêu thụ: là người phụ trách và điều hành
phần sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chỉ đạo trực tiếp các phòng: kế hoạch tiêu
thụ, kho, bảo vệ - quân sự và các giám đốc của các xí nghiệp thành viên.
- Phó Tổng giám đốc phụ trợ - chất lượng: là người phụ trách về việc kiểm
tra chất lượng sản phẩm và chỉ đạo trực tiếp phòng KCS.
Các phòng ban chức năng nghiệp vụ: Được tổ chức theo yêu cầu quản lý
sản xuất kinh doanh, chịu sự lãnh đạo của Ban Giám đốc và trợ giúp cho Ban
Giám đốc điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các phòng ban có
nhiệm vụ chấp hành và kiểm tra việc chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các chế
độ chính sách của Nhà nước, các nội quy của Công ty và các mệnh lệch của
Giám đốc. Ngoài ra các phòng ban còn có nhiệm vụ đề xuất với ban Giám đốc
những biện pháp giải quyết những khó khăn vướng mắc gặp phải trong quá trình
sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý của Công ty. Các
phòng ban nghiệp vụ của Công ty gồm:
- Phòng kỹ thuật đầu tư: có nhiệm vụ đầu tư, chuẩn bị về kỹ thuật cho sản
xuất từ khâu thiết kế sản phẩm, quy trình công nghệ đến khâu nhập kho thành
phẩm.
Công ty Dệt 8/3 có một cơ cấu tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn
chỉnh bao gồm các xí nghiệp sản xuất chính và các xí nghiệp sản xuất phụ.
Các xí nghiệp sản xuất chính: có tổng diện tích 51.380 mét vuông với 3280
công nhân, bao gồm:
- Xí nghiệp sợi: Có diện tích 21.000 mét vuông với 1.650 công nhân, có
nhiệm vụ chuyên sản xuất sợi để cung cấp cho dệt vải mộc hoặc cung cấp cho
thị trường.
- Xí nghiệp Dệt: Có diện tích 19.000 mét vuông với 1.097 công nhân, có
nhiệm vụ nhận sợi từ xí nghiệp sợi và tiến hành sản xuất vải mộc.
- Xí nghiệp nhuộm: Có diện tích 9.800 mét vuông với 351 công nhân, có
nhiệm vụ nhận vải từ xí nghiệp Dệt và tổ chức nhuộm, in hoa.
Các xí nghiệp sản xuất phụ:
- Xí nghiệp Động lực: làm nhiệm vụ cung cấp nước, năng lượng điện, hơi
nước cho toàn Công ty.
- Xí nghiệp phụ tùng: làm nhiệm vụ sửa chữa máy móc, thiết bị của Công ty.
- Xí nghiệp may, dịch vụ: Có diện tích 1.580 mét vuông với 182 công nhân,
có nhiệm vụ may quần áo các loại, túi, khăn... là bộ phận sản xuất kinh doanh
phụ tận dụng các điều kiện hiện có của công ty để tạo ra công ăn việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động.
5
4-/ Kết quả sản xuất một số năm gần đây của Công ty Dệt 8/3.
Với sự cố gắng vươn lên của toàn thể cán bộ và công nhân viên, Công ty Dệt
8/3 đã đạt được những thành tựu đáng kể. Theo báo cáo tổng kết 2 năm 1998 -
1999, ta có thể đánh giá kết quả hoạt động của Công ty thông qua các chỉ tiêu sau:
BẢNG KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY DỆT 8/3.
TT Chỉ tiêu Đơn vị 1998 1999
Chênh lệch
Tuyệt đối %
1 Tổng doanh thu Nghìn đồng 180.987.000 205.798.025 24.811.025 113,7
2 Tổng chi phí Nghìn đồng 180.931.600 205.722.180 24.790.580 113,2
công tác kế toán đều được thực hiện ở phòng kế toán tài chính từ khâu thu nhận
chứng từ, ghi sổ đến khâu xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo, phân tích và
tổng hợp. Ở Công ty Dệt 8/3, ngoài 17 nhân viên ở phòng kế toán tài chính, dưới
các xí nghiệp thành viên còn bố trí các nhân viên hạch toán kinh tế nhằm giúp
cho phòng một số công việc nhất định (lập bảng tính lương, tập hợp các phiếu
nhập kho, phiếu xuất kho).
Đứng đầu bộ máy kế toán là trưởng phòng kế toán tài chính: là người điều
hành, giám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy kế toán, chịu trách nhiệm về
nghiệp vụ chuyên môn kế toán, tài chính của Công ty. Trưởng phòng kế toán tài
chính thay mặt Nhà nước kiểm tra việc thực hiện chế độ, thể lệ quy định của
Nhà nước về lĩnh vực kế toán, tài chính của Công ty.
Phó phòng kế toán tài chính kiêm kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ trợ giúp
kế toán trưởng phụ trách các hoạt động của phòng, đồng thời có trách nhiệm
tổng hợp các chứng từ, bảng kê, nhật ký chứng từ do các kế toán viên cung cấp
vào cuối tháng, quý, năm. Sau đó, kế toán tổng hợp sẽ vào sổ cái cho từng tài
khoản rồi lập báo cáo theo quy định chung của Bộ Tài chính và các báo cáo nội
bộ theo yêu cầu của cấp trên.
Kế toán quỹ: Giám sát việc thu - chi qua các chứng từ gốc, theo dõi và sử
dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, đồng thời theo dõi tình hình thanh toán với
khách hàng, thanh toán tạm ứng... Kế toán quỹ phụ trách tài khoản 111, 131, 141...
và các sổ chi tiết của nó. Cuối tháng, lập bảng kê số 1 và nhật ký chứng từ số 1.
Thủ quỹ: chịu trách nhiệm về quỹ tiền mặt của Công ty. Hàng ngày căn cứ
vào các phiếu thu, chi... hợp lệ để xuất hoặc nhập quỹ, ghi sổ quỹ, cuối ngày đối
chiếu với kế toán quỹ, nếu có sai sót phải sửa chữa kịp thời. Khi có yêu cầu của
cấp trên, thủ quỹ và các bộ phận có liên quan tiến hành kiểm kê lại quỹ tiền mặt
hiện có. Nếu thiếu hụt sẽ phải tìm nguyên nhân và đề ra biện pháp xử lý.
Kế toán tiền ngân hàng: Thực hiện toàn bộ những giao dịch thu chi, thanh
toán với ngân hàng. Phụ trách tài khoản 112, 311... và các sổ chi tiết. Cuối
tháng, lập bảng kê số 2 và nhật ký chứng từ số 2.
7
8
b, Tổ chức sổ kế toán ở Công ty Dệt 8/3.
Xuất phát từ điều kiện thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh kết hợp
với việc tìm hiểu, nghiên cứu những ưu nhược điểm của hình thức tổ chức sổ kế
toán, kế toán Công ty đã lựa chọn hình thức tổ chức sổ kế toán theo kiểu nhật ký
chứng từ. Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh
trên các sổ chi tiết, các bảng phân bổ, các bảng kê và các nhật ký chứng từ. Cuối
tháng, kế toán tổng hợp căn cứ vào các bảng kê và các nhật ký chứng từ để ghi
vào sổ cái và lập báo cáo.
Hiện tại, Công ty đang sử dụng 10 nhật ký chứng từ, 11 bảng kê, 4 bảng
phân bổ, 6 sổ chi tiết và sổ cái tài khoản. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy
định chung về sổ sách trong hình thức nhật ký chứng từ.
- Niên độ kế toán bắt đầu từ 1/1/N đến 31/12/N.
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: VNĐ
- Hệ thống tài khoản Công ty đang áp dụng là hệ thống tài khản trong chế
độ kế toán mới.
- Chứng từ kế toán: Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại Công ty đều được
lập chứng từ gốc hợp lý, hợp lệ, hợp pháp. Các chứng từ gốc là cơ sở để kế toán
phần hành tiến hành ghi vào sổ chi tiết, bảng kê, nhật ký chứng từ.
Chứng từ gốc v các bà ảng phân bổ
Nhật ký chứng từ
Sổ cái
Báo cáo t i chínhà
Thẻ v sà ổ kế toán chi tiết
Bảng tổng hợp chi tiết
Bảng kê
SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ GHI SỔ THEO HÌNH THỨC NKCT
CỦA CÔNG TY DỆT 8/3
9
Chứng từ gốc:
không khí nên thường được đóng thành kiện. Trọng lượng của bông thường thay
đổi theo điều kiện khí hậu, điều kiện bảo quản... Do đặc điểm này, nên Công ty
cần tính toán chính xác độ hút ẩm của bông khi nhập, khi xuất bông để làm cơ
sở đúng đắn cho việc thanh toán và phân bổ chi phí vật liệu để tính giá
thành. Mặt khác, để bảo quản tốt bông, công ty cần phải đề ra những yêu cầu
cần thiết đối với trang thiết bị tại kho, bông phải được đặt ở những nơi khô ráo
thoáng mát.
Hệ thống kho dự trữ của Công ty chia thành 6 loại gồm 12 kho:
- Kho chứa nguyên vật liệu chính: kho bông.
- Kho chứa vật liệu phụ, gồm:
+ Kho thiết bị.
+ Kho tạp phẩm.
+ Kho hoá chất.
+ Kho sắt thép.
+ Kho bột
- Kho chứa phụ tùng bao gồm:
+ Kho cơ kiện sợi.
+ Kho cơ kiện dệt.
- Kho chứa nhiên liệu: kho xăng, dầu.
11
- Kho chứa công cụ, dụng cụ bao gồm:
+ Kho công cụ.
+ Kho cơ điện.
- Kho chứa phế liệu: Kho phế liệu.
Các kho dự trữ của Công ty được sắp xếp hợp lý, gần các phân xưởng sản
xuất, do đó, thuận tiện cho việc chuyên trở và có thể đáp ứng kịp thời vật tư cho
sản xuất với chi phí nhỏ nhất từ kho đến nơi sản xuất. Các kho đều được trang bị
các thiết bị cần thiết cho việc bảo quản. Do đó mà chất lượng vật tư luôn được
bảo quản tốt.
Tại đơn vị sản xuất lớn như Công ty Dệt 8/3, với đặc điểm vật liệu, công cụ
- Phế liệu: Đó là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất có thể
sử dụng hay bán ra ngoài như: bông hầm PE, bông dầu, bông quét nhà, bông hạt,
bông chải chém, sợi rối, sợi sóng ngắn, sợi sóng dài, sợi rối màu...
Để phục vụ cho yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu,
ngoài việc phân loại nguyên vật liệu một cách khoa học, Công ty còn lập sổ
“danh điểm vật tư”. Sổ này được lưu trên máy tính, nó giúp việc tra cứu, theo
dõi chi tiết nguyên vật liệu dễ dàng hơn, tiết kiệm thời gian lao động kế toán.
13
Trích
SỔ DANH ĐIỂM VẬT TƯ.
Kho
Danh điểm vật
tư
Tên vật tư
Bông 152 001 Bông Việt Nam
152 002 Bông xơ N
152 003 Bông gầm ý
152 004 Bông Liên Xô I
152 005 Bông Liên Xô II
....
Bông, sợi phế 225 - 1 Bông dầu
225 - 2 Bông quét nhà
225 - 3 Bông hầm bãi
225 - 4 Bông hạt
225 - 5 Bông gầm ý
....
Thiết bị 281 - 001 ecu 4
281 - 002 ecu 5
281 - 003 ecu 6
281 - 004 Bulong
+ Giá thực tế vật liệu nhập kho là giá ghi trên hoá đơn cộng với các chi phí
liên quan khác phát sinh như chi phí vận chuyển, bốc dỡ...
+ Toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ được tính theo giá hạch toán. Tuy
nhiên, giá hạch toán mà Công ty sử dụng không phải là giá kế hoạch hay một
loại giá ổn định trong kỳ mà lại là giá ghi trên hoá đơn của mỗi lô hàng nhập.
Như vậy, giá hạch toán và giá thực tế chỉ khác nhau nếu có các chi phí khác
phát sinh (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí bảo hiểm...).
+ Cuối kỳ, trên cơ sở các phiếu xuất kho, các hoá đơn và các khoản tiền chi
trả thực tế, kế toán tính ra giá thực tế vật liệu xuất kho thông qua hệ số giá.
Cụ thể: Ta xem xét cách tính giá xuất kho một loại bông (Bông Liên Xô
cấp I) như sau:
Tồn đầu tháng 3: 213895,9 kg Thành tiền: 3.461.896.166
Trong đó:
Lô 1: 97106 kg x 16290 = 1.581.812.730 đ
15
Lô 37: 78748,4 kg x 15798 = 1.244.097.680 đ
Lô 40: 38041,5 kg x 16718 = 635.985.756 đ
Nhập 2/3 Lô 3: 98854 kg x 17391,15 = 1.719.184.724 đ
Xuất 7/3 Lô 3: 26184,8 kg x 17391,15 = 455.382.527 đ
Xuất 9/3 Lô 1: 18532,6 kg x 16290 = 301.885.205 đ
Xuất 10/3 Lô 37: 60047,9 kg x 15798 = 1.074.540.712 đ
Xuất 14/3 Lô 40: 38041,5 kg x 16718 = 635.985.756 đ
Tồn cuối tháng 3: 161943,1 kg Thành tiền: 2.713.286.690 đ
Trong đó:
Lô 3: 72669,2 kg x 17391,15 = 1.263.802.197 đ
Lô 1: 78573,4 kg x 16290 = 1.279.927.525 đ
Lô 37: 10700,5 kg x 15798 = 169.556.968 đ
Như vậy, tổng các phiếu xuất vật tư Bông Liên Xô cấp I trong tháng 3 cho
ta số liệu:
- Tổng lượng xuất : 150.806,8 kg.