LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HOÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP - Pdf 73

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ
TOÁN QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HOÁ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.
I. Ý NGHĨA CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN.
KHÁI NIỆM HẠCH TOÁN KẾ TOÁN.
Hoạt động kinh tế tạo ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã
hội loài người. Xã hội loài người càng phát triển thì mức độ phức tạp và đa dạng
của các hoạt động kinh tế càng tăng, mối quan tâm của con người đến hoạt động
kinh tế cũng càng tăng. Điều này đặt ra nhu cầu tất yếu phải thực hiện chức năng
quản lý kinh tế. Để quản lý được các hoạt động kinh tế thì cần thiết phải có số liệu,
để có được các số liệu phục vụ cho hoạt động quản lý, đòi hỏi phải thực hiện việc
quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép các hoạt động đó. Tất cả những công việc
này nhằm thực hiện chức năng giám sát các hoạt động kinh tế tài chính gọi là hạch
toán kế toán. Vậy hạch toán kế toán được hiểu như sau :
Hạch toán kế toán là một hệ thống thông tin và kiểm tra về tài sản trong các doanh
nghiệp, các tổ chức bằng hệ thống phương pháp khoa học như chứng từ, tính giá,
đối ứng tài khoản và tổng hợp - cân đối kế toán.
2. ĐẶC ĐIỂM HẠCH TOÁN KẾ TOÁN.
Hạch toán kế toán với chức năng phản ánh và giám đốc các mặt hoạt động
kinh tế tài chính trong tất cả các doanh nghiệp và các tổ chức nên có những đặc
điểm sau :
Thứ nhất, Hạch toán kế toán nghiên cứu tài sản trong mối quan hệ với nguồn hình
thành và quá trình vận động của tài sản trong các tổ chức, các đơn vị nhờ đó mà
hạch toán kế toán thực hiên được sự giám đốc liên tục cả trước, trong và sau quá
trình sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn.
Thứ hai, Hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế đều được ghi chép theo giá trị và
biểu hiện bằng tiền. Nhờ đó mà hạch toán kế toán cung cấp được các chỉ tiêu tông
hợp phục vụ cho việc giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế tài chính.
Thứ ba, Hạch toán kế toán sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học
như chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp - cân đối kế toán để nghiên cứu
đối tượng của mình. Trong đó phương pháp lập chứng từ kế toán là thủ tục hạch

sách, soạn thảo luật lệ; thông qua kiểm tra tổng hợp các số liêu kế toán Nhà
nước nắm được tình hình chi phí, lợi nhuận của các đơn vị từ đó đề ra các chính
sách về đầu tư, thuế vụ thích hợp.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ
TOÁN QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ TRONG DOANH NGHIỆP.
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ.
• Quá trình tiêu thụ: là quá trình doanh nghiệp chuyển giao hàng hoá, sản phẩm
hoặc cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng, được khách hàng trả tiền hoặc
chấp nhận thanh toán.
Nội dung của quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá gồm :
+ Xuất sản phẩm, hàng hoá để bán và thanh toán với người mua
+Tính chính xác các khoản doanh thu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả
lại.
+Tính chính xác các khoản thuế doanh thu và thuế tiêu thụ đặc biệt để xác định
doanh thu thuần và cuối cùng xác định lãi - lỗ vê tiêu thụ sản phẩm.
• Doanh thu bán hàng là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hoá; sản
phẩm hoặc cung cấp dịch vụ, lao vụ cho khách hàng.
Căn cứ vào chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 ban hành và công bố theo
Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì
doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau :
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở
hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua;
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu
hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá;
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng;
+ Doanh nghiệp xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần rủi ro và lợi ích
gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá cho người mua trong từng trường hợp cụ thể.

phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu
khó đòi khi xác định là thực sự không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự
phòng nợ phải thu khó đòi.
• Doanh thu thuần : là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản
giảm giá; chiết khấu bán hàng, doanh thu của số hàng bán bị trả lại; thuế giá trị
gia tăng đầu ra; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu.
• Chiết khấu bán hàng : là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho khách hàng.
Chiết khấu bán hàng gồm :
Chiết khấu thanh toán : là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người
mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.
Chiết khấu thương mại : Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua hàng .Hình thức chiết khấu này gồm có 2 loại :
+ Bớt giá: Là số tiền giảm trừ cho người mua do người mua mua với khối lượng lớn
tính trên giá bán thông thường.
+ Hồi khấu : Là số tiền giảm trừ cho người mua tính trên số lần các nghiệp vụ mua
hàng của một khách hàng trong một thời gian nhất định.
• Giảm giá hàng bán : Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm
chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu, giao hàng không đúng thời gian địa
điểm trong hợp đồng.
• Hàng bán bị trả lại : Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do không tôn trọng hợp đồng kinh tế
như đã ký kết.
• Lãi gộp : là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán.
• Kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ : là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần với trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp.
2. YÊU CẦU QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ.
2.1 Vị trí, vai trò của quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình kinh doanh; là chiếc cầu trung
gian nối người bán với người tiêu dùng ( nối cung với cầu). Thông qua tiêu thụ giá

chung và đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng. Nhất là tronng điều kiện hiện nay
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá mạnh khẳng định khả năng kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp trên thương trường; tạo uy tín và sự đảm bảo thành công về lâu dài.
2.2. Yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
Do quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có vai trò và vị trí quan trọng như
trên đã trình bầy nên công tác quản lý quá trình tiêu thụ cần phải đảm bảo các yêu
cầu sau :
1) Nắm chắc sự vân động của từng loại sản phẩm hàng hoá trong quá trình
nhập, xuất và tồn kho theo các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng và giá trị.
2) Theo dõi chặt chẽ các phương thức bán hàng, từng thể thức thanh toán,
từng loại hàng hoá tiêu thụ và từng đối tượng khách hàng.
3) Tính toán và xác định đúng đắn kịp thời kết quả tiêu thụ của từng loại
sản phẩm hàng hoá.
3. Ý NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN
PHẨM, HÀNG HOÁ.
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh. Thông
qua tiêu thụ giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá được thực hiện, doanh
nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra. Cũng chính trong giai đoạn tiêu thụ này, bộ phận
giá trị mới sáng tạo ra trong khâu sản xuất được thưch hiện và biểu hiện dưới hình
thức lợi nhuận. Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sẽ góp phần tăng nhanh tốc độ luân
chuyển vốn nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung, đồng thời góp phần thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội. Với ý nghĩa đó hạch toán quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá có nhiệm vụ sau :
1) Phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ.
2) Tính chính xác các khoản bị giảm trừ, thanh toán với người kách hàng,
với ngân sách Nhà nước và các khoản thuế phải nộp.
3) Tính toán chính xác các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá.
4) Xác định kịp thời kết quả tiêu thụ của từng mặt hàng, từng loại sản phẩm,

phẩm hàng hoá theo hình thức sau khi mua hàng, doanh nghiệp nhận hàng mua
không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này
chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại; doanh nghiệp
thương mại phải tiến hành thanh toán với cả bên bán và bên mua hoặc chỉ làm
trung gian, môi giới để hưởng hoa hồng. Theo phương thức này có 2 hình thức
bán :
+ Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán : Theo hình thức này doanh
nghiệp thương mại vừa tiến hành thanh toán với bên cung cấp về hàng mua vừa
tiến hành thanh toán với bên mua về hàng bán. Nếu hàng hoá bán buôn vận
chuyển thẳng do doanh nghiệp thương mại chuyển đến cho bên mua theo hợp
đồng thì số hàng đó vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại
trong quá trình vận chuyển. Số hàng này được xem là tiêu thụ khi doanh nghiệp
thương mại nhận được tiền hàng thanh toán của bên mua hoặc thông báo của
bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán. Nếu bên mua nhận hàng
trực tiếp doanh nghiệp không phải vận chuyển thì khi giao xong hàng hoá cho
bên mua đồng thời bên mua thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì
số hàng này được coi là tiêu thụ.
+ Bán buôn vân chuyển thẳng không tham gia thanh toán : Theo hình thức này
doanh nghiệp chỉ làm trung gian, môi giới trong mối quan hệ giữa bên cung cấp
và bên mua. Doanh nghiệp uỷ nhiệm cho bên mua nhận hàng và thanh toán tiền
hàng với bên cung cấp về số lượng hàng trong hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký
kết với bên cung cấp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phát sinh
nghiệp vụ mua hàng, bán hàng. Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện ký kết trong hợp
đồng mà doanh nghiệp bán buôn được hưởng một khoản hoa hồng do bên cung
cấp hoặc bên mua trả; khoản hoa hồng này được coi là doanh thu của quá trình
tiêu thụ.
1.2. Bán lẻ.
Bán lẻ là phương thức tiêu thụ hàng hoá với số lượng nhỏ, chấm dứt hình thức mua
bán, hàng hoá chuyển vào lĩnh vực tiêu dùng thực hiện phần giá trị sử dụng của nó.
Phương thức tiêu thụ này thường được áp dụng trong các quầy hàng, cửa hàng và

1.5. Phương thức bán hàng trả góp :
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển
giao được coi là tiêu thụ, người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua
một phần số tiền phải trả và chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Thông thường số tiền
trả ở các kỳ bằng nhau, trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi
suất trả chậm.
Ngoài các phương thức trên thì một số trường hợp sau cũng được coi là tiêu thụ:
+ Hàng hoá xuất để đổi lấy hàng hoá khác
+ Hàng hoá xuất để trả lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên
+ Hàng hoá xuất làm qùa biếu, tặng trong các dịp đặc biệt như lễ, tết, hội
nghị khách hàng...
5. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN.
Công tác tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong doanh nghiệp có thể tiến hành
theo nhiều phương thức khác nhau; mặc dù vậy việc tiêu thụ này nhất thiết phải
được gắn với hoạt động thanh toán với người mua, với cơ quan thuế về các khoản
thuế của hàng hoá tiêu thụ.
5.1. Thanh toán với người mua.
Trên thực tế hoạt động thanh toán sản phẩm hàng hoá với người mua có thể
thực hiện theo các phương thức sau :
• Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt : Theo phương thức này, việc giao hàng và
thanh toán tiền hàng được thực hiện ở cùng một thời điểm và ngay tại doanh
nghiệp.
• Thanh toán chậm : Là phương thức thanh toán mà thời gian giao hàng và thời
gian thanh toán là khác nhau, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên.
• Thanh toán qua ngân hàng : Theo phương thức này có các hình thức sau :
+ Thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua đã chấp
nhận thanh toán. Việc tiêu thụ được xem là đã thực hiện, doanh nghiệp chỉ cần
theo dõi việc thanh toán với người mua.
+ Thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua có
quyền từ chối không thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị hàng mua do khối

hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế
GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn,
chứng từ. Doanh thu chưa có thuế được xác định bằng giá bán trừ thuế tính trên giá
bán.
III. NỘI DUNG HẠCH TOÁN TIÊU THỤ SẢN PHẨM, HÀNG
HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP.
1. TÀI KHOẢN SỬ DỤNG.
1.1 Tài khoản 511 "Doanh thu bán hàng" :
• Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng thực tế,
các khoản giảm trừ doanh thu và xác định doanh thu thuần trong kỳ của doanh
nghiệp. Tài khoản này được chi tiết làm 4 tiểu khoản :
+ TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu
bán hàng và doanh thu thuần của khối lượng hàng hoá đã xác định là tiêu thụ. TK
5111 được sử dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp kinh doanh vật tư, hàng hoá.
+ TK 5112 “Doanh thu bán thành phẩm” : Tài khoản này dùng để phản ánh doanh
thu bán hàng và doanh thu thuần của khối lượng thành phẩm và bán thành phẩm
đã được xác định là tiêu thụ. TK 5112 chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp sản
xuất như công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm nghiệp.
+TK 5113 “Doanh cung cấp dịch vụ”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu
bán hàng và doanh thu thuần của khối lượng dịch vụ, lao vụ đã hoàn thành, đã
cung cấp cho khách hàng và đã xác định là tiêu thụ. TK 5113 chủ yếu dùng cho
các ngành, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như giao thông vận tải, bưu
điện, dịch vụ công cộng, du lịch.
+TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”: Tài khoản này dùng để phản ánh các
khoản thu từ trợ cấp, trợ giá của Nhà nước khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ
cung cấp sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.
• Kết cấu : TK 511 được kết cấu như sau :
 Bên Nợ :
+ Số chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán;
+ Doanh thu của hàng bán bị trả lại;

tiêu thụ bị khách hàng trả lại do không đúng quy cách phẩm chất hoặc do vi
phạm hợp đồng kinh tế.TK 531 không có tài khoản chi tiết cấp 2.
• Kết cấu :
 Bên Nợ : Doanh thu của hàng đã bán nhưng bị khách hàng trả lại trong kỳ.
 Bên Có : Kết chuyển doanh thu của hàng bán bị trả lại sang TK 511.
 Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
1.4. Tài khoản 532 " Giảm giá hàng bán".
• Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh khoản giảm giá cho khách hàng với
giá bán đã thoả thuận. Chỉ phản ánh vào tài khoản này các khoản giảm trừ do
việc chấp thuận giảm giá ngoaig hoá đơn, tức là sau khi có hoá đơn bán hàng.
Không phản ánh vào tài khoản này số giảm giá đã được ghi trong hoá đơn bán
hàng và đã được trừ vào tổng trị giá bán ghi trên hoá đơn. TK 532 không có tài
khoản chi tiết cấp 2.
• Kết cấu :
 Bên Nợ : Khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ.
 Bên Có : Kết chuyển tổng số tiền giảm giá hàng bán vào TK 511.
 Cuối kỳ, tài khoản này không có số dư.
1.5. Tài khoản 811 " Chi phí tài chính".
• Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh chiết khấu bán hàng doanh nghiệp
chấp nhận trả cho người mua.
• Kết cấu :
 Bên Nợ : Phản ánh số tiền chiết khấu bán hàng phát sinh trong kỳ đã chấp
nhận trả cho người mua.
 Bên Có : Kết chuyển chiết khấu bán hàng vào TK 911.
 Cuối kỳ tài khoản này không có số dư.
1.6. Tài khoản 3331 " Thuế GTGT phải nộp".
• Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra, số thuế
GTGT phải nộp, số thuế GTGT đã nộp và còn phải nộp ngân sách Nhà nước.
Tài khoản này có 2 tài khoản cấp 2 :
+ TK 33311 “Thuế GTGT đầu ra ”

+ Kết chuyển trị giá hàng hoá thực tế tồn kho cuối kỳ.
+ Trị giá hàng hoá trả lại cho người bán.
 TK 611 cuối kỳ không có số dư.
1.9.Tài khoản 156 "Hàng hoá".
• Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có của:
+ Hàng hoá tồn kho, tồn quầy (trong hệ thống kế toán theo phương pháp kiểm kê
định kỳ);
+ Hàng hoá tồn kho, tồn quầy và nhập xuất trong kỳ báo cáo theo trị giá nhập
kho thực tế (trong hệ thống kế toán theo phương pháp kê khai thường xuyên)
Tài khoản 156 được chi tiết thành 2 tài khoản cấo 2 :
+ TK 1561 “Giá hàng hoá”
+ TK 1562 “Chi phí thu mua hàng hoá”
• Kết cấu :
 Bên Nợ :
+ Trị giá mua, nhập kho của hàng hoá nhập kho trong kỳ ( theo phương pháp kê
khai thường xuyên).
+ Trị giá hàng thuê gia công, chế biến nhập kho (Theo phương pháp kê khai
thường xuyên).
+ Chi phí thu mua hàng hoá (theo phương pháp kê khai thường xuyên).
+ Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được ghi nhận (Theo phương pháp kiểm kê định
kỳ).
Bên Có :
+ Trị giá xuất kho của hàng hoá gồm : Xuất bán, xuất giao đại lý, xuất thuê chế
biến, xuất góp liên doanh, xuất sử dụng (theo phương pháp kê khai thường
xuyên).
+ Trị giá hàng hoá xuất trả lại người bán (theo phương pháp kê khai thường
xuyên)
+ Chiết khấu, giảm giá hàng hoá mua được hưởng (theo phương pháp kê khai
thường xuyên).
+ Trị giá hàng hoá thiếu hụt coi như xuất (theo phương pháp kê khai thường

Ngoài một số tài khoản chính trên quá trình tiêu thụ còn sử dụng một số tài khoán
liên quan như : TK 111, TK 112, TK 131, TK 138, ...
2. HẠCH TOÁN QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ THEO
PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN.
2.1 Trường hợp doanh nghiệp hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ.
Như ta đã biết hàng hoá có thể tiêu thụ theo nhiều phương thức khác nhau.
Mỗi một phương thức tiêu thụ khác nhau sẽ không giống nhau về cách thức, địa
điểm giao hàng, chi phí bán hàng... Vì thế tuỳ theo phương thức tiêu thụ và lĩnh
vực kinh doanh (sản xuất hay thương mại), mà các doanh nghiệp có trình tự hạch
toán quá trình tiêu thụ khác nhau.
2.1.1. Trình tự hạch toán tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá theo phương thức bán
buôn qua kho và phương thức bán lẻ (sơ đồ 1).
Giải thích sơ đồ 1:
(1) Xuất kho hàng hoá để bán trong kỳ ( đối với doanh nghiệp thương mại) trong
đó :
(1a) Chi phí thu mua hàng hoá;
(1b) Trị giá hàng hoá xuất kho;
(2) Xuất kho thành phẩm để bán (đối với doanh nghiệp sản xuất) .
(3) Doanh thu thành phẩm, hàng hoá tiêu thụ trong kỳ. Trong đó :
(3a) Giá bán thành phẩm, hàng hoá không có thuế GTGT;
(3b) Thuế GTGT đầu ra;
(3c) Chiết khấu thanh toán chấp nhận cho khách hàng.
(4) Thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp hoặc thuế xuất khẩu (nếu có).
(5) Kết chuyển giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại.
(6) Nhập kho thành phẩm, hàng hoá bị trả lại. Trong đó :
(6a) Nhập kho hàng hoá;
(6b) Nhập kho thành phẩm.
(7) Kết chuyển giá vốn hàng bán vào tài khoản xác định kết quả tiêu thụ.
(8) Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản xác định kết quả tiêu thụ.

(3) Hàng hoá mua về gửi bán thẳng không qua kho (sử dụng đối với các doanh
nghiệp thương mại).
(4) Trị giá hàng gửi bán đã tiêu thụ.
(5) Doanh thu bán hàng gửi bán. Trong đó :
(5a) Doanh thu bán hàng gửi bán không thuế GTGT.
(5b) Thuế GTGT đầu ra của hàng gửi bán đã tiêu thụ.
(5c) Tiền hoa hồng phải trả cho đơn vị đại lý, ký gửi.
(5d) Chiết khấu thanh toán chấp nhận trả cho đơn vị nhận đại lý, ký gửi.
(6) Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp của số hàng gửi bán đã tiêu thụ.
(7) Kết chuyển giảm giá hàng gửi bán, doanh thu hàng gửi bán bị trả lại.
(8) Nhập lại kho số hàng gửi bán không tiêu thụ được.
(9) Cuối kỳ, kết chuyển giá vốn hàng gửi bán vào tài khoản xác định kết quả tiêu
thụ.
(10) Cuối kỳ, kết chuyển doanh thu thuần của hàng gửi bán vào tài khoản xác
định kết quả.
2.1.3. Trình tự hạch toán tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá theo phương thức bán
hàng trả góp ( Sơ đồ 3).

Trích đoạn Hình thức sổ Nhật ký chứng từ. HẠCH TOÁN TIÊU THỤ SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ Ở PHÁP 1 Những nguyên tắc ghi nhận nghiệp vụ tiêu thụ. Trình tự hạch toán tiêu thụ sản phẩm. CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ. CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status