MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CP XI MĂNG BỈM SƠN - Pdf 73

1
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ
CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ
DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CP XI MĂNG BỈM SƠN
3.1 Nhận xét và đánh giá khái quát công tác kế toán NVL, CCDC tại Công ty
CP xi măng Bỉm Sơn
Sau gần 30 năm xây dựng và phát triển, tiền thân là Nhà máy xi măng Bỉm Sơn.
Với sự nỗ lực không ngừng của cán bộ công nhân viên Công ty đã không ngừng phát
triển đạt được nhiều thành tích lớn lao trong suốt quá trình từ khi xây dựng hoàn
thiện Nhà máy đến khi trở thành doanh nghiệp có quy mô, uy tín hàng đầu trong công
nghiệp sản xuất xi măng ở nước ta. Cùng với sự lớn mạnh, mở rộng về cơ sở vật
chất, quy mô sản xuất thì trình độ quản lý của Công ty cũng được nâng cao và hoàn
thiện để đáp ứng được nhu cầu quản lý ngày càng cao. Để có thể phát huy được tiềm
năng và lợi thế của mình, Công ty luôn tìm các biện pháp để nâng cao trước hết là
nâng cao hiệu quả quản lý đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh. Muốn thế
Công ty cần sử dụng các biện pháp, công cụ quản lý khác nhau trong đó tổ chức công
tác kế toán là một trong những công cụ hữu hiệu và dễ tác động nhất. Công tác kế
toán NVL, CCDC có vai trò quan trọng trong tổ chức công tác kế toán nói chung. Với
mục tiêu là sử dụng có hiệu quả với các NVL, CCDC đặc biệt là đối với NVL vì là
thành phần quan trọng cấu thành nên thực thể sản xuất. Tổ chức tốt công tác kế toán
NVL, CCDC là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng NVL, CCDC, giảm chi phí, hạ
giá thành và góp phần hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý nói chung. Cũng như
các doanh nghiệp khác do nhiều nguyên nhân khác nhau mà công tác kế toán về
NVL, CCDC còn nhiều hạn chế, tuy nhiên xét một cách toàn diện, công tác kế toán
NVL, CCDC đã đáp ứng được những yêu cầu quan trọng của quản lý.
3.1.1 Ưu điểm công tác kế toán NVL, CCDC tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn
Về bộ máy kế toán và trình độ của kế toán viên: Một trong những ưu điểm lớn
về công tác kế toán đó là trình độ chuyên mô của các cán bộ kế toán trong Công ty.
Nhìn chung trình độ đào tạo của các kế toán là tương đối đồng đều. Thường xuyên
được tổ chức đào tạo, bổ sung kiến thức, kỹ năng mới cho từng người. Đặc biệt, đây
là đội ngũ có kinh nghiệm lâu năm, có những người gắn bó với Công ty từ những

xét các số liệu, tìm kiếm hay sửa chữa dễ dàng, cho phép in ra các báo cáo, sổ sách
tại thời điểm bất kỳ phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý, giúp các nhà quản lý ra quyết
định kịp thời và chính xác.
Về hệ thống danh điểm NVL, CCDC
Tại Công có tới hơn 5000 các loại NVL, CCDC với chủng loại, quy cách đa
dạng, phong phú nên rất dễ bị nhầm lẫn trong quá trình theo dõi, quản lý và hạch toán
sự biến động của chúng. Để phục vụ cho công tác kế toán trên máy phát huy được
hiệu quả cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý, Công ty đã xây dựng
hệ thống danh điểm NVL, CCDC thống nhất trong toàn công ty. Hệ thống danh điểm
này được xây dựng và áp dụng bắt đầu từ năm 2004, đây là một cải cách trong công
tác kế toán tại công ty. Giúp cho công tác kế toán NVL, CCDC hiệu quả hơn rất
nhiều.
2
3
Về thủ thục nhập - xuất kho NVL, CCDC
Với khối lượng NVL, CCDC lớn, chủng loại đa dạng, Công ty đã có nhiều biện
pháp nhằm quản lý chặt chẽ từ khâu thu mua, khai thác bảo quản, dự trữ đến xuất
dùng. Trong khâu thu mua Công ty đã quy định chặt chẽ các thủ tục khi tiến hành
nhập kho. NCL, CCDC khi nhập kho phải có một hội đồng kiểm nghiệm với đày đủ
các thành viên đại diện có liên quan.trong đó có một đại diện của phòng kế toán.
Khối lượng nhập mua phải căn cứ vào kế hoạch phải có : “Tờ trình mua vật tư”, có
“Bảng đề nghị mức giá mua vật tư hàng hoá”. Đối với 1 số NVL chính cấu thành
nên thực thể sản phẩm thì trước khi nhập kho phải tiến hành phân tích các thành phần
hoá học của NVL đó, nếu đảm bảo đúng qy định mới được nhập kho. Trước khi
kiểm nghiệm NVL, CCDC các thành viên phải căn cứ vào giá đã duyệt, các hợp đồng
kinh tế ký kết giữa 2 bên. Với các thủ tục đó cho thấy công tác kế toán NVL, CCDC
là chặt chẽ đảm bảo được yêu cầu quản lý.
Quá trình xuất dùng NVL, CCDC phải thông qua xét duyệt yêu cầu sử dụng.
Đối với NVl phải căn cứ vào định mức tiêu hao tại phòng kỹ thuật, căn cứ vào kế
hoạch sản xuất… sau đó bộ phận tổng kho mới được phép viết phiếu xuất kho cho

sản xuất cũng như để sửa chữa máy móc, thiết bị. Hiện nay khi các dây chuyền công
nghệ đã được thay thế, toàn bộ các phụ tùng và 1 số NVL khác dự trũ không còn cần
thiết nữa trở thành NVL tồn kho lâu năm. Số lượng tồn kho này kế toán vẫn phải theo
dõi, định kỳ tiến hành kiểm kê và ghi chép trên các sổ kế toán. Do tồn kho lâu năm
nên một số NVl đã không còn sử dụng được nữa làm giá trị thực tế giảm đi rất nhiều,
mặc dù về số lượng không thay đổi. Hơn nữa, giá trị của các NVL này tương đối lớn,
gây cho công ty một khó khăn là vốn bị tồn đọng là khá lớn, làm cho chi phí cơ hội
đối với số NVl này là tăng. Không chỉ có thế, mà công ty còn mất chi phí để bảo
quản, quản lý, chi phí về nhân công, bến bãi…
Rất nhiều các NVL, CCDC từ nhiều năm nay không có sự biến động nào, số
lượng, giá trị tại các cột “tồn đầu kỳ” và “tồn cuối kỳ” trên sổ kế toán giữ nguyên,
nhưng kế toán NVL vẫn phải theo dõi trên các sổ kế toán, lập báo cáo HTK theo định
kỳ, tiến hành kiểm kê như bình thường. Một số loại NVL như : Vòng bi 6017, vòi
phun bla… Việc theo dõi, bảo quản các NVL tồn kho lâu năm lại kém chất lượng là
không cần thiết đối với hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn mang lại nhiều hạn
chế, vốn bị ứ đọng trong thời gian dài, tốn kém về chi phí bảo quản, tốn thời gian,
công sức cho công tác kế toán. Đây là vấn đề công ty cần nhanh chóng đưa ra biện
pháp xử lý để thu hồi phần vốn đầu tư ban đầu và giảm bớt công việc kế toán không
cần thiết cho kế toán viên.
Thứ hai, tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn, bộ phận thống kê tổng kho phụ trách
phiếu nhập, xuất NVL, CCDC và từng người theo dõi nhóm NVL, CCDC khác nhau.
Tại phòng kế toán, từng kế toán lại phụ trách theo dõi tình hình nhập xuất theo kho.
Xuất phát từ 2 đặc điểm trên mà trong công tác kế toán NVL, CCDC còn tồn tại một
số bất cập.
Một số NVL, CCDC có cùng tên gọi, quy cách nhưng do nguồn nhập khác
nhau, nên được hạch toán vào TK chi tiết khác nhau. Do việc mã hoá vật tư can cứ
vào TK nên với nguồn nhập khác nhau thì mã vật tư cũng khác nhau. VD: Cùng Vật
4
5
liệu Bạc biên Benla nếu nhập từ mua sắm thì được hạch toán vào TK 152411 với mã

dụng tại công ty. Do đó công ty cần xem xét lại căn cứ hợp lý để xác định đúng bản
chất và đưa về theo dõi trên 1 tài khoản hợp lý nhất.
Bên cạnh đó, trong phân loại giữa NVL, CCDC còn một số những tồn tại. Một
số loại được xếp vào CCDC theo dõi trên TK 153 nhưng thực chất nên xác định là
mang bản chất của NVL và theo dõi trên TK 152. VD như Mấm nhôm (mã
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status