Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế
Nhận xét của giáo viên
………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……
Marketing cho sản phẩm Nhóm: 06
1
Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM
1.1. Sản phẩm là gì?
1.2. Chu kỳ sống của sản phẩm:
1.3. Nhãn hiệu của sản phẩm:
1.4 Đóng gói và gián nhãn:
1.5 Hoạch định và phát triển sản phẩm mới
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN – CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK
vẫn đang được các doanh nghiệp nỗ lực từng ngày, trong đó công ty sữa Việt Nam
(Vinamilk) tiền thân là Công ty Sữa, Café Miền Nam, trực thuộc tổng cục thực phẩm.
Nếu hỏi bất kỳ một người dân nào ở Việt Nam xem họ đã từng uống, nghe đến sữa
Vinamilk chưa thì chắc chắn câu trả lời hầu như là "Có". Vậy điều gì đã khiến Sữa
Vinamilk đầu tư mọi nguồn lực, dồn toàn bộ sức lực trí tuệ vào chiến dịch quảng bá
chúng? Câu trả lời là "khát vọng đưa Sữa Vinamilk trở thành một thương hiệu Quốc
Marketing cho sản phẩm Nhóm: 06
3
Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế
gia" một sản phẩm thiết yếu của mọi gia đình. Vào Thời điểm cuối năm 1988 lần đầu
tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam. Phần lớn sản
phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu “Vinamilk”, thương hiệu
này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng” và là một trong nhóm 100 thương
hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006. Vinamilk cũng được bình
chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 1995 đến năm
2007. Do vậy nhóm chúng tôi đã chọn sản phẩm Sữa Vinamilk làm đề tài thảo luận.
Trong chuyên đề có gì thiếu sót mong thầy và các bạn đóng góp thêm vào đề tài chúng
tôi thành công hơn.
Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM
I.1 Sản phẩm là gì?
Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua, sử dụng
hay tiêu dùng, có thể thỏa mãn được một nhu cầu hay mong muốn.
a. Các thành phần của sản phẩn:
Marketing cho sản phẩm Nhóm: 06
4
Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế
- Sản phẩn cốt lõi đây là tầng mà người tiêu dùng thực sự cần mua. Ví dụ như
cáo, giới thiệu. Giai đoạn này sản phẩm phát triểm chậm.
- Tăng trưởng là thời kỳ mà sản phẩm dược thị trường chấp nhận và được
tiêu thụ mạnh, lợi nhuận gia tăng đáng kể. Để kéo dài tối đa thời kỳ phát
triển sản phấm, công ty có thể áp dụng các chiến lược như xâm nhập
Marketing cho sản phẩm Nhóm: 06
6
Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế
những thị trường mới, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo những tính chất
đặc trưng cho sản phẩm sản xuất thêm những mẫu mã mới, hạ giá đúng
lúc nhằm lôi kéo thành phầm chú ý đến giá cả, chuyển một số quảng cáo
từ xây dựng ý thức sản phẩm chuyển sang thuyết phục và mua.
- Trưởng thành (sung mãn)là thời kỳ tiêu thụ chậm doanh thu giảm do sản
phẩm đã được hầu hết các khách hàng tiềm ẩn đã mua. Lợi nhuận không
tăng hay bị giảm sút chút ít đồng thời tăng chi phí cạnh tranh.
- Suy thoái là thời kỳ mức tiêu thụ bị giảm nhanh, doanh thu thụt giảm đi
đôi với lợi nhuận giảm.
Tuy nhiên, không phải mọi sản phẩm đều được thể hiện qua mô hình 4 giai đoạn
của chu kỳ đời sống của sản phẩm. Mà tùy theo loại sản phẩm và tính chất sản phẩm
khác nhau có biểu hiện chu kỳ và đời sống khách nhau.
1.3. Nhãn hiệu của sản phẩm:
Nhãn hiệu của sản phẩm là một cái tên, biểu tượng, dấu hiệu thiết kế hoặc kết
hợp giữa yếu tố này để xác định hàng dịch vụ của một người bán.
Một nhãn hiệu thông thường mang những ý nghĩa như:
Thuộc tính một nhãn hiệu ban đầu phải mang lại cho khách hàng một số thuộc
tính nào đó. Ví dụ như Mercedes loại xe đắt tiền, kiên cố chắc chắn, động cơ tố, bền uy
tín, chạy nhanh.
Lợi ích Khách hàng không mua những thuộc tính mà họ mua lợi ích. Do đó thuộc
tính cấn chuyển sang dạng lợi ích chức năng hoặc cảm xúc.
Giá trị Từ nhãn hiệu cũng có thể nói lên một vài giá trị của nhà sản xuất. Ví dụ
kênh phân phối và chiêu thị. Hầu hết nhà marketing coi bao bì là một yếu tố của chiến
lược sản phẩm.
Marketing cho sản phẩm Nhóm: 06
8
Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế
Bao bì ngày nay đã trở thành một công cụ marketing tiềm lực. Nếu bao bì được
thiết kế tốt nó có thể tạo thuận lợi cho người tiêu dùng làm tăng giá trị của sản phẩm, nó
có coi là công cụ thứ 5 của marketing. Bao bì là những phương án bao gói khác nhau,
bao gồm 3 lớp:
- Bao bì sơ cấp là lớp bao bì trực tiếp đựng hàng hóa.
- Bao bì thứ cấp là lớp bao gói bên ngoài bao bì sơ cấp, nó sẽ được bỏ đi
khi sử dụng hàng hóa.
- Bao bì vận chuyển là lớp bao gói ở bên ngoài cần thiết khi vận chuyển để
tránh hư hỏng cho hàng hóa.
Dán nhãn hiệu nhãn hiệu có thê là một bìa bằng kim loại, bằng da hay bằng
một vật liệu nào đó dán trên bào bì hàng hóa. Rất nhiều yếu tố khác góp phần lapf cho
việc sử dụng bao bì ngày càng trở nên như một công cụ marketing cho sản phẩm.
1.5 Hoạch định và phát triển sản phẩm mới
Sản phẩm mới bao gồm sản phẩm được cải tiến, được bổ sng thêm chức năng,
hoặc là sản phẩm có nhãn hiệu mới mà công ty phát triển thông qua chính nỗ lực nghiên
cứu và phát triển cảu công ty.
Một doanh nghiệp có thể có sản phẩm mới bằng 2 cách:
- Thu nhận tức là mua bằng sáng chế, nhãn hiệu, .. của người khác
- Tự phát triển sản phẩm mới do bộ phận nghiên cứu và thiết kế sản phẩm
mới của công ty.
Marketing cho sản phẩm Nhóm: 06
9
Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế
từ năm 1995 đến năm 2007.
Hiện tại Công ty tập trung các hoạt động kinh doanh vào thị trường đang tăng
trưởng mạnh tại Việt Nam mà theo Euromonitor là tăng trưởng bình quân 7.85% từ năm
1997 đến 2007. Đa phần sản phẩm được sản xuất tại chín nhà máy với tổng công suất
khoảng 570.406 tấn sữa mỗi năm. Công ty sở hữu một mạng lưới phân phối rộng lớn
trên cả nước, đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi đưa sản phẩm đến số lượng lớn
người tiêu dùng.
Sản phẩm Công ty chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và cũng xuất
khẩu sang các thị trường nước ngoài như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ.
2.2 Lịch sử hình thành công ty:
1976 : Tiền thân là Công ty Sữa, Café Miền Nam, trực thuộc Tổng Công ty
Lương Thực, với 6 đơn vị trực thuộc là Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường
Thọ, Nhà máy sữa Dielac, Nhà máy Café Biên Hòa, Nhà máy Bột Bích Chi và Lubico.
1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý và Công ty
được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I.
1988 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại Việt
Nam.
1991 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa UHT và sữa chua ăn tại thị trường
Việt Nam.
Marketing cho sản phẩm Nhóm: 06
11