BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN:
ĐỀ TÀI: SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG
NGHIỆP VỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
GVHV: ThS. Vũ Thị Mai Chi
TP.HCM, tháng 3 năm 2011
Chương I: GIỚI THIỆU
1.1 .Động cơ làm đề tài.
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đang có nhiều thay đổi nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo, tránh những tiêu cực trong ngành. Đã có rất
nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu khoa học mục đích đưa ra những chính
sách, phương án nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường đào tạo
ở các cấp. Sớm đưa chất lượng nền giáo dục Việt Nam đạt tiêu chuẩn thế
giới. Một trong các cấp quan trọng nhất đó là cấp đại học, cao đẳng vì cấp
này là nơi đào tạo ra lực lượng lao động có trình độ tay nghề, kỹ thuật, khoa
học đáp ứng nhu cầu về lao động trong xã hội.
Trường Đại học Công nghiệp TPHCM là một trong những trường có
danh tiếng trong việc đào tạo những cử nhân, kỹ sư có chất lượng. Năm
2007, theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo từ đào tạo theo niên chế
trường chuyển sang đào tạo theo chế độ tín chỉ tạo nhiều thuận lợi cho người
học hơn.
Vậy chất lượng đào tạo của trường đã làm hài lòng sinh viên chưa? Để
trả lời câu hỏi này chúng em đã làm đề tài nghiên cứu: “ Sự hài lòng của
sinh viên trường Đại học Công nghiệp với chất lượng đào tạo”. Để tìm hiểu
xem các yếu tố đánh giá chất lượng đào tạo: cơ sở vật chất, đội ngũ giáo
viên giảng dạy, chương trình đào tạo, đã làm hài lòng sinh viên chưa. Từ đó
đề xuất ra phương pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo hơn
lòng khách hàng
2.1.1 Định nghĩa: Sự hài lòng khách hàng là tâm trạng hay cảm giác của
khách hàng về một công ty khi sự mong đợi của họ được thỏa mãn hay đáp
ứng vượt mức trong suốt vòng đời của sản phẩm hay dịch vụ. Khách hàng
đạt được sự thỏa mãn sẽ có được lòng trung thành và tiếp tục mua sản phẩm
của công ty.
Có các gợi ý quan trọng trong định nghĩa này:
Bởi vì sự hài lòng khách hàng là một trạng thái chủ quan, không định
lượng, việc đo lường sẽ không chính xác và đòi hỏi phải lấy mẫu và
phân tích thống kê.
Đo lường sự hài lòng khách hàng cần phải hiểu được khoảng cách
giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ khách hàng nhận thức được
2.1.2 Tại sao phải làm hài lòng khách hàng
Sự hài lòng của khách hàng có thể giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh
tranh đáng kể. Doanh nghiệp hiểu được khách hàng có cảm giác như thế nào
sau khi mua sản phẩm hay dịch vụ và cụ thể là liệu sản phẩm hay dịch vụ có
đáp ứng được mong đợi của khách hàng
Khách hàng chủ yếu hình thành mong đợi của họ thông qua những kinh
nghiệm mua hàng trong quá khứ, thông tin miệng từ gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp và thông tin được chuyển giao thông qua các hoạt động
marketing, như quảng cáo hoặc quan hệ công chúng. Nếu sự mong đợi của
khách hàng không được đáp ứng, họ sẽ không hài lòng và rất có thể họ sẽ kể
những người khác nghe về điều đó.
Sự hài lòng khách hàng đã trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế
cạnh tranh. Mức độ hài lòng cao có thể đem lại nhiều lợi ích bao gồm:
c Lòng trung thành: một khách hàng có mức độ hài lòng cao là một khách
hàng trung thành.
h Tiếp tục mua thêm sản phẩm: một khách hàng có mức độ hài lòng cao sẽ
tiếp tục mua thêm sản phẩm.
t Giới thiệu cho người khác: một khách hàng có mức độ hài lòng cao sẽ kể
Mỗi một quan điểm khác nhau đưa ra khái niệm về chất lượng đào tạo khác
nhau.
2.2.2 Khái niệm truyền thống về chất lượng
Theo khái niệm truyền thống về chất lượng, một sản phẩm có chất
lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý
hiếm và đắt tiền. Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sử hữu nó. Trong
giáo dục đại học nó có thể tương đồng với các trường đại học như Oxford và
Cambridge. Tuy nhiên khái niệm về chất lượng như vậy khó có thể dùng để
đánh giá chất lượng trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học. Nếu mỗi
trường đại học được đánh giá bằng các tiêu chuẩn như đã sử dụng cho
trường đại học Oxford và Cambridge thì đa số các trường sẽ bị quy là có
chất lượng kém. Vả lại, có cần thiết phải làm cho tất cả các trường đại học
đều giống như Oxford hay Cambridge hay không? Cách tiếp cận truyền
thống đã tuyệt đối hoá khái niệm chất lượng.
2.2.3 Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng
lao động được đào tạo)
Trong 20 năm gần đây người ta không chỉ nói tới việc sản phẩm phải
phù hợp với các thông số kỹ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn nói tới
sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó. Vì vậy khi thiết kế một
sản phẩm hay dịch vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách
hàng, để sản phẩm có được những đặc tính mà khách hàng mong muốn và
với giá cả mà họ sẽ hài lòng trả.
2.2.4 Khái niệm các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Theo những khái niệm trên thì chất lượng giáo dục đào tạo chịu tác
động của các yếu tố về cơ sở vật, giáo viên giảng dạy, chương trình đào tạo,
năng lực phục vụ.
- Cơ sở vật chất: là toàn bộ cơ sở hạ tầng, thiết bị phục vụ trong quá trình
đào tạo giảng dạy.
- Giáo viên giảng dạy là người trực tiếp tham gia đào tạo học viên.
- Chương trình đào tạo là khung hình về phương pháp đào tạo, môn học,
3.1. Cơ sở vật chất
Tuổi trẻ(2010). Theo ông Trần Duy Tạo - cục trưởng Cục Cơ sở vật
chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em, so với tiêu chuẩn thiết kế trường
ĐH (55-85m²/sinh viên), có đến trên 50% số trường ĐH, CĐ ở mức dưới
chuẩn. Bình quân diện tích đất cho một sinh viên ĐH, CĐ hiện rất thấp
(35,7m²/sinh viên).
Trịnh(2010). Khu học tập của sinh viên hầu hết trong tình trạng lạc
hậu và xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều trường ĐH công lập vẫn phải thuê cơ
sở bên ngoài làm nơi học tập hoặc bắt sinh viên học tăng ca do thiếu giảng
đường. Lãnh đạo Trường ĐH Khoa học Huế cho hay trường có hàng chục
phòng học cấp 4 đang xuống cấp nặng nề nhưng chưa thể tu sửa. Đại diện
ĐH Mỏ địa chất Hà Nội cũng cho biết không chỉ thiếu phòng học, trường
này còn không có phòng chuyên dùng phục vụ công tác chấm thi, hội thảo
quốc tế; các phòng học, giảng đường hầu như không có phương tiện kỹ thuật
(máy tính, máy chiếu, video...).
Tuổi trẻ (2010). Theo Bộ GD-ĐT, khảo sát trong số 5.572 phòng thí
nghiệm của các trường ĐH, CĐ, chỉ có 22,5% phòng thí nghiệm có thiết bị
tốt, 19% phòng thí nghiệm có công nghệ hiện đại, chủ yếu của các trường
ĐH đầu ngành. Nhiều phòng thí nghiệm, xưởng thực hành của các trường
ĐH, CĐ hiện nay mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của sinh viên.
Tuổi trẻ (2010). So với nhiều trường khác, ĐH Khoa học tự nhiên
(ĐHQG TP.HCM) được cấp nhiều kinh phí hơn để trang bị các thiết bị phục
vụ đào tạo. Song không ít khoa trong trường vẫn đang phải dạy và học với
những thiết bị thực hành lạc hậu. Không chỉ thiếu máy móc phân tích thiết
yếu cho ngành sinh học phân tử, chuyên ngành sinh lý thực vật vốn có nhiều
công đoạn thí nghiệm, thực hành cần máy đo quang hợp, đo hô hấp cũng
đang sử dụng một máy có công năng tương tự được mua từ năm... 1962, mỗi
lần hư phải tìm phụ tùng thay thế rất vất vả.