Tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng hoạt động marketing trực tiếp tại công ty cổ phần nhựa đà nẵng - Pdf 74

Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING TRỰC TIẾP
1. Khái quát Marketing trực tiếp:
1.1. Khái niệm Marketing trực tiếp: Marketing trực tiếp là
một hệ thống tương tác Marketing có sử dụng một hay nhiều phương tiện
quảng cáo để tác động đến một phản ứng đáp lại đo được và/ hay việc
giao dịch tại bất kỳ địa điểm nào.
Theo định nghĩa này thì bản chất của Marketing trực tiếp là thu được phản ứng
đáp lại đo được từ khách hàng, đáp ứng có thể xem là một đơn hàng. Và như vậy
Marketing trực tiếp nhằm tác động đến các đối tượng trở thành khách hàng, xây dựng
mối quan hệ có lợi nhuận.
Mặc dù marketing trực tiếp xuất hiện đầu tiên dưới hình thức gửi thư trực tiếp
và catalog dặt hàng qua bưu điện, Nhưng trong những năm gần đây marketing trực tiếp
đã xuất hiện thêm nhiều hình thức khác, như marketing qua điện thoại, trả lời trực tiếp
trên truyền hình và truyền thanh, mua hàng qua hệ thống điện tử,... và trong thế kỷ 21
này hình thức Marketing Internet là rất quan trọng. Với sự phát triển và tầm quan trọng
ngày càng cao, Marketing trực tiếp đã không còn là một công cụ thứ yếu trong chương
trình Promotion - Mix của các Công ty.
1.2. Vai trò marketing trực tiếp:
Việc thực hiện marketing trực tiếp sẽ giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, chi
phí đi lại, khách hàng có thể ngồi tại nhà chọn mua qua Catalog, Internet, đặt mua quà
và gửi thẳng đến người thân, có thể tìm hiểu về nhiều sản phẩm và dịch vụ mà không bị
ràng buộc về thời gian gặp gỡ nhân viên bán hàng
Marketing trực tiếp cho phép người làm marketing chọn lọc đúng đối tượng
khách hàng của công ty. Các công cụ marketing trực tiếp được sử dụng để có được
những đơn đặt hàng trực tiếp từ khách hàng mục tiêu hay các khách hàng triển vọng
trong khi các quảng cáo đại trà thường bao quát một số lượng công chúng mà hầu như
họ không quan tâm đến sản phẩm
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 1
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
Tất cả các hoạt động xúc tiến đều nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm, quảng bá

sản phẩm và dịch vụ này mang lại lợi ích thực cho họ.
Ngày nay chúng ta không chỉ dừng lại ở việc lựa chọn đúng đơi tượng khách
hàng mà chúng ta phai làm sao đó để hình ảnh cá nhân được thể hiện ra một cách rõ
nét. Một bức thư không phải được gửi từ một Công ty nào đó để bán vài thứ , mà phải
được gửi từ một cá nhân mà họ là người muốn thành thật chia sẻ với ông hoặc bà sự
hăng hái, nhiệt tình về sản phẩm hay dịch vụ.
1.3.3. Tính tức thời ( Immediacy): Hầu hết các quảng cáo truyền
thống như quảng cáo trên Tivi , truyền thanh, báo, tạp chí, ngoài trời,...
đều là những hình thức quảng cáo gián tiếp và vì vậy mà các thông điệp
quảng cáo này thường tạo ra những mong muốn cho khách hàng, nhưng
không thể đáp ứng được những mong muốn của khách hàng hay nói một
cách khác là chưa thể giúp khách hàng đặt hàng ngay được. Trong khi
các thông điệp Marketing trực tiếp thì làm được điều này.
2. Các quyết định chủ yếu trong Marketing trực tiếp:
2.1. Mục tiêu: Mục tiêu của chiến dịch quảng bá là yếu tố để xem xét mức độ
thành công của một chiến dịch đối với một chương trình Marketing trực tiếp. Người
làm Marketing trực tiếp thường đề ra mục tiêu làm cho khách hàng triển vọng mua
ngay tức thì. Và sự thành công của một chiến dịch được xem xét ở mức độ phản ứng lại
của khách hàng triển vọng. Thông thường mức độ đáp ứng của một chiến dịch
Marketing trực tiếp là rất nhỏ chỉ dừng lại ở một con số nhưng không có nghĩa phần
còn lại của chiến dịch là vô ích.
Một lợi ích chủ yếu của Marketing trực tiếp mà bất kì người làm Markeeting nào
cũng quan tâm đó là thiết lập danh sách khách hàng triển vọng cho lực lượng bán hàng,
người làm Marketing cũng phát những thông điệp nhằm tạo mối quan hệ lâu dài với
khách hàng để thúc đẩy khách hàng đặt mua lần sau. Chính vì vậy người làm Marketing
trực tiếp cần phải xác định rõ mục tiêu của chiến dịch Marketing trực tiếp.
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 3
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
2.2. Khách hàng mục tiêu:
2.2.1. Khách hàng: Mục đích của hoạt động Marketing là nhằm tạo ra sự thoả

Sau khi xác định xong thị trường mục tiêu, người làm Marketing trực tiếp cần
xác định danh sách của những khách hàng triển vọng nhất trong thị trường mục tiêu đó
để thực hiện các mục tiêu Marketing trực tiếp tại công ty, hay sử dụng cho lực lượng
bán.
2.3. Chương trình chào hàng: Sau khi đã xác định khách hàng mục tiêu người
làm Marketing trực tiếp cần có một chương trình chào hàng hiệu quả nhằm thoả mãn
những khách hàng mục tiêu của mình để tạo ra sự thành công của chiến dịch .
Theo Edward Nash cho rằng: Chương trình chào hàng gồm 5 yếu tố là sản
phẩm, chầo hàng, phương tiện truyền thông, phương pháp phân phối và ứng xử sáng
tạo.
2.3.1. Sản phẩm:
- Lựa chọn sản phẩm: Vì thị trường rộng lớn do đó một nhãn hiệu không thể
làm tác động đến toàn bộ thị trường mà chúng ta chỉ sử dụng nhãn hiệu cho một hoặc
vài phân đoạn thị trường phù hợp nhất. Như vậy vấn đề của việc lựa chọn sản phẩm là
làm cho một sản phẩm phù hợp với một đoạn thị trường nào mà ở đó nó có năng lực để
thành công nhất. Sản phẩm được lựa chọn phù hợp tại một đoạn thị trường nào đó thì
cần phải có một sự khác biệt trong việc cạnh tranh nhãn hiệu. Người làm Marketing
trực tiếp phải quản lý được doanh số bán và lợi nhuận của sản phẩm, đặc điểm thị
trường loại sản phẩm lựa chọn.
- Chiều dài loại sản phẩm: Người quản lý sản phẩm phải quyết định xem chiều
dài của sản phẩm như thế nào là tối ưu với loại sản phẩm được lựa chọn.
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 5
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
- Hiện đại hoá sản phẩm: là vấn đề rất cơ bản ngay cả khi chiều dài của sản
phẩm là phù hợp, hiện đại hoá sản phẩm sẽ góp phần cho sản phẩm phù hợp với thị
trường và nhu cầu của khách hàng. Công ty cần xem xét nên hiện đại hoá toàn bộ sản
phẩm hay từng phần loại sản phẩm.
Thay đổi từng phần: Giúp công ty có thể xem xét thái độ khách hàng và các đại
lý đối với mẫu mã mới, áp lực chi phí thấp, nhược điểm là đối thủ cạnh tranh cũng có
thể nhận ra sự thay đổi của công ty để có thể thay đổi kịp thời.

 Hàng mẫu
2.3.3. Phương tiện truyền thông:
2.3.3.1. Marketing bằng Thư trực tiếp: Marketing bằng Thư
trực tiếp là hình thức mà người làm Marketing trực tiếp gửi qua bưu điện
những thư chào hàng, tờ quảng cáo, tờ gấp và những hình thức chào hàng
khác.
Mục đích của marketing trực tiếp là làm cách nào để tạo ra sự hưởng ứng với hy
vọng bán được sản phẩm, dịch vụ hay chọn lọc danh sách khách hàng cho lực lượng
bán , thông báo hay gửi các quà tặng đến khách hàng trung thành .
+ Những yếu tố cần xem xét về hình thức thư trực tiếp: đây là một vấn đề cần
quan tâm đối với thư trực tiếp, một bức thư có hiệu quả là làm thế nào để tạo ra sự đáp
ứng từ phía khách hàng.
 Kích thích sự hưởng ứng (Response Himulation): như đã đề cập ở trên, mục
đích của thư trực tiếp là làm cho khách hàng ngay lập tức có những quyết
định như gọi điện thoại, ghé thăm cửa hàng hay hồi đáp bằng thư trả lời. Để
thực hiện yếu tố này người làm Marketing trực tiếp phải tuỳ thuộc vào tính
chất hưởng ứng, yếu tố sản phẩm để cung cấp hình thức thư cho phù hợp.
Chẳng hạn:
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 7
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
• Nếu muốn tạo ra sự hưởng ứng của khách hàng để họ liên lạc qua điện thoại
thì phải cung cấp số điện thoại trong thư hay đính kèm Business-Card để
khách hàng thuận tiện hưởng ứng.
• Khi muốn khách hàng ghé thăm cửa hàng thì phải đính kèm bản chỉ dẫn, các
công cụ kích thích khách hàng ghé thăm như phiếu thưởng, phiếu mua hàng,
thẻ Club, thư nhắc nhở,...
• Để kích thích khách hàng hưởng ứng đối với thư trực tiếp, người làm
Marketing trực tiếp cần phải giúp khách hàng dễ dàng trong việc hưởng
ứng, điều này có thể giúp khách hàng giảm được chi phí thời gian vừa tăng
sự hài lòng của họ đối với các yếu tố kích thích của thư trực tiếp.

Để phân tích tính kinh tế của thư trực tiếp cần chú ý những điểm sau:
• Trọng lượng của thư: Ảnh hưởng trực tiếp đến cước phí gửi làm ảnh hưởng
đến chi phí của chiến dịch Marketing trực tiếp.
• Quan hệ với nhà cung cấp dịch vụ: Là quan hệ với các nhà thiết kế thư, bưu
điện,... nhằm tạo ra tính chuyên nghiệp trong khâu xử lý, cung cấp thư, tiết
kiệm trong công việc và tạo thuận lợi cho khách hàng hưởng ứng thư trực
tiếp.
+ Các yếu tố của bao bì thư tín: Là tập hợp tất cả các công cụ của bao bì thư tín
nhằm tạo ra sự hưởng ứng từ phía khách hàng đối với thư ttrực tiếp của doanh nghiệp.
 Phong bì: Là công cụ kích thích đầu tiên đối với người nhận, tạo ra sự tò mò
khiến người nhận mong muốn xem xét các nội dung bên trong. Người làm
marketing trực tiếp cần xem xét những yếu tố về phong bì như:
• Nội dung chủ yếu của phong bì.
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 9
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
• Công cụ gắn kết của phong bì.
• Kích thước của phong bì.
• Mức độ quan trọng của phong bì đối với người nhận.
• Lựa chọn kiểu phong bì phù hợp với tính chất của chương trình.
 Thư: Đây là yếu tố không thể thiếu đối với thư trực tiếp, nhờ yếu tố này mà
thư trực tiếp tạo ra được sự thiện cảm đối với người nhận, kích thích sự
hưởng ứng của người nhận, do đó cần phải xem xét đến sự phù hợp của nó
đối với tính chất của thư trực tiếp.
• Độ dài của thư: Độ dài của thư phải phù hợp với nội dung cần thiết. Với
yếu tố này thư trực tiếp cần phải chú ý đến mức độ ngắn gọn vừa phải để
đảm bảo hiệu quả và tránh sự khó chịu đối với người nhận.
• Kích cỡ thư: những bức thư mang tính kinh doanh nên theo kích cỡ tiêu
chuẩn trong kinh tế và in trên một mặt giấy.
• Tính chất của thư: Thư phải đáp ứng những tính chất như dễ đọc, phải có
điểm nhấn để nhấn mạnh những yếu tố cần thiết, phải cung cấp những thông

Marketing trực tiếp gửi các Catalog về sản phẩm hay dịch vụ đến ngườì
tiêu dùng. Các công ty bán hàng theo Catalog đã tạo đặc điểm nổi bật cho
mình bằng cách bổ sung tư liệu hay thông tin về mình vào Catalog, gửi
mẫu hàng kèm theo, trang bị đường dây nóng đặc biệt để giải đáp các câu
hỏi, gửi các quà biếu cho những khách hàng tốt nhất và dành một số phần
trăm lợi nhuận cho việc từ thiện.
Với hình thức này người làm Marketing trực tiếp có thể yêu cầu khách hàng đặt
hàng qua bưu điện hay gọi đến các số điện thoại miễn phí của công ty.
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 11
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
+ Nguyên tắc bố trí trên Catalog: Việc bố trí các sản phẩm, dịch vụ trên Catalog
cần đảm bảo những nguyên tắc sau:
 Nguyên tắc tập trung: Đó là cách lôi kéo sự chú ý của khách hàng vào một
yếu tố đơn nhất nào đó trong trang Catalog. Khả năng lôi cuốn sự chú ý là tỷ
lệ với kích cỡ của yếu tố đơn lẻ lớn nhất, chứ không phải là kích cỡ toàn bộ
trang quảng cáo. Theo nguyên tắc này, việc giảm bớt các yếu tố ít quan
trọng, hay đơn giản một số yếu tố không cần thiết sẽ làm cho cách trình bày
lôi cuốn hơn ( tránh tình trạng tất cả các yếu tố đều quan trọng dẫn đến
không có yếu tố nào quan trọng).
 Nguyên tắc gắn kết: Là cách bố trí các yếu tố trên Catalog nhằm tạo ra sự
gắn kết giữa các phần minh hoạ. Không gian giữa các yếu tố được trình bày
bằng đồ hoạ, không nên vượt quá không gian giữa các yếu tố được trình bày
bằng lời và mô hình sơ đồ. Đối với nguyên tắc này cần chú ý những điểm
sau:
• Mở rộng kích thước yếu tố quan trọng nhất và giảm bớt kích thước của các
yếu tố còn lại.
• Xác lập lại phần văn bản để dễ đọc hơn.
• Chú ý vào giữa những yếu tố đang được phân tán nhằm tạo khung và đường
viền trắng ở biên.
 Đúng quy ước: Các yếu được trình bày trên Catalog cần phải xem xét đến

 Có thể gây khó chịu cho người nghe.
 Có thể không thực hiện được do khách hàng bận.
 Sử dụng điện thoại thích hợp
 Tính kinh tế
 Lời thoại
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 13
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
2.3.3.4. Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền hình,
truyền thanh, báo và tạp chí:
+ Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền hình: Là hình thức sử dụng truyền
hình mạng, truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số....để thực hiện bán sản phẩm trực
tiếp cho người tiêu dùng. Có 2 cách để bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng:
 Thông qua quảng cáo đáp ứng trực tiếp: Người làm marketing trực tiếp phát
những chương trình (60-120 giây) để giới thiệu về một sản phẩm và cho
khách hàng số điện thoại miễn phí để đặt hàng.
 Kênh mua hàng tại nhà: Sử dụng toàn bộ chương trình truyền hình hay toàn
bộ kênh truyền hình riêng cho việc bán hàng và dịch vụ, có những kênh phát
liên tục 24 giờ/ngày. Người xem gọi điện thoại lại để đặt hàng.
+ Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền thanh, báo và tạp chí:
 Marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền thanh: Sử dụng các phương tiện
truyền thanh để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ và số điện thoại để
khách hàng đặt hàng.
 Marketing đáp ứng trực tiếp trên báo và tạp chí: Là hình thức sử dụng các ấn
phẩm tạp chí, báo để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ đến khách
hàng đồng thời yêu cầu đặt hàng qua số điện thoại hoặc phiếu đặt hàng được
đính kèm trên báo, tạp chí. Đối với hình thức marketing trực tiếp này người
làm marketing trực tiếp cần xem xét đến phạm vi, tần suất, chuyên mục, độc
giả.... của các loại báo, tạp chí.
2.3.3.5. Mua hàng bằng máy: Là hình thức các công ty đã thiết kế máy đặt hàng
cho khách ( khác với máy bán hàng tự động) và chúng được đặt tại các cửa hàng, sân

SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 15
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
• Sử dụng một danh sách email hoặc nhóm tin vượt quá số lượng và tần suất
người được yêu cầu
• Đưa người sử dụng vào danh sách email mà không hỏi ý kiến của họ rồi yêu
cầu họ rời khỏi danh sách nếu muốn
Nếu email được sử dụng đúng thì sẽ rất hiệu quả còn ngược lại thì sẽ ảnh hưởng
xấu đến danh tiếng của công ty, dẫn đến mất khách hàng
* Danh sách tiếp nhận
• Cách tốt nhất để tránh rơi vào tình huống Spam là chỉ sử dụng danh sách
tiếp nhận. Có nghĩa là người nhận có yêu cầu được nhận các emai
• Nhũng người trong danh sách này bất kỳ lúc nào cũng có thể rời khỏi danh
sách email và không nhận email nửa
• Những người trong danh sách này được bảo vệ quyền riêng tư của mình, các
công ty phải cam kết bảo vệ điều này
+ Quảng cáo trên Banner: Đây là một công cụ rất phổ biến hiện nay, nó xuất
hiện hầu hết trên các trang website trên Internet:
Quảng cáo trên Banner có thể được ví như một email trực tiếp với Banner là
phong bì. Với diện tích hạn chế trên Banner người làm Marketing trực tiếp phải thuyết
phục để khách hàng ghé thăm, hành động hay tương tác với Banner.
 Banner trên website và trang mini: Việc chi trả cho chiến dịch dựa trên chi
phí từng người đăng ký, nghĩa là người quảng cáo chỉ trả tiền cho website
nào mang lại các đơn đặt hàng. Việc quảng cáo này sẽ làm hạn chế số
website có đặt trang quảng cáo, tuy nhiên khi thực hiện loại chiến dịch này
sẽ rất an toàn.
 Banner kiểu hỏi đáp trực tiếp: Đây là hình thức một quảng cáo Banner đảm
nhiệm luôn việc bán hàng. Được sử dụng để mời khách hàng đăng ký một
mặt hàng ngay trên nó.
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 16
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu

ứng tương đối thấp và có khả năng đáp ứng lại ở những lần sau thì đây là một biện
pháp nhằm cải thiện sự hưởng ứng của khách hàng đối với thông điệp của công ty.
2.4.2. Đo lường sự thành công của chiến dịch:
- Lập kế hoạch chi phí: Người làm Marketing trực tiếp phải lập chi phí cho kế
hoạch Marketing trực tiếp của mình. Bằng cách cộng thêm được lập theo kế hoạch chi
phí cho chiến dịch , người làm Marketing trực tiếp có thể hình dung ra trước được mức
độ đáp ứng cần thiết để đảm bảo hoà vốn.
- Khái niệm giá trị suốt đời của khách hàng: Giá trị cuối cùng của một khách
hàng không chỉ thể hiện ở số hàng mà khách hàng đã mua theo một thư chào hàng cụ
thể. Giá trị cuối cùng của khách hàng là số tiền lời thu được trên toàn bộ số hàng mà
khách hàng đó đã mua trừ đi chi phí mua sắm và bảo trì của khách hàng.Và như vậy,
sau khi đánh giá giá trị suốt đời của khách hàng công ty sẽ bằng những nỗ lực truyền
thông để hướng đến khách hàng trung thành của mình, những nỗ lực này có thể chỉ là
việc cung cấp thông tin một cách đơn thuần, từ đó công ty có thể tạo lập một mối quan
hệ lâu dài với khách hàng hay nói cách khác là tạo ra mối quan hệ có lợi nhuận.
- Đo lường hiệu quả chiến dịch:
- Chi phí mỗi hưởng ứng
Chi phí hưởng ứng = tổng chi phí cổ động/ tổng số hưởng ứng
Với công thức này thì người làm Marketing trực tiếp cần quan tâm đến tổng số
hưởng ứng, họ phải làm sao để tổng số hưởng ứng cao và như vậy sẽ làm giảm chi phí
cho 1 hưởng ứng
- Biên cho phép: Là phần còn lại sau khi trả chi phí sản phẩm, chi phí gởi hàng
và các mất mát. Đơn giản nhất đó là phần còn lại dành cho quảng cáo và lợi nhuận đối
với 1 sản phẩm sau khi đã trừ đi tất cả các chi phí
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 18
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
Từ biên cho phép và chi phí cho mỗi hưởng ứng người làm Marketing trực tiếp
sẽ tính được lợi nhuận bình quân của mỗi hưởng ứng. Với lợi nhuận bình quân của mỗi
hưởng ứng người làm Marketing trực tiếp sẽ đánh giá xem chiến dịch thành công hay
thất bại. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào lợi nhuận bình quân để đánh giá là chỉ dừng lại ở

2
. Đồng thời đổi tên là Nhà máy Nhựa Đà Nẵng.
Ngày 29/11/1993, theo Quyết định số 1844/QĐ – UB của UBND tỉnh Quảng Nam
– Đà Nẵng, Nhà máy Nhựa Đà Nẵng được đổi tên thành Công ty Nhựa Đà Nẵng - chịu
sự quản lý của UBND thành phố Đà Nẵng và Sở Công nghiệp tỉnh Quảng Nam – Đà
Nẵng với tên giao dịch là DANANG PLASTIC COMPANY ( viết tắt là DPC), trụ sở
tại 199 Trần Cao Vân – Thành phố Đà Nẵng. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty
là sản xuất, cung ứng, kinh doanh xuất nhập khẩu các sản phẩm nguyên vật liệu thuộc
lĩnh vực nhựa phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.
Ngày 04/08/2000 theo Quyết định 90/2000/QĐTT của Thủ Tướng Chính Phủ,
Công ty được Cổ phần hoá và lấy tên là Công ty Cổ Phần Nhựa Đà Nẵng.Sau đó các
cấp lãnh đạo quyết định gửi hồ sơ xin niêm yết cổ phiếu lên Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà
Nước. Ngày 10/12/2001 cổ phiếu của công ty Nhựa Đà Nẵng chính thức giao dịch tại
Trung tâm Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 20
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
Vốn điều lệ của công ty là 15,8 tỷ VND với cơ cấu vốn điều lệ như sau: Nhà nước
chiếm 31,5%, cổ đông trong công ty chiếm 27,33%, cổ đông bên ngoài chiếm 41,17%.
* Về mặt pháp lý của công ty:
- Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
- Tên giao dịch: DANANG PLASTIC JOINT – STOCK COMPANY
- Tên viết tắt: DANAPLAST.Co
- Trụ sở: 371 TRẦN CAO VÂN – tp ĐÀ NẴNG
- Tên cổ phiếu: DPC
- Điện thoại: (0511)822462 – 826406 – 835286
- Fax: (0511)824461 – 822931
- Email:
Thương hiệu Danaplast đã được Thủ Tướng Chính Phủ kí duyệt ngày 04/08/2000
do Cục Sở Hữu Trí Tuệ và kiểu dáng Công Nghiệp thuộc Bộ Công Nghiệp Việt Nam
bảo hộ. Ngoài ra công ty còn được Bộ Thương Mại kiểm tra và bảo hộ thông qua số

- Được phép xuất nhập khẩu trực tiếp:
+ Nhập khẩu: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.
+ Xuất khẩu: các sản phẩm từ nhựa và chất dẻo do nhà máy sản xuất.
1.1.2.3. Nhiệm vụ của Công ty
Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng hoạt động trong lĩnh vực nhựa với các nhiệm vụ
sau:
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch, nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh, đáp ứng ngày càng nhiều hàng hoá cho xã hội, từ bù đắp chi phí, tự
trang trải vốn và phải làm tròn nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước. Tận dụng năng
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 22
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
lực sản xuất và không ngừng nâng cao đổi mới máy móc thiết bị, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất của Công ty.
- Thực hiện phân phối lao động và công bằng xã hội, tổ chức tốt đời sống và hoạt
động cho cán bộ công nhân viên, nâng cao trình độ văn hoá và bồi dưỡng nghiệp vụ
chuyên môn cho cán bộ công nhân viên, đóng góp nghĩa vụ cho địa phương.
1.1.2.4. Quyền hạn của Công ty
- Được quyền giao dịch và ký kết các hợp đồng kinh tế để mua bán, hợp tác đầu
tư sản xuất và kinh doanh tạo ra sản phẩm hàng hoá, tự chủ trong kinh doanh và mở
rộng mọi hình thức liên doanh, liên kết.
- Được chủ động xác định nguồn vốn, được vay và mua bán ngoại tệ tại Ngân
hàng Ngoại thương, được huy động các nguồn vốn khác từ các tổ chức cá nhân trong
và ngoài nước để phát triển kinh doanh theo pháp luật hiện hành.
1.1.3. CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG.
1.1.3.1. Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty Nhựa Đà Nẵng
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 23
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN GIÁM ĐỐC

bao

Phòng Kỹ
thuật
Ghi Chú :
Quan hệ trực tuyến .
Quan hệ chức năng .
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
+ Mô hình tổ chức này gồm có 2 cấp, đó là cấp hành chính và cấp sản xuất. Trong
đó:
* Cấp hành chính gồm:
Đại Hội Đồng Cổ Đông, Ban kiểm soát, Hội Đồng Quản Trị, Ban điều hành của
Công ty bao gồm: Giám Đốc và Phó Giám Đốc. Ngoài ra cấp hành chính này còn có 4
Phòng ban đó là: Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Kĩ thuật, Phòng Kinh doanh,
Phòng Tài chính- Kế toán mà đứng đầu trong các Phòng ban này là các Trưởng phòng.
SVTH: Nguyễn Hà Quảng_30K02.3 Trang 24
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Bích Thu
* Cấp sản xuất bao gồm:
Tổ màng mỏng, Tổ dệt bao, Tổ may bao, Tổ tấm trần, Tổ bao bì, Tổ sản phẩm
PVC và ống nước, Tổ can phao, Tổ cơ điện và bộ phận KCS mà đứng đầu của các Tổ
này là các Tổ trưởng.
1.1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong mô hình tổ chức
1.1.3.2.1. Ban Quản lý
* Đại hội đồng cổ đông:
Là bộ phân lãnh đạo cao nhất của công ty và là bộ phận sẽ thông qua tất cả các
quyết định quan trọng của công ty như mua bán và số lượng cổ phiếu, sát nhập, giải
thể, sữa chữa điều lệnh, điều lệ, thành lập, điều chỉnh và xử lý các vi phạm của Hội
đồng quản trị và Ban Giám đốc thông qua các báo cáo hằng năm. Đại hội đồng cổ đông
hoạt động thông qua các cuộc họp Đại Hội cổ đông thường niên, bất thường và được
thông qua văn bản. Đại Hội đồng cổ đông được quyền quyết định bầu, miễn nhiệm, bãi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status