MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 74

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I, CHI PHÍ SẢN XUẤT.
I.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.
I.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống,
lao động vật hoá mà Doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong
một thời kỳ nhất định.
Thực chất, chi phí sản xuất là sự di chuyển vốn , chuyển dịch giá trị các yếu tố
sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).
I.1.2 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.
Sự phát triển của loài người gắn liền với quá trình sản xuất. Khi tham gia vào
thị trường, hoạt động sản xuất của Doanh nghiệp đều đặt ra cho mình câu hỏi: Sản
xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất số lượng bao nhiêu? và hướng tới mục tiêu
cuối cùng là lợi nhuận. Đối với bất kỳ phương thức sản xuất nào của quá trình sản
xuất cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình
sản xuất, đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Sự tham gia
của các yếu tố này vào quá trình sản xuất đã hình thành nên các khoản chi phí
tương ứng và kết quả là tạo ra giá trị của sản phẩm.
Sự vận đông của quá trình sản xuất là biểu hiện của chi phí đã bỏ ra và kết quả
thu về là những sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành. Do vậy, việc hình thành
nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là yếu tố khách quan,
không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.
Trong các Doanh nghiệp sản xuất, ngoài những hoạt động sản xuất ra sản phẩm
hoặc lao vụ còn có các hoạt động kinh doanh và hoạt động khác không mang tính
sản xuất như hoạt động bán hàng hoạt động quản lý..., nên ngoài chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ còn phát sinh các chi phí không mang tính sản xuất. Vì vậy, chỉ
những chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của Doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình
tồn tại và hoạt động của Doanh nghiệp. Để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh
doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp thep từng thời kỳ: hàng tháng,

đủ và kịp thời chi phí sản xuất theo từng thời kỳ, từ đó giúp cho công tác tính giá
thành sản phẩm dược chính xác phù hợp.
I.2. Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của các Doanh nghiệp gồm nhiều loại nội dung kinh tế khác
nhau, mức độ và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau. Để
phục vụ công tác quản lý và hạch toán chi phí cần thiết phải phân loại chi phí sản
xuất theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với mục đích và yêu cầu khác nhau của
quản lý.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh là việc sắp xếp các chi phí khác nhau vào
từng nhóm, từng loại khác nhau theo những đặc trưng nhất định. Do vậy,
phân loại chi phí một cách khoa học và hợp lý là một yêu cầu quan trọng trong
công tác kế toán.
Mỗi cách phân loại đáp ứng ít nhiều cho mục đích quản lý, hạch toán, kiểm tra
kiểm soát chi phí phát sinh ở những góc độ khác nhau. Vì thế mỗi cách phân loại
tồn tại bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong công tác quản lý chi phí sản
xuất và tính giá thành sản xuất sản phẩm.
Việc phân loại chi phí sản xuất dựa trên cơ sở các yêu cầu cơ bản sau:
- Đáp ứng yêu cầu thông tin cho quản lý một cách kịp thời, chính xác giúp cho
việc ra quyết định sản xuất kinh doanh đựơc phù hợp.
- Phân loại chi phí sản xuất phải thuận lợi cho công tác tổ chức hạch toán chi
phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm.
- Tiết kiệm tối đa chi phí lao động trong công tác tổ chức hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản xuất sản phẩm.
- Đáp ứng triệt để và thúc đẩy hạch toán kiểm tra nội bộ, thuận lợi cho việc áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật trong công tác hạch toán.
- Rõ ràng, dễ hiểu, dễ làm, thuận lợi cho việc kiểm tra kiểm soát chi phí sản
xuất.
Trên cơ sở đó có các cách phân loại sau:
I.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này, những chi phí nào có cùng nội dung kinh tế, có cùng

chi phí sau:
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí vệ nguyên liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc thực
hiện lao vụ, dịch vụ . Không tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật
liệu sử dụng vào mục đích sản xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất.
* Chi phí nhân công trực tiếp : Bao gồm chi phí về tiền công, phụ cấp phải trả
và các khoản tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoànvào
tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định .
* Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung
ở các bộ phận sản xuất (phân xưởng, tổ, đội...) ngoài hai khoản mục chi phí trực
tiếp đã nêu trên . Chi phí sản xuất chung bao gồm sáu điều khoản sau:
- Chi phí nhân viên (phân xưởng, đội, trại sản xuất): Gồm chi phí về tiền
lương, tiền công, các khoản phụ cấp, trích bảo hểm... cho nhân viên quản lý, nhân
viên kế toán, thống kê, thủ kho... tại phân xưởng sản xuất.
- Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu sử dụng chung như vật liệu dùng
để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, và những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung
ở phân xưởng, đội sản xuất.
- Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về các loại công cụ, dụng cụ
dùng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất như khuôn mẫu,
dụng cụ gá lắp, dụng cụ bảo hộ lao động...
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao của
tài sản cố định sử dụng ở các phân xưởng, đội sản xuất như khấu hao máy móc
thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải , nhà xưởng...
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh nhứng chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ
bên ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất
như: chi phí về điện, nước , điện thoại , chi phí sửa chữa tài sản cố định thuê
ngoài .
- Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh chi phí bằng tiền ngoài các khoản chi phí
đã nêu trên phục vụ cho yêu cầu sản xuất chung của phân xưởng, đội sản xuất.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất

mối quan hệ với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành hai loại: chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp:
Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc sản xuất
ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định. Những chi phí này, kế toán có thể
căn cứ vào số liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi
phí.
Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản xuất
nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc. Những chi phí này kế toán phải tiến hành
phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định
phương pháp kế toán tổng hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng
đắn, hợp lý.
I.2.5. Phân loại chi phí theo nội dung cấu thành của chi phí.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất làm hai loại: chi phí đơn nhầt và chi
phí tổng hợp.
Chi phí đơn nhất: : Là những chi phí do một yếu tố cấu thành như: nguyên vật
liệu chính dùng trong sản xuất, tiền lương công nhân sản xuất.
Chi phí tổng hợp: Là những chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tập hợp lại theo
cùng một công dụng như chi phí sản xuất chung.
Cách phân loại chi phí theo nội dung cấu thành của chi phí giúp cho việc nhận
thức vị trí của từng loại chi phí trong việc hình thành sản phẩm để tổ chức công tác
kế toán tập hợp chi phí sản xuất thích hợp với từng loại.
I.3. Đối tương tập hợp chi phí sản xuất.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất
cần phải được tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí, tính giá thành sản
phẩm. Thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Xác định đối
tượng tập hợp chi phí là khâu đầu tiên, rất quan trọng trong toàn bộ công tác quản
lý chi phí và tính giá thành sản phẩm. Nếu xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí
thì Công ty sẽ có thể giảm được giá thành sản phẩm.

I.5. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất.
Với chức năng thông tin và kiểm tra về chi phí, làm cơ sở cho việc định giá và
đề ra các quyết định kinh doanh, hạch toán chi phí sản xuất phải thực hiện các
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phản ánh chính xác, kịp thời các chi phí phát sinh thực tế trong quá trình sản
xuất tại các phân xưởng, bộ phận sản xuất.
- Căn cứ vào đặc điểm qui trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất của
Doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp.
- Xác định chính xác kết quả hạch toán nội bộ của các phân xưởng và các bộ
phận sản xuất.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức tiêu hao vật tư , lao động cũng
như tình hình chấp hành các dự toán chi phí.
I.6. Trình tự hạch toán chi phí sản xuất.
Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý,
khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời.
Trình tự này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh
nghiệp, vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh, vào trình độ
công tác quản lý và hạch toán....Tuy nhiên có thể khái quát chung trình tự hạch
toán chi phí sản xuất qua các bước sau:
Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng
sử dụng.
Bước 2: Tập hợp các chi phí và tính giá thành sản phẩm lao vụ của ngành sản
xuất kinh doanh phục vụ cho các đối tượng.
Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng tính giá
thành.
Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tính ra tổng giá thành và
giá thành đơn vị sản phẩm.
II. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
II.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm .
II.1.1. Khái niệm giá thành sản phẩm.

giá cả, là giới hạn tối thiểu về lượng của giá cả.
Tuy nhiên, giữa giá thành và giá trị sản phẩm có sự khác biệt nhau cả về lượng
và về chất.
Về Lượng: Giá thành nhỏ hơn giá trị sản phẩm; giá trị lao động xã hội biểu
hiện trong giá thành chỉ là một phần lao động xã hội biểu hiện trong giá trị.
Về chất: Giá thành là biểu hiện bằng tiền của các chi phí sản xuất tiêu hao để
sản xuất ra sản phẩm, còn giá trị sản phẩm hàng hoá là lượng lao động kết tinh
trong sản phẩm, hàng hoá, được đo bằng lượng hao phí xã hội cần thiết.
II.2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Để giúp cho việc nghiên cứu hạch toán, quản lý tốt giá thành cũng như đáp ứng
được yêu cầu lập kế hoạch giá thành và xây dựng giá cả hàng hoá, kế toán cần phải
phân biệt các loại giá thành khác nhau.
Có hai cách phân loại giá thành chủ yếu dưới đây:
II.2.1. Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu tính giá thành.
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành, giá thành sản phẩm chia
làm 3 loại:
Giá thành kế hoạch: Được xây dựng trước khi bước vào sản xuất trên cơ sở giá
thành thực tế kỳ trước, các định mức và các dự toán chi phí kỳ kế hoạch. Giá thành
kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của Doanh nghiệp, là căn cứ để so
sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của Doanh
nghiệp.
Giá thành định mức: được xây dựng trước khi bắt đầu sản xuất và xây dựng
trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật chi phí hiện hành, bình quân tiên tiến tại
từng thời điểm trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định
mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các chi phí đạt được trong quá trình
sản xuất sản phẩm.
Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của Doanh nghiệp, là thước
đo chính xác để xác định kết quả số dư tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp
cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà Doanh nghiệp đã thực
hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh .

lao vụ nhất định do Doanh nghiệp sản xuất ra đòi hỏi phải tính được tổng giá thành
và giá thành đơn vị.
Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm đã hoàn thành ở giai đoạn cuối
cùng của quy trình công nghệ sản xuất hoặc bán thành phẩm đã sản xuất xong của
một giai đoạn công nghệ theo yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ và có tiêu thụ bán
thành phẩm ra ngoài.
Để việc xác định đối tượng tính giá thành được chính xác thì kế toán phải dựa
trên các căn cứ:
Xét về mặt tổ chức sản xuất:
Nếu Doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tính giá
thành là từng sản phẩm, từng công việc đã hoàn thành như : từng công trình hoặc
hạng mục công trình là một đối tượng tính giá thành đối với công ty xây lắp.
Nếu Doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất hàng loạt thì từng loạt sản phẩm là
một đối tượng tính giá thành. Ví dụ: trong Doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ (bàn học
sinh) thì từng loạt bàn học sinh sản xuất ra là một đối tượng tính giá thành.
Nếu Doanh nghiệp thuộc loại sản xuất nhiều, khối lượng lớn thì từng loại sản
phẩm khác nhau là một đối tượng tính giá thành. Ví dụ: Trong công ty may, đối
tượng tính giá thành là từng loại áo jắc két, từng loại quần trẻ em...
Xét về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm:
Nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn: đối tượng tính giá thành là sản
phẩm đã hoàn thành vào giai đoạn công nghệ sản xuất cuối cùng.
Nếu quy trình công nghệ sản xuất thuộc loại hình phức tạp, chế biến sản phẩm
liên tục qua nhiều giai đoạn sản xuất thì đối tượng tính giá thành có thể là thành
phẩm hoặc nửa thành phẩm.
Nếu quy trình công nghệ sản xuất thuộc loại hình phức tạp kiểu lắp ráp (kiểu
song song) thì đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm được lắp ráp hoàn chỉnh,
hoặc có thể là bộ phận chi tiết sản phẩm.
Đối tượng tính giá thành có nội dung khác với đối tượng kế toán tập hợp chi
phí sản xuất. Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để kế
toán tổ chức ghi sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu và tổ chức tập hợp phân bổ

trong kỳ để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị của sản phẩm đã hoàn thành
theo khoản mục chi phí. Tính giá thành sản phẩm chính xác là thông tin quan trọng
giúp người quản lý doanh nghiệp nắm được nguyên nhân tăng giảm giá thành, mức
hạ giá thành, tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất để đề ra phương hướng sản xuất,
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hiện nay người ta thường tính giá thành theo 6 phương pháp:
- Phương pháp tính giá thành giản đơn.
- Phương pháp tính giá thành phân bước.
- Phương pháp tính giá thành loại trừ giá trị sản phẩm phụ.
- Phương pháp tính giá thành theo hệ số.
- Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ.
- Phương pháp tính giá thành theo định mức.
Tuỳ theo đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất,
yêu cầu quản lý hạch toán và trình độ cán bộ nhân viên kế toán của từng Doanh
nghiệp, từng loại hình sản xuất cụ thể, kế toán có thể sử dụng một trong các
phương pháp nói trên, hoặc áp dụng kết hợp một số phương pháp với nhau.
II.5.1. Phương pháp tính giá thành giản đơn ( p
2
trực tiếp)
Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất
giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn, thường là không có
sản phẩm làm dở cuối kỳ hoặc có rất ít và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy
điện, nước, các doanh nghiệp khai thác.
Theo phương pháp này, giá thành sản xuất được tính:
Tổng giá thành của
từng đối tượng tính
giá thành
=
Giá trị sản
phẩm dở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status