LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 74

LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và Ngân hàng nói
riêng
1.1.1.Khái niệm cạnh tranh:
Trong thế kỷ XX, nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại đã ra đời như lý thuyết của
Micheal Porter,J.B.Barney,… Trong đó phải kể đến lý thuyết “lợi thế cạnh tranh”của
Micheal Porter, ông giải thích hiện tượng khi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thương
mại quốc tế cần phải có “lợi thế cạnh tranh “và “lợi thế so sánh”. Ông phân tích lợi thế
cạnh tranh tức là sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh
là điều kiện tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, môi trường tạo cho doanh nghiệp,
quốc gia thuận lợi trong sản xuất cũng như trong thương mại. Ông cho rằng lợi thế cạnh
tranh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, lợi thế cạnh tranh
phát triển dựa trên lợi thế so sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh.
Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh tranh
không phải là sự triệt tiêu của các chủ thể tham gia mà cạnh tranh là động lực phát triển
của các doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh
giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có
được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước,…thông qua cạnh tranh chủ thể
xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức
trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham
gia quá trình cạnh tranh.
Vậy cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có
chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần
thắng trong cuộc đua để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể thị
phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn,…
Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và
nó giúp các chủ thể tham gia đạt được tất cả cái mình mong muốn. Thực tế để có lợi
thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không
lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ. Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn
nhau nhưng kết quả cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngược.

được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên.
-Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào
quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay
gắt, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua
được hàng hóa mà họ cần.
-Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật
khách hàng và thị trường, kết qủa là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong
cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra yếu đuối, không chịu được sức ép sẽ phải
rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn.
1.1.3.Năng lực cạnh tranh của NHTM:
1.1.3.1.Khái niệm về NHTM:
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng
thực hiện trong nền kinh tế.Ví dụ, Luật các tổ chức tín dụng do kỳ họp thứ 2 Quốc hội
khóa X thông qua ngày 12/12/1997 tuy không nêu riêng khái niệm NHTM, nhưng cũng
chỉ ra “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân
hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác” (Điều20, mục2),
khái niệm này cũng được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín
dụng do kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/06/2004 khẳng định lại.
Điều 1 Nghị định 48/2000/ND-CP ngày 12/09/2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hàng
thì định nghĩa rõ hơn:”Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận,
góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.
Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi
mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính của ngân hàng cũng không ngừng thay
đổi. Thực tế là rất nhiều các tổ chức tài chính, bao gồm các công ty chứng khoán, công
ty bảo hiểm hàng đầu… đều đang cố gắng cung cấp dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân
hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng)

hội và các cá nhân. Nếu một Ngân hàng đổ vỡ sẽ ảnh hưởng đến các Ngân hàng khác.
Vì thế trong các hoạt động của Ngân hàng, đi liền với cạnh tranh lẫn nhau là hợp tác
với nhau, nhằm huớng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn.
Từ hai đặc điểm trên, để tránh những nguy cơ đổ vỡ cho hệ thống, Ngân hàng
Trung ương phải có sự giám sát chặt chẽ thị trường tiền tệ, nhằm có những giải pháp
can thiệp kịp thời tránh những yếu tố có thể làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau trong các
hoạt động của các NHTM.
Mặt khác, hoạt động Ngân hàng không giới hạn phạm vi trong nuớc mà liên
quan đến các nước khác trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Do vậy, hoạt động của Ngân
hàng còn chịu sự chi phối của các yếu tố nước ngoài. Vì thế, sự cạnh tranh của NHTM
đòi hỏi những chuẩn mực rất cao và đòi hỏi rất nghiêm.
• Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm,
chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn
hoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanh
chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung. Chẳng hạn: Chỉ cần một tin đồn
thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí đe dọa sự tồn
vong của cả hệ thống các tổ chức tín dụng. Một NHTM hoạt động yếu kém, khả năng
thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế và dân
chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các NHTM vừa phải cạnh tranh
để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh
bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình,
bởi vì, nếu đối thủ là các NHTM khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả
đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính NHTM này do tác động
dây chuyền.
• Hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan đến tất cả các tổ chức
kinh tế, chính trị – xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huy động tiền gửi
tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời, trong hoạt
động kinh doanh của mình, các NHTM cũng đều mở tài khoản cho nhau để cùng phục
vụ các đối tượng khách hàng chung. Chính vì vậy, nếu như một NHTM bị khó khăn
trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tác động dây chuyền đến gần như tất

1.1.3.4.Các công cụ cạnh tranh của ngân hàng thương mại:
• Cạnh tranh bằng công cụ lãi suất:
Trong hoạt động ngân hàng, lãi suất là công cụ quan trọng để cạnh tranh đối với
hai mảng nghiệp vụ là huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng.
-Đối với nghiệp vụ huy động vốn, lãi suất càng cao thì càng thu hút được nhiều
khách hàng gửi tiền và mua các chứng từ có giá do ngân hàng phát hành. Thông
thường, lãi suất có thể chia làm nhiều mức tương ứng với các kỳ hạn tiền gửi để khách
hàng lựa chọn và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng gửi tiền. Những khoản
tiền gửi có kỳ hạn dài thường có lãi suất cao hơn những khoản tiền gửi ngắn hạn. Mức
chênh lệch lãi suất giữa khoản tiền gửi dài hạn và ngắn hạn tác động tới tâm lý và sự
lựa chọn kỳ hạn tiền gửi của khách hàng.
-Đối với nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thì lãi suất cho vay càng thấp, càng
thu hút khách hàng vay tiền. Khoản tiền cho vay có kỳ hạn dài, lãi suất sẽ cao hơn các
khoản cho vay ngắn hạn. Lãi suất cho vay của ngân hàng đối với một dự án đầu tư hoặc
một món vay còn tùy thuộc vào độ rủi ro của nó. Nếu độ rủi ro cao thì lãi suất cho vay
cao và ngược lại.
Do tính đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng nên lãi suất có vai trò hết
sức quan trọng trong cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần. Việc tăng, giảm lãi suất không chỉ
phụ thuộc vào các yếu tố chi phí kinh doanh, tổng doanh số mà còn phụ thuộc vào sự
cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Điều chỉnh lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn tới
khách hàng của ngân hàng. Sự điều chỉnh không hợp lý giữa lãi suất huy động vốn và
lãi suất cho vay sẽ gây những hậu quả khôn lường trong công tác chiếm lĩnh thị trường
vì khách hàng luôn nhạy cảm với những dao động của lãi suất trên thị trường liên ngân
hàng. Nếu lãi suất cho vay cao có thể chấp nhận được đối với khách hàng thì ngân hàng
có thể tăng lãi suất huy động vốn để tăng lượng vốn và thu hút khách hàng mới. Ngược
lại, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn có lãi suất thấp thì có thể giảm lãi suất
cho vay đối với khách hàng để cạnh tranh thu hút khách hàng của ngân hàng khác. Tùy
theo mục tiêu điều chỉnh cân đối theo kỳ hạn và đảm bảo tính thanh khoản cho khách
hàng mà ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay phù hợp theo từng thời kỳ
nhất định.

có thể tạo sổ tiết kiệm của khách hàng với những tiện ích như có thể gửi ngoại tệ, cho
phép ủy quyền rút tiền. Hệ thống chứng từ được chuẩn hóa, dễ hiểu, chính xác, quy
trình làm việc với khách hàng phải đảm bảo được quản lý chặt chẽ về phía ngân hàng
nhưng cũng phải giảm phiền phức đối với khách hàng. Điều quan trọng đối với khách
hàng là đảm bảo an toàn sinh lợi, thuận tiện và nhanh chóng.
-Các dịch vụ kèm theo, dịch vụ sau bán như khi khách hàng rút tiền và yêu cầu
ngân hàng giao tiền tại nhà cho khác hàng hay cung cấp sao kê tài khoản định kỳ.
Tính độc đáo của dịch vụ ngân hàng là một yêu cầu nảy sinh trong quá trình
cạnh tranh.Các ngân hàng muốn giữ được khách hàng và thu hút thêm khách hàng thì
phải tạo ra tính độc đáo riêng trong ngành ngân hàng rất là khó vì đây là lĩnh vực dịch
vụ nên các đối thủ dễ làm theo.
Đặc điểm ngân hàng là có một cơ cấu dịch vụ hết sức đa dạng từ các nghiệp vụ
huy động vốn, chu chuyển chi trả, tài khoản cá nhân cho đến các dịch vụ trung gian, tư
vấn nên việc kết hợp đưa đến cho khách hàng nhiều dịch vụ cũng tạo nên lợi thế cạnh
tranh quan trọng. Khách hàng sử dụng dịch vụ này sẽ dễ dàng sử dụng dịch vụ khác.
• Cạnh tranh về mạng lưới chi nhánh, quan hệ ngân hàng đại lý:
Mạng lưới chi nhánh, văn phòng đại diện và phòng giao dịch sẽ giúp ngân hàng
mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Số lượng chi nhánh ngân hàng lớn là tiền đề để
cho ngân hàng thu hút khách hàng, thu hút vốn, ngoài ra nó còn giúp cho khách hàng
thuận lợi trong việc sử dụng những dịch vụ của ngân hàng như chuyển tiền, nhận tiền.
Ngân hàng thiết lập mối quan hệ rộng rãi với các ngân hàng quốc tế nhằm tạo
nên lợi thế cho ngân hàng trong lĩnh vực chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán
quốc tế,…Một số ngân hàng có hoạt động buôn bán, nghĩa là họ thực hiện cho vay,
nhận tiền gửi, nhận làm trung gian chuyển tiền giữa các ngân hàng với nhau. Các ngân
hàng này mở tài khoản tại các ngân hàng đầu mối ở các nước và hưởng lợi phí từ các
dịch vụ vận chuyển tiền quốc tế hay kinh doanh ngoại tệ,…
Phương thức phục vụ và thanh toán cũng là một công cụ tạo nên sự tiện lợi cho
khách hàng. Phương thức này thể hiện ở 3 giai đoạn của quá trình giao dịch : trước giao
dịch, trong quá trình giao dịch, và sau khi giao dịch.
-Trước giao dịch, ngân hàng thu hút khác hàng đến với mình và tạo điều kiện

việc tạo lập được uy tín đối với một số khách hàng sẽ tạo nên tiếng vang và có thể thu
hút được các khách hàng mới tự tìm đến với mình.
• Cạnh tranh về không gian và thời gian:
Khi môi trường phát triển tuơng đối ổn định, giá cả tuơng đương nhau, thông tin
hoàn hảo thì thời cơ và thời gian tương đối quan trọng. Nó quyết định tới lợi thế cạnh
tranh của ngân hàng. Ngân hàng có quá trình giao dịch tiện nhất, nhanh nhất sẽ chiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status