BÀN VỀ VẤN ĐỀ TĂNG VỐN CHỦ SỞ HỮU ĐỂ NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới
WTO vào ngày 7/11/2006. Một trong những cam kết của Việt Nam khi gia nhập
WTO là mở cửa dần lĩnh vực ngân hàng – tài chính.
Đên nay tại Việt Nam đã có sự hiện diện của những tập đoàn ngân hàng hàng
đầu thế giới như Citibank, HSBC, ANZ… Theo đánh giá của AFP về hệ thống
ngân hàng Việt Nam thì công cuộc hiện đại hóa ngành tài chính Việt Nam diễn ra
chậm chạp nhưng vững chắc đã thúc đẩy các ngân hàng nước ngoài đầu tư vào
Việt Nam, nắm giữ một số cổ phần nhỏ nhưng quan trọng ở các đối tác làm ăn tốt.
Chúng ta có thể thấy rằng, sau khi gia nhập WTO, thì lĩnh vực Ngân hàng – Tài
chính của Việt Nam sẽ trở nên rất sôi động. Các tổ chức tài chính nước ngoài, đặc
biệt là các ngân hàng lớn trên thế giới sẽ lần lượt tăng thêm ảnh hưởng của mình
tại Việt Nam với những công nghệ và sản phẩm dịch vụ mới, hiện đại, cũng sẽ có
những ngân hàng thương mại của Việt Nam không cạnh tranh được và sẽ phải phá
sản.
Vì vậy, đề tài này được nghiên cứu nhằm mục đích nâng cao khả năng cạnh
tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng việc tăng vốn chủ sở hữu của
mình. Có như vậy, các ngân hàng thương mại Việt Nam mới có thể đứng vững
trên sân chơi toàn cầu này.
2. Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào việc nghiên cứu vấn
đề tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng
thương mại cổ phần, các ngân hàng liên doanh.
1
3. Các phương pháp sử dụng để nghiên cứu.
Trong vấn đề nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu là:
Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lôgic, phương pháp thống kê
Phương pháp duy vật biện chứng sử dụng để nghiên cứu sự phát triển của hệ
vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ của ngân hàng, quỹ thặng dư vốn
và nguồn vay nợ có thể chuyển đổi
Thứ nhất là nguồn vốn hình thành ban đầu của ngân hàng. Căn cứ vào nguồn
gốc hình thành của mỗi ngân hàng khác nhau mà nguồn vốn ban đầu của các ngân
hàng cũng khác nhau. Đối với ngân hàng thương mại nhà nước thì nguồn vốn ban
đầu của ngân hàng này sẽ do nhà nước cấp vốn từ ngân sách nhà nước. Đối với
ngân hàng thương mại cổ phần, nguồn vốn hình thành ban đầu của ngân hàng do
các cổ đông thành lập ngân hàng đóng góp thông qua việc mua cổ phần hay cổ
3
phiếu của ngân hàng. Điều này có nghĩa là giá trị vốn góp ban đầu của các cổ đông
được chia làm nhiều phần nhỏ bằng nhau. Với mỗi người khi nắm giữ một phần
bằng nhau đó, họ trở thành các cổ đông của các ngân hàng. Đối với ngân hàng liên
doanh thì vốn góp ban đầu do các thành viên liên doanh góp vốn. Nguồn vốn này
đối với các ngân hàng rất quan trọng. Nó là nguồn đề giúp cho các ngân hàng có
thể mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà cửa cho ngân hàng.
Thứ hai là nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Trong
quá trình hoạt động của mình, ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu của mình theo nhiều
cách khác nhau. Ngân hàng sử dụng phần lợi nhuận không chia của mình để bổ
sung làm tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Theo đó, ta thấy, dựa vào lợi nhuận
sau thuế của ngân hàng sau khi đã chi trả cổ tức cho các cổ đông, trích lập các quỹ
như quỹ dự phòng rủi ro, quỹ khen thưởng phúc lợi… thì còn lại phần lợi nhuận
không chia của ngân hàng. Nhờ có phần lợi nhuận không chia này mà ngân hàng
có thể làm tăng thêm vốn chủ sở hữu của mình, giúp ngân hàng có thể tái đầu tư
nguồn vốn đó. Ngoài ra, ngân hàng có thể bổ sung thêm cho vốn chủ sở hữu của
mình thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu hay ngân hàng được tái cấp vốn.
Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần thì một trong những cách chúng ta
thường thấy nhất là các ngân hàng này sẽ phát hành thêm cổ phiếu để tăng thêm
vốn chủ sở hữu của mình. Các ngân hàng cổ phần thường chủ yếu phát hành thêm
cổ phiếu cho các cổ đông của mình, trong trường hợp các cổ đông không mua hết
sẽ đem ra đấu giá ra công chúng. Với các ngân hàng thương mại nhà nước thì
cao hơn lãi suất ngân hàng. Do vậy, các ngân hàng sẽ phải trả lãi cho người nắm
giữ trái phiếu này cao hơn. Nhưng với loại trái phiếu này, do thời hạn của trái
phiếu rất dài nên ngân hàng hoàn toàn có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn
vốn từ phát hành trái phiếu này.
Vốn chủ sở hữu rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng. Nó giúp cho ngân
hàng có thể đạt được tỉ lệ an toàn vốn theo quy định của ngân hàng nhà nước. Tỉ lệ
an toàn vốn được tính bằng tỉ số giữa vốn chủ sở hữu và tổng số tiền gửi huy động
được của ngân hàng. Hiện nay tỉ lệ này được quy định tối thiểu là 8%. Những
ngân hàng nào vốn chủ sở hữu lớn thì ngân hàng đó có khả năng huy động được
một lượng lớn tiền gửi từ công chúng. Nó sẽ làm tăng quy mô của ngân hàng, làm
5
tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường. Đặc biệt với những ngân hàng có tỉ lệ an
toàn vốn cao, họ sẽ có được sự tin tưởng của khách hàng khi gửi tiền, tạo ra được
lợi thế cạnh tranh so với các ngân hàng khác
1.2. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng duy trì các lợi thế
của ngân hàng trên thị trường để đạt được mức lợi nhuận và chiếm được mức thị
phần nhất định hoặc có khả năng chống lại một cách thành công sức ép của các lực
lượng cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được đánh giá trên 2 chỉ tiêu,
đó là năng lực tài chính và năng lực hoạt động kinh doanh
a. Năng lực tài chính
Năng lực tài chính được thể hiện qua 2 mặt là khả năng sinh lời và khả năng
phòng ngừa, chống đỡ rủi ro của ngân hàng
* Khả năng sinh lời của ngân hàng
Khả năng sinh lời của ngân hàng phản ánh sự hiệu quả của đồng vốn kinh
doanh trong hoạt động ngân hàng. Khả năng sinh lời được xác định chủ yếu dựa
trên 2 chỉ tiêu là doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) và doanh lợi tài sản (ROA)
Doanh lợi vốn chủ sở hữu ROE được xác định bằng cách chi thu nhập sau thuế
cho vốn chủ sở hữu. Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu tăng mức
suất. Đây là mối nguy hiểm khi thu lãi từ các tài sản hoặc chi phi sẽ tăng đáng kể,
thu hẹp khoản chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi, làm giảm thu nhập ròng.
Rủi ro về khả năng lãi suất thay đổi sẽ dẫn đến sự tăng hoặc giảm giá trị của tài
sản hay của những khoản thu nhập từ tài sản của ngân hàng.
Rủi ro hoạt động: Là những rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại
do sự giảm sút chất lượng quản lý, do cung cấp những dịch vụ không hiệu quả, do
những sai lầm trong công tác quản lý hay do những thay đổi trong nền kinh tế và
sự cạnh tranh của các đối thủ mới về dịch vụ tài chính trên thị trường ngân hàng.
7
Những thay đổi trên có thể tác động tiêu cực tới dòng thu nhập làm tăng chi phí
hoạt động của ngân hàng
Rủi ro tội phạm: Là những rủi ro do tham ô hay biển thủ tài sản ngân hàng hay
các vụ cướp ngân hàng.
Tất cả các rủi ro trên đều làm suy giảm hoạt động ngân hàng. Vì vậy, để phòng
tránh các rủi ro trên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, các ngân hàng
thương mại đã nâng cao chất lượng quản lý, đa dạng hóa các nguồn vốn và sử
dụng nguồn vốn, thực hiện bảo hiểm tiền gửi và tăng vốn chủ sở hữu của ngân
hàng. Nâng cao chất lượng quản lý hoạt động ngân hàng, đa dạng hóa các nguồn
vốn và bảo hiểm tiền gửi là các phương pháp ngăn chặn rủi ro, vốn chủ sở hữu sẽ
bù đáp cho sự tổn thất từ các khoản cho vay và thua lỗ từ đầu tư chứng khoán,
giúp ngân hàng có thể khắc phục được những khó khăn trước mắt.
b. Năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng là khả năng chiếm lĩnh thị phần
về cho vay và các dịch vụ khác của ngân hàng thương mại
* Khả năng cho vay của ngân hàng thương mại
Cho vay là việc ngõn hàng đưa tiền cho khỏch hàng với cam kết khỏch hàng
phải hoàn trả cả gốc và lói trong khoảng thời gian xỏc định. Cho vay là tài sản lớn
nhất trong khoản mục tớn dụng. Cho vay thường được định lượng theo 2 chỉ tiờu:
Doanh số cho vay trong kỡ và dư nợ cuối kỡ. Doanh số cho vay trong kỡ là tổng
số tiền mà ngõn hàng đó cho vay ra trong kỡ. Dư nợ cuối kỡ là số tiền mà ngõn
sắm trang thiết bị, trả lương cho công nhân viên. Vỡ vậy mà ngõn hàng phải có
một lượng tiền nhất định ban đầu để có thể thực hiện được những điều đó. Nhưng
khi ngân hàng vừa thành lập, nó chưa thực hiện được bất kỡ một hoạt động kinh
doanh nào nên chưa thu được lói, số tiền huy động vốn ban đầu cũng không thể
dùng ngay để mua sắm trang thiết bị. Do đó, vốn chủ sở hữu với ngân hàng lúc
này đóng vai trũ vụ cựng quan trọng. Nú có thể trang trải một phần chi phí hoạt
9