THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHO VAY NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI - Pdf 74

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHO VAY NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI
I. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI
1. Một số nét tổng quát về ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà
Nội.
Hoà nhập với tiến trình đổi mới nền kinh tế đất nước sau Đại hội VI của Đảng
(1986) hoạt động ngân hàng đã có những chuyển biến tích cực góp phần huy động vốn
phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước. Bước chuyển mình rõ rệt của hệ thống
ngân hàng là vào năm 1990, thời điểm ban hành hai pháp lệnh ngân hàng là "Pháp lệnh
ngân hàng Nhà nước" và"Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính" đã luật hoá hoạt động ngân hàng nhằm tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện
công tác ngân hàng. Cũng từ đấy hệ thống tổ chức của ngân hàng đã chuyển từ Ngân
hàng một cấp sang Ngân hàng hai cấp có sự phân biệt rõ chức năng quản lí Nhà nước
đối với hoạt động kinh doanh, tín dụng, tiền tệ, cung ứng và điều hoà lưu thông tiền tệ,
ổn định giá trị đồng tiền.
Cùng với sự chuyển mình của nền kinh tế đất nước, hệ thống Ngân hàng Việt
nam nói chung và hệ thống Ngân hàng nông nghiệp nói riêng cũng có nhiều thay đổi rõ
rệt. Sau khi nghị định 53/HĐBT ban hành ngày 26/3/1988 có hiệu lực thì Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà nội được ra đời. Đây là một Ngân hàng thương
mại quốc doanh, là ngân hàng thành viên và hạch toán độc lập của Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Với tên gọi: NHNO & PTNT Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế: The Branch for Agriculture and Rual Development of
Hanoi city.
Trụ sở đặt tại: Số 77- Lạc Trung- Hai Bà Trưng- Hà nội.
NHNO & PTNT Hà nội là một Ngân hàng cấp thành phố nằm giữa trung tâm kinh tế-
chính trị- văn hoá của cả nước do đó gặp nhiều thuận lợi, đó là một địa bàn tập trung
dân cư đông đúc với tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và dịch
vụ... đều rất phát triển, là nơi thu hút nhiều dự án đầu tư nước ngoài nên có nhiều cơ hội
phát triển cả về kinh tế đối ngoại.

Về công tác đào tạo, Ngân hàng đã thương xuyên tổ chức mở lớp đào tạo ngắn
ngày về quản trị điều hành cho các cán bộ chủ chốt và các cán bộ trong diện quy hoạch.
Mở lớp nâng cao nghiệp vụ tin học cho cán bộ công nhân viên, 100% cán bộ nhân viên
đã phổ cập tin học cơ bản.
Cho đến nay NHNO &PTNT Hà nội đã thiết lập được mạng lưới đơn vị cơ sơ
trực thuộc của mình ở hầu hết các quận trong địa bàn thành phố và khu vực. Bao gồm :
- Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Cầu Giấy.
- Chi nhánh NHNO & PTNT Quân Hai Bà Trưng.
- Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Hoàn Kiếm.
- Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Tây Hồ.
- Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Thanh Xuân.
- Chi nhánh NHNO & PTNT Quận Đống Đa.
- Chi nhánh NHNO & PTNT Khu vực Tam Chinh.
2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNO &PTNT Hà nội.
2.1 Công tác huy động vốn.
Khi nói đến hiệu quả kinh doanh của một Ngân hàng không chỉ nhìn trên kết quả
của công tác tín dụng chỉ vì nó là hoạt động sinh lời chủ yếu mà còn phải xem xét đến
chất lượng, quy mô của nguồn vốn huy động. Trong cơ chế thị trường Ngân hàng với tư
cách là một trung gian tài chính dùng nguồn vốn huy động được để cho vay ra với mục
tiêu hoạt động là lợi nhuận hay nói cách khác đi công tác huy động vốn và công tác sử
dụng vốn là hai mặt của một vấn đề đó là kinh doanh tiền tệ. Chúng có quan hệ mật
thiết, hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau, nguồn vốn huy động phải phù hợp với nhu
cầu tín dụng. Có như vậy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mới thực sự có hiệu
quả.
Ý thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn, ngay từ khi mới thành
lập, NHNO & PTNT Hà nội rất quan tâm đến nghiệp vụ nguồn vốn mà chủ yếu là công
tác huy động vốn. Ngân hàng thực hiện các quy chế dự trữ bắt buộc, quy chế đảm bảo
an toàn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại đồng thời thường xuyên
xây dựng kế hoạch và quản lí điều hành vốn kinh doanh của mình (hàng tháng, quý,
năm). Uy tín của NHNO Hà nội ngày càng tăng, chi nhánh NHNO & PTNT Hà nội trên

TCKT khác.
- TG của khách
hàng.
- Giấy tờ có giá
PH
2.035.615
171.429
1.439.521
424.665
100
8,42
70,72
20,86
3.345.006
1.022.125
1.392.564
930.317
100
30,56
41,63
27,81
1.309.391
850.696
-46.957
505.652
64,4
496,2
-3,3
119
( Nguồn lấy từ bảng cân đối tài sản 1999 - 2000 )

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà nội thực hiện phương châm
"Đi vay để cho vay" với mục đích đưa đồng vốn đến khách hàng để họ phát triển sản
xuất kinh doanh ổn định đời sống góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên địa bàn.
Hoạt động đầu tư tín dụng của ngân hàng trong mấy năm qua giữ một vai trò quan trọng
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thu nhập từ lượng tín dụng chiếm 91% tổng
thu nhập của ngân hàng.
Trên cơ sở thực hiện có hiệu quả chiến lược huy động tại địa bàn nội thành Hà
nội, nhờ có nguồn vốn lớn, ổn định, Ngân hàng nông nghiệp Hà nội đã đầu tư mở rộng
cho vay nhiều thành phần kinh tế. Bên cạnh các doanh nghiệp Nhà nước, Ngân hàng
còn mở rộng cho vay với tất cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như doanh nghiệp
tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các xí nghiệp liên doanh với
nước ngoài... cho vay các hộ sản xuất cá thể. Ngoài ra còn mở rộng các loại hình đầu tư
khác như cho vay cán bộ công nhân viên...
Bảng 3: Tình hình dư nợ tín dụng và nợ quá hạn tại Ngân hàng nông
nghiệp Hà nội.
Đơn vị : Triệu đồng
1999 2000
Dư nợ tín dụng Nợ quá hạn Dư nợ tín dụng Nợ quá hạn
Số tiền
%Σd
ư nợ
Số tiền
%NQ
H/DN Số tiền
%Σd
ư nợ
Số tiền
%N
QH/
DN

32,62
8,56
4,92
861950
3.489
71175
22105
32631
991350
86,9
0,4
7,2
2,2
3,3
100
173960
106
965
596
19063
2,02
0
0,15
4,37
1,83
1,92
( Nguồn lấy từ cân đối tài khoản tổng hợp 1999 -
2000 )
Để đánh giá một cách toàn diện công tác sử dụng vốn của Ngân hàng ta xét đến
chỉ tiêu tổng dư nợ. Tổng dư nợ cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước năm

0,1
851.843
139.507
1.119
85,8
14,1
0,1
( Nguồn lấy từ cân đối tài khoản 1999 - 2000 )
Xét về loại cho vay Ngân hàng chủ yếu cho vay vốn ngắn hạn đáp ứng nhu cầu
vốn lưu động của các thành phần kinh tế, thời hạn cho vay tối đa là 12 tháng. Loại cho
vay này chiếm tỷ trọng từ 80-89% tổng dư nợ cho vay. Đây cũng là một hạn chế không
nhỏ của ngân hàng trong việc mở rộng đầu tư tín dụng và đây phần nào cũng phản ánh
về thực trạng tình hình nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. Vốn kinh doanh chủ yếu
là vốn huy động không kỳ hạn và có kỳ hạn 12,13 tháng trở xuống (ngắn hạn ). Do vậy
ngân hàng chỉ đầu tư ngắn hạn.
Mặt khác loại cho vay trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cố định để hình
thành nên các tài sản cố định của doanh nghiệp, tuy ngan hàng thực tế mới đầu tư tín
dụng được từ 11-20% trong tổng dư nợ nhưng nó phản ánh đúng thực trạng của ngân
hàng cũng như hoạt động của nền kinh tế. Về phía ngân hàng để mở rộng đầu tư tín
dụng trung và dài hạn thì trước hết ngân hàng phải có nguồn vốn ổn định, có thời hạn
dài. Muốn vậy thì ngân hàng phải huy động được nguồn vốn này từ phía dân cư, các tổ
chức kinh tế. Nhưng trong thực tế mà nói, trước khi bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế,
nền kinh tế nước ta trải qua một thời kỳ tiền tệ không ổn định, sức mua của đồng tiền
không ngừng giảm thấp, điều này đã làm thiệt thòi rất lớn đối với người tích luỹ tiền tệ
gửi vào ngân hàng. Do vậy đến nay tâm lý của họ chỉ muốn gửi vào ngân hàng dưới
hình thức tiền gửi ngắn hạn để đối phó kịp thời với những diễn biến không có lợi của
nền kinh tế.
Về phía khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài
quốc doanh không vay vốn trung và dài hạn của ngân hàng là ở vấn đề vốn tự có của
doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước nguồn kinh doanh chủ yếu dựa vào

và dài
720.97
5
93.053
0
90
72
0
79.282
36.047
1.189
10
28
100
770316
91.634
0
90,4
65,7
0
81527
47873
1.119
9,6
34,3
100
hạn
3/ Dư
nợ cho
vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status