MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP ĐỒNG BẢO
ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG VPBANK
I. ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY
TẠI NGÂN HÀNG VPBANK
1. Thuận lợi
Hệ thống pháp luật của nước ta đang ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng yêu
cầu phát triển và mở rộng của các quan hệ xã hội đồng thời bắt kịp sự hội nhập với kinh
tế quốc tế. Điều này tạo điều kiện cho các ngân hàng nói chung và Ngân hàng VPBank
nói riêng có cơ sở pháp lý vững chắc hoạt động, vừa bảo vệ được quyền lợi cho những
người vay vốn, vừa bảo vệ được quyền lợi cho ngân hàng. Các văn bản pháp luật được
sửa đổi bổ sung, ban hành mới để phù hợp với điều kiện hiện tại.
Sau khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995,
Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, soạn thảo Nghị định của Chính
phủ về giao dịch bảo đảm cho phù hợp với tình hình mới. Trên cơ lấy ý kiến của các cơ
quan, tổ chức và chuyên gia có liên quan, Bộ Tư pháp đã tổng hợp, hoàn thiện dự thảo
nghị định về giao dịch bảo đảm để trình Chính phủ. Ngày 29 tháng 12 năm 2006 Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Nghị định số
163 có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 01 năm 2007 và thay thế Nghị định số
165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và bãi bỏ Nghị
định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các
tổ chức tín dụng và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2002 của
Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178. Do đó, quy định về
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó có bảo đảm tiền vay, đã được quy định tập
trung, thống nhất trong một văn bản và xóa bỏ được tình trạnh tồn tại song song hai
Nghị định của Chính phủ cùng điều chỉnh một quan hệ bảo đảm tiền vay: Nghị định số
165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Bộ luật Dân sự
năm 1995 và Nghị định số 178 hướng dẫn thực hiện Luật Các tổ chức tín dụng năm
1997 (trong khi hai nghị định này chỉ được ban hành cách nhau bốn mươi ngày). Cho
nên, khi thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay, các tổ chức tín dụng và khách hàng vay,
bên thứ ba phải tra cứu, đối chiếu nhiều văn bản pháp luật khác nhau (pháp luật về giao
dịch bảo đảm và pháp luật về bảo đảm tiền vay) để áp dụng vào hoạt động thực tiễn của
2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi, ngân hàng VPBank cũng gặp phải không ít những
khó khăn trong quá trình áp dụng hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Thứ nhất, việc Việt Nam gia nhập WTO và đang hội nhập với kinh tế thế giới
có thể nói là thuận lợi nhưng đồng thời cũng gây ra những khó khăn nhất định đối với
ngân hàng VPBank nói riêng và các ngân hàng thương mại đang kinh doanh ở Việt
Nam nói chung. Việc mở cửa của các lĩnh vực trong đó có Tài chính – Ngân hàng đã
đem đến cho các Ngân hàng những thách thức khi phải đối mặt với sự cạnh tranh với
các Ngân hàng nước ngoài với kinh nghiệm về quản lý và tiềm lực về tài chính. Hoạt
động tín dụng sẽ gặp phải nhiều khó khăn: về lãi suất, chất lượng dịch vụ…tức là
cũng gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của Ngân hàng. Điều này tất yếu dẫn
đến những khó khăn trong vấn đề bảo đảm tiền vay để tăng hiệu quả trong hoạt động
tín dụng nhưng cũng phải chú ý đến khả năng cạnh tranh với các Ngân hàng nước
ngoài. Ngoài ra sự ra đời của nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần đã dẫn đến sự
cạnh tranh giữa các Ngân hàng trong đó có sự cạnh tranh về các điều kiện khi cho
vay.
Thứ hai, những khó khăn về vấn đề pháp lý. Mặc dù các văn bản pháp luật đã
được thay đổi, thống nhất và hoàn thiện hơn tuy nhiên không tránh khỏi vẫn còn những
điểm vẫn gây khó khăn cho các Ngân hàng trong việc áp dụng hợp đồng bảo đảm tiền
vay.
* Co
́
sư
̣
quy đi
̣
nh kha
́
c nhau, chồng chéo giư
̃
Hiện nay, các trình tự thủ tục về giao dịch bảo đảm còn rườm rà, phức tạp và tốn
nhiều thời gian. Chẳng hạn như trong thủ tục xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi vốn. Bên
nhận bảo đảm phải chứng minh nhiều vấn đề trước khi có thể đưa tài sản bảo đảm ra xử
lý, như chứng minh tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay,
tài sản bảo đảm tiền vay, chứng minh có sự vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật
khác dẫn tới việc phải xử lý tài sản bảo đảm Điêù này làm mất nhiều thời gian và gây
không ít khó khăn cho ngân hàng, dẫn đến làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng.
Nghị định 163/2006/CP ban hành ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về
nội dung cách thức, thời gian xử lý tài sản bảo đảm nhưng chưa có văn bản hướng dẫn
và cũng không có cơ sở để yêu cầu cơ quan thi hành án tham gia cưỡng chế thu hồi tài
sản trong trường hợp người thế chấp không tự nguyện giao tài sản. Do vậy, muốn thu
hồi nợ, rút cuộc ngân hàng vẫn phải làm theo cách cũ là khởi kiện ra tòa để yêu cầu thi
hành án. Nhưng thủ tục quá rườm rà từ việc có đơn yêu cầu, ra quyết định thi hành án,
thời gian tự nguyện, biên bản làm việc của 2 bên tại cơ quan thi hành án, quyết định
thành lập hội đồng định giá và hợp đồng bán với Trung tâm bán đấu giá tài sản, quyết
định cưỡng chế về việc kê biên định giá phát mãi tài sản… Rườm rà như vậy, nên cơ
quan thi hành án không bao giờ thi hành đúng thời hạn như quyết định của bản án. Mặt
khác Hội đồng định giá do cơ quan thi hành án thành lập tự quyết định giá nên không
phù hợp với cách thức định giá như các bên thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp.
* Hệ thống đăng kí giao dich bảo đảm còn nhiều bất cập
Hiện nay, giao dịch bảo đảm được đăng ký tại nhiều cơ quan trên cơ sở phân
biệt theo loại tài sản, cụ thể: đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay thực hiện tại Cục
Hàng không Việt Nam; giao dịch bảo đảm bằng tài sản là động sản (trừ tàu bay, tàu
biển) được thực hiện tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký
quốc gia giao dịch bảo đảm - Bộ Tư pháp; giao dịch bảo đảm bằng tàu biển thực hiện
tại Cơ quan đăng ký tàu biển khu vực; giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài
sản gắn liền với đất thực hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở và
Phòng Tài nguyên và Môi trường. Điều này cho thấy hành lang pháp lý cho hoạt động
giao dịch bảo đảm chưa hoàn chỉnh, đồng bộ và thiếu thống nhất giữa các văn bản, việc
đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau tạo kẽ hở
thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo đảm đã hết. Như vậy, điều này đã gây ra nhiều khó
khăn cho hoạt động của ngân hàng.
II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỒNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG VPBANK
1. Kiến nghị về chính sách pháp luật
Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng
và phải có sự thống nhất trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về hợp đồng bảo đảm
tiền vay với các văn bản pháp luật khác.
Cần rà soát để bãi bỏ những quy định không phù hợp với thực tiễn, hạn chế các
chủ thể thiết lập, thực hiện các giao dịch bảo đảm, ví dụ như: quy định “vật bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm” (khoản 1 Điều 320 Bộ
luật dân sự), về giá trị của tài sản so với tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (khoản
1 Điều 324 Bộ luật dân sự) hay quy định giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
bên nhận thế chấp giữ trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất (khoản 1 Điều 717,
khoản 5 Điều 718 Bộ luật dân sự)…chính những quy định này đã kìm hãm việc mở
rộng tín dụng và tạo ra những khó khăn nhất định cho chủ thể đi vay và ngân hàng. Bãi
bỏ các quy định về giao dịch bảo đảm còn mẫu thuẫn, chưa thống nhất, ví dụ như cách
thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất (Luật Đất đai năm 2003 quy định trong
trường hợp không xử lý được theo thoả thuận thì quyền sử dụng đất được bán đấu giá,
trong khi đó Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp đó bên nhận bảo đảm phải khởi
kiện tại Toà án). Hay như đã nêu ở trên về hai cách hiểu trong quy định của luật công
chứng đã gây khó khăn cho việc công chứng hợp đồng bảo đảm tiền vay có tài sản hình