Thực trạng về chính sách quản lí tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian qua - Pdf 74

Thực trạng về chính sách quản lí tỷ giá hối đoái của Việt
Nam trong thời gian qua
1. Sự hình thành và vận động của tỷ giá cùng chính sách TGHĐ trong giai đoạn
trước tháng 3/1989 thời kế hoạch hoá , tập trung kinh tế.
Năm 1950 được coi như là một cái mốc khi mà Trung Quốc , Liên Xô và các
nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam , đặt nền
móng đầu tiên cho việc hình thành các quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam
và các nước.Trong hai năm liên tiếp,1952-1953,Việt Nam lần lượt kí hiệp định
thương mại và nghị định thư mậu dịch tiểu nghạch với Trung Quốc.Từ ngày 25
tháng 11 năm 1955, tỷ giá chính thức được quy định giữa đồng Việt Nam(VND) và
nhân dân tệ Trung Quốc(CNY) là 1 CNY=1470 VND. Tỷ giá giá này được xác định
dựa trên việc so sánh giá bán lẻ của 34 mặt hàng tiêu dùng tại một số tỉnh lớn của hai
nước. Vào thời điểm này, tỷ giá Rúp của Liên Xô (SUR) và nhân dân tệ của Trung
Quốc (CNY) là 1 CNY = 2SUR. Từ đó,tỷ giá tính chéo tạm thời giữa đồng Việt Nam
và Rup của Liên Xô là 1 SUR = 735VND.Sau đợt đổi tiền vào đầu năm 1959 (1 đồng
Việt Nam mới bằng 1000 đồng Việt Nam cũ) cũng đã có những điều chỉnh tỷ giá
tương ứng với sự thay đổi mệnh giá của đồng tiền (1SUR = 0,735VND). Đến đầu
năm 1961 tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Rup của Liên Xô được điều chỉnh lại là
1SUR=3,27VND,do hàm lượng vàng trong đồng Rup được điều chỉnh tăng 4,44 lần.
Năm 1977, các nước xã hội chủ nghĩa thoả thuận thanh toán với nhau bằng tiền
Rup chuyển nhượng ( là đồng tiền ghi sổ dùng trong thanh toán mậu dịch giữa các
nước trong khối với tỷ giá được quy định sao cho tài khoản giữa các bên sau khi trao
đổi ngoại thương theo khối lượng đã được ghi trong hiệp định ký kết vào đầu năm thì
cuối năm số dư phải bằng zero ) có hàm lượng vàng quy định là 0,98712 gam trên
mỗi đồng Rup chuyển nhượng. Bên cạnh tỷ giá Nhà nước còn sử dụng tỷ giá kết toán
nội bộ 1SUR=5,64VND , được hình thành từ năm 1958 và được xác định trên cơ sở
so sánh giá cả hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam bằng đồng Rup nhân dân tệ với giá
hàng hoá đó bằng đồng Việt Nam trong 3 năm 1955, 1956, 1957. Tỷ giá kết toán nội
bộ này dùng để thanh toán giữa các tổ chức và đơn vị kinh tế Nhà nước có thu chi
ngoại tệ với ngân hàng, tính thu chi với các đối tác ngoại thương. Tỷ giá kết toán nội
bộ này được xác định cố định cho đến tận năm 1986 mới được điều chỉnh lại là

phương, những ngành nghề nào đó càng xuất khẩu nhiều thì ngân sách Nhà nước
càng phải bù lỗ nhiều. Nếu bù lỗ không đủ hay chậm trễ sẽ dẫn đến tình trạng nợ
chồng chất lẫn nhau và thiếu vốn kinh doanh. Bên cạnh đó, do tỷ giá chính thức quy
định thấp, các tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ lại tìm cách không bán cho
ngân hàng, các tổ chức đại diện nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài cũng hạn chế
việc chuyển tiền vào tài khoản ở ngân hàng để chi tiêu mà thường đưa hàng từ nước
ngoài vào hay sử dụng trực tiếp tiền mặt trên thị trường. Thực tế này vừa gây thiệt
hại về kinh tế cho Nhà nước vừa làm phát sinh những tiêu cực trong đời sống kinh tế
xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ những hoạt động phi pháp và chính điều này tác động
ngược trở lại làm tình hình tỷ giá trong thị trường càng diễn biến phức tạp. Đối với
nhập khẩu, Nhà nước thường đứng ra phân phối nguyên vật liệu, trang thiết bị, máy
móc nhập khẩu cho các ngànhh đơn vị trong nền kinh tế với giá rẻ ( theo tỷ giá chính
thức). Như vậy, các ngànhh, các đơn vị được phân phối hàng nhập khẩu thì được
chênh lệch giá. Do đó, cách thức xây dựng và điều hành tỷ giá cùng cơ chế ngoại
thương như vậy đã được xem là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những
thâm hụt trầm trọng trong ngân sách Nhà nước ở giai đoạn này. Tóm lại, TGHD được
xác lập và vận hành ở Việt Nam trong giai đoạn trước tháng 3/1989 là một hệ thống
khá phức tạp, được xác lập theo ý đồ phục vụ cho kế hoạch do Nhà nước quyết định,
không xuất phát từ luật thực tại trong nền kinh tế trong và ngoài nước mà hậu quả là
làm cho việc tính toán,phản ánh thu chi ngân sách Nhà nước bị sai lệch, công tác điều
hành ngân sách Nhà nước gặp khó khăn, cản trở các quan hệ kinh tế cả trong và ngoài
nước. Đây cũng là vừa một biểu hiện và cũng vừa là kết quả của một nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung.
2.2. Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ tháng 3/1989 đến nay, thời kì
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.2.1. Giai đoạn từ 1989-1992.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan trọng trong phát triển TGHĐ ở
nước ta khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị trường truyền thống Đông
Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn , khiến chúnh ta phải chuyển sang buôn bán với khu
vực thanh toán bằng dola Mỹ.Kể từ đó cơ chế tỷ giá ổn định đã được thay thế dần

Đến đầu năm 1992 Chính phủ đã có một số cải cách trong việc điều chỉnh tỷ giá
( như buộc các doanh nghiệp có dola phải gửi vào ngân hàng , bãi bỏ hình thức quy
định tỷ giá theo nhóm hàng..) làm cho giá dola bắt đầu giảm ( cuối năm 1991 tỷ giá
VND/USD có lúc lên tới 14500 đến tháng 3/1992chỉ còn 11550 VND/USD và tiếp
tục giảm cho đến cuối năm 1992.
2.2.2. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993-1996.
Vào thời điểm cuối năm 1992 , do kết quả sự can thiệp của Ngân hàng Nhà
nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ đầu cơ
trong các doanh nghiệp được tung ra , hướng mạnh vào kinh doanh xuất nhập khẩu .
Động thời có một lượng ngoại tệ được chuyển về do người Việt Nam ở nước ngoài
gửi về cho người thân tăng lên khoảng 300-400 triệu USD làm cung ngoại tệ lớn hơn
cầu ngoại tệ và kéo theo tỷ giá VND/USD giảm mạnh. Lĩnh vực tài chính - tiền tệ bắt
đầu trở ngại. Bên cạnh đó, cùng với việc quản lý các đại lý thu đổi ngoại tệ còn lỏng
lẻo, sự chênh lệch lớn giữa TGHĐ ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen dẫn
đến việc các đại lý lợi dụng danh nghĩa của Nhà nước để buôn bán trục lợi, các ngân
hàng không thu mua được lượng ngoại tệ đáng kể qua nguồn này. Một mặt tình trạng
này làm hạn chế khả năng kiểm soát các luồng ngoại tệ lưu hành trong nước. Mặt
khác làm gia tăng các giao dịch trên thị trường chợ đen bất hợp pháp, tâm lý đầu cơ,
găm giữ ngoại tệ tăng mạnh.
- Việc ngân hàng Nhà nước khống chế chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán
là cứng nhắc. Điều này làm cho tỷ giá vận hành thoát ly hoàn toàn quan hệ cung cầu
và không khuyến khích các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại hoạt động
theo đúng quan hệ nội tại của nó và thực tế không ít các ngân hàng thương mại đã
phá rào. Cuối cùng sự vận động của tỷ giá trong giai đoạn này đã gợi nên một số
điểm cần lưu ý trong việc điều hành chính sách như sau:
* Trước tiên, những vận động của TGHĐ trong giai đoạn này cho thấy TGHĐ
của Việt Nam phá nhạy cảm trước những thay đổi của tình hình kinh tế từ bên ngoài
và yếu tố tâm lý, cán cân thương mại luôn là những yếu tố có trọng số lớn đối với sự
vận động của TGHĐ.
* Việc sử dụng các công cụ hành chính trong can thiệp vào tỷ giá là cần thiết

đơn vị kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi , mua bán ngoại tệ với nhau theo giá
tự thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để cung cầu thực sự gặp nhau . Sau đó, tiến
dần tới việc thành lập thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng tháng 9 năm 1994.
Tính đến cuối năm 1992, đầu năm 1993, những biện pháp can thiệp đã đem lại
một kết quả như mong đợi, nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được giải toả, những
đồng ngoại tệ đã được hướng mạnh và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Tình
hình cung - cầu ngoại tệ đã được cải thiện với cùng kỳ trong những năm trước đó,
Dola có xu hướng giảm giá. Mức tỷ giá trên thị trường chợ đen chỉ giao động trong
phạm vi từ 10200 đến 10400 đồng Việt Nam ăn 1 Đôla Mỹ. Thậm chí có lúc tỷ giá
tụt xuống ở mức 1USD = 9750VND. Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng tình hình này
phần lớn là nhờ vào lượng kiều hối vào nhiều (ước tính trong tháng 1 năm 1993, nhân
dịp tết nguyên đán, có trên 60.000 việt kiều về thăm quê đã đem theo một lượng
ngoại tệ khoảng 400 triệu Dola Mỹ). Dĩ nhiên không thể phủ nhận đóng góp của
lượng kiều hối này vào việc làm ra tăng cung ngoại tệ trên thị trường. Trên thực tế
cho thấy, lượng kiều hối này tăng giảm hoàn toàn không ổn định qua các năm và chỉ
tập trung vào những thời gian ngắn nhất định trong năm, trong khi tình hình cung -
cầu ngoại tệ và TGHĐ luôn được ổn định trong suốt thời gian dài từ năm 1993 đến
đầu năm 1997.
Mức tỷ giá trên thị trường chính thức cũng không có sự chênh lệnh nhiều so với
tỷ giá trên thị trường chợ đen, là minh chứng cho thấy, mặc dù có sự can thiệp mạnh
trở lại của nhà nước, nhưng tỷ giá vấn được xác định tương đối phù hợp với quy luật
của thị trường. Điều này có thể được chứng minh bằng thực tế là tỷ giá của các Ngân
hàng và tỷ giá trên thị trường chợ đen biến động tương đối sát gần nhau.
Một minh chứng nữa là tính từ năm 1993 đến 1996, tình hình giá cả đồng Dola
Mỹ trên thị trường tiền tệ quốc tế thường xuyên có sự biến động mạnh so với hàng
loạt các đồng tiền chủ chốt khác như: Yên Nhật. Mác Đức, NDT của Trung Quốc …
Trong khi đó, đồng Dollar Mỹ lại có sự ổn định trên thị trường Việt Nam, điều này
cho thấy biện pháp can thiệp của chính phủ mà đặc biệt là Ngân hàng nhà nước thật
sự phát huy tác dụng một cách mạnh mẽ. Trong bối cảnh nến kinh tế thế giới và thị
trường tiền tệ quốc tế đầy biến động mà nền kinh tế xã hội Việt Nam lại đạt được sự

trong suốt những năm 1993 đến 1995, hoàn toàn không có bất kỳ một điều chỉnh nào
trong chính sách tỷ giá hối đoái nhằm phản ánh hay đối phó tình hình này (điều này
phản ánh tính tự chủ trong chính sách tiền tệ nói chung và trong đó có chính sách tỷ
giá hối đoái nói riêng là chưa cao). Tỷ giá tính chế trực tiếp giữa NDT của Trung
Quốc và Việt Nam cũng như hoạt động buôn bán tiểu ngạch ở các tỉnh biên giới phía
bắc hầu như vẫn được "thả nổi".
2.2.3. Giai đoạn từ tháng 7 /1997 đến ngày 26/2/1999
Ngày 2/7/1997 Thái lan phải "thả nổi" TGHĐ kết thúc gần 14 năm duy trì một
chế độ cố định và cũng là ngày đánh dấu làm nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính Đông
nam á với một ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới. Việt nam cũng không
thể tránh khỏi cuộc khủng hoảng. Theo đánh giá chung của các nhà nghiên cứu cũng
như của các cơ quan thì cuộc khủng hoảng này hoàn toàn có ảnh hưởng ít nhiều đối
với nền kinh tế Việt Nam. Xét thêm góc độ vĩ mô, sự tác động của cuộc khủng hoảng
tài chính Đông nam á đối với nền kinh tế Việt Nam tạo nên một cơn sốc rộng khắp
thể hiện trên một số mặt sau:
Thứ nhất, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng
- Tạo sức ép giảm giá đồng Việt Nam trên thị trường ngoại tệ
- Tác động xấu đến hoạt động giao dịch ngoại tệ
- Tăng gánh nặng nợ cho các doanh nghiệp
- Gây sức ép đối với lãi suất đồng tiền Việt Nam và đe doạ sự mất ổn định
của hệ thống Ngân hàng.
-Tác động đến xuất khẩu: tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực
châu á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch, riêng các nước
ASIAN chiếm 23% tổng kim ngạch trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng nên cuộc
khủng hoảng tất yếu sẽ làm giảm xuất khẩu của Việt Nam.
- Tác động đến nhập khẩu: Sự mất giá của đồng tiền trong khu vực đã kích
thích gia tăng nhập khẩu, trước hết là nhập khẩu tiểu ngạch từ Thái lan và hàng trung
chuyển từ Campuchia, Lào và Việt Nam. Thực tế cho thấy, đến cuối năm 1997, hàng
loạt các báo đi đều lên tiếng về tình trạng nhập lậu hàng gia tăng mạnh ở các tỉnh
biên giới tây nam.

biên độ giao dịch từ 1% đến 5% vào ngày 27/2/2997 thì từ tháng 7/ 1997 đến đầu
năm 1999 có nhiều lần thay đổi với các mốc chính như sau:
Ngày 13/10/1997 thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định mở rộng biên độ
giao dịch nên mức 10%. Ngày 16/2/1998 Ngân hàng nhà nước quyết định nấng tỷ giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status