Thực trạng và giải pháp kiềm chế nhập siêu hàng hóa của Việt Nam trong thời gian tới - Pdf 59

Nghiên cứu khoa học
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Kinh tế Việt Nam trong vài năm trở lại đây đang có những bước chuyển
biến tích cực như tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân luôn ở mức cao so
với khu vực và thế giới, giai đoạn 1991 – 2009 là 7.56% , chỉ đứng sau
Trung Quốc và Ấn Độ; GDP bình quân đầu người tăng cao, bình quân
13,6% trong cùng kỳ từ năm 1991 – 2009 và được đánh dấu bởi cột mốc
năm 2008 khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp
sang nhóm nước có thu nhập trung bình.
Song song với những chuyển biến tích cực đó thì một thực trạng đáng
báo động trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam từ những thập niên 90 tới
nay là tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai xuất phát chủ yếu từ
thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia tăng. Nếu như xuất khẩu tăng
trưởng đều đặn mỗi năm (đặc biệt, xuất siêu vào năm 1992) nhờ xuất những
mặt hàng chủ lực như: nguyên vật liệu thô (dầu mỏ, than đá…), nông sản
(gạo, hạt điều, hạt tiêu…), thủy hải sản, hàng gia công mỹ nghệ… thì khi đề
cập vấn đề nhập khẩu ta sẽ thấy điều hoàn toàn trái ngược. Xét khía cạnh
kim ngạch và quy mô nhập khẩu thì tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân
giai đoạn 1991 - 2000 là 17,5%, giai đoạn 2001 – 2006 là 19%, giai đoạn
2007 – 2009 là 11% . Nhìn chung tăng trưởng nhập khẩu của nước ta không
ổn định qua các thời kỳ, thậm chí còn vượt xuất khẩu rất nhiều mặc dù đã
có sự can thiệp của Chính Phủ trong việc điều tiết thị trường, gia tăng tỷ
trọng các mặt hàng công nghiệp, đề ra các chính sách kích thích tăng trưởng
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu ... Tuy vậy,
các biện pháp đó vẫn chưa thực sự hiệu quả trong việc kiềm chế hiện tượng
nhập siêu quá nóng hiện nay.
1 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
Chỉ xét riêng thị trường trong nước, nhập siêu đã gây tác động không
nhỏ đến các doanh nghiệp trong nước khi chiếm lĩnh thị phần đầu vào và

ảnh hưởng đến nhập khẩu và kinh nghiệm của các quốc gia đã kiềm chế
được tình trạng nhập siêu. Từ đó đề suất các giải pháp kiềm chế nhập siêu
cho Chính phủ trong giai đoạn sau 2010.
5.Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ
thống hóa, thống kê, tổng hợp, so sánh dẫn giải, phân tích…
6.Kết cấu của đề tài.
Kết cấu đề tài gồm ba chương chính, bao gồm:
Chương I: Khái lược về nhập siêu, dự báo nhập siêu của Việt Nam
trong thời gian tới và kinh nghiệm của một số nước về giải quyết vấn đề
nhập siêu.
Chương II: Thực trạng vấn đề nhập siêu của Việt Nam trong thời
gian qua.
Chương III: Các biện pháp kiềm chế nhập siêu của Việt Nam trong
thời gian tới.
3 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
CHƯƠNG I
KHÁI LƯỢC VỀ NHẬP SIÊU, THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN
NHÂN NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
I. KHÁI NIỆM VỀ NHẬP SIÊU, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬP
SIÊU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬP SIÊU ĐỐI VỚI NỀN KINH
TẾ.
1. Khái niệm, đặc điểm và các quan niệm về nhập siêu.
1.1. Khái niệm nhập siêu.
Nhập siêu là khoản thiếu hụt của giá trị xuất khẩu hàng hoá so với giá trị
nhập khẩu hàng hoá của một nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường
tính theo năm). Nói cách khác, nhập siêu là khoản thiếu hụt cán cân thanh toán
thương mại hàng hoá của một nền kinh tế trong quan hệ trao đổi hàng hoá với
phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian xác định (thường là một

những người không cư trú (đối với các giao dịch không đòi hỏi thanh toán như
quà tặng và các di chuyển đơn phương khác về tiền giữa những người cư trú và
những người không cư trú cũng được đưa vào CCTTQT). Người cư trú được
hiểu là những thể nhân hoặc pháp nhân cư trú đang ở quốc gia được xét lâu hơn
một năm, không phụ thuộc vào quốc tịch của họ (các nhà ngoại giao, các chuyên
gia quân sự ở bên ngoài lãnh thổ của họ cũng như các tổ chức quốc tế không
phải là người cư trú của nơi họ làm việc). Theo IMF, CCTTQT gồm hai tài
khoản chính là cán cân thanh toán vãng lai (gọi tắt là tài khoản vãng lai) và cán
cân tài khoản vốn.
5 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
I.2. Đặc điểm của nhập siêu
- Đặc điểm về qui mô, mức độ nhập siêu.
Qui mô nhập siêu của nền kinh tế được xác định bằng giá trị đo
bằng ngoại tệ chuyển đổi sau khi thực hiện phép trừ đại số của tổng giá trị
XK hàng hoá với tổng giá trị NK hàng hoá trong một giai đoạn nhất định
(thường là một năm). Ví dụ, đối với trường hợp Việt Nam, qui mô nhập
siêu được tính bằng Đô la Mỹ. Mức độ nhập siêu của nền kinh tế được
xác định bằng quan hệ tỷ lệ phần trăm (%) giữa giá trị nhập siêu tính bằng
ngoại tệ (đôla Mỹ) với tổng giá trị (hay kim ngạch) XK hàng hoá tính
bằng ngoại tệ chuyển đổi (đôla Mỹ) trong cùng một giai đoạn (thường là
một năm).
- Đặc điểm về các dạng thái của nhập siêu.
Nếu theo mục đích, nhập siêu của các nền kinh tế thường ở 4 dạng thái chủ yếu
sau:
Nhập siêu để tăng trưởng (là dạng thái tích cực của nhập siêu): Đây là
trường hợp do đầu tư phát triển nhanh, đòi hỏi phải tăng nhanh nhập khẩu để
đáp ứng nhu cầu “đầu vào” của sản xuất nhưng năng lực sản xuất trong nước
đang trong quá trình hấp thụ đầu tư chưa kịp chuyển hoá thành năng lực XK của
nền kinh tế trong ngắn hạn, nên XK chưa tăng trưởng kịp tốc độ của NK, dẫn

khẩu cũng tăng theo, hiện tượng nhập siêu xuất hiện là tín hiệu tích cực vì nó lại
có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng, tăng năng lực sản xuất hàng XK, khi đó nhập
siêu cao lại là tiền đề tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo của
nền kinh tế.
Nhập siêu lợi thế so sánh: Đây là dạng thái nhập siêu xảy ra trong
trường hợp một nước nào đó có lợi thế so sánh phát triển XK một số ngành sản
phẩm (hàng hoá và dịch vụ) nên chỉ tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu
các ngành đó; do đó phải tăng nhập khẩu các ngành sản phẩm kém lợi thế hơn
7 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
để đáp ứng nhu cầu trong nước nên cán cân thương mại hàng hoá bị thâm hụt,
nhưng nước này lại có thể đạt thặng dư cán cân dịch vụ để bù đắp mà vẫn đạt
mục tiêu hiệu quả chung của nền kinh tế.
- Đặc điểm về cơ cấu nhập siêu:
+ Cơ cấu nhóm hàng, ngành hàng, mặt hàng được phân nhóm như sau:
Từ góc độ can thiệp của Nhà nước nhằm quản lý, điều tiết hoạt
động nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu gồm 3 nhóm lớn: 1) nhóm
mặt hàng cần thiết nhập khẩu; 2) nhóm mặt hàng cần kiểm soát nhập
khẩu; 3) nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu.
Theo dây chuyền (chu trình) phát triển giữa nhập khẩu và xuất khẩu
và cân đối nhập – xuất theo từng ngành sản phẩm xuất khẩu chủ lực của
nền kinh tế; ví dụ: ngành hàng sản phẩm hoá dầu, ngành sản phẩm thông
tin, ngành sản phẩm cà phê … và/hoặc theo các ngành công nghiệp ưu
tiên, công nghiệp mũi nhọn được xác định tại quyết định số 55/2007/QĐ-
TTG ngày 23/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo mục đích sử dụng hàng nhập khẩu, gồm: các mặt hàng đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của sản xuất (vật tư, máy móc thiết bị,…); và các
mặt hàng tiêu dùng của dân cư.
Theo thông kê hàng hoá nhập khẩu: theo danh mục thống kê.
Theo tính chất của sản phẩm, gồm: sản phẩm hoàn chỉnh, bán thành

lãi nhập khẩu, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu công nghệ, điều chỉnh
tỷ giá và lãi suất … Trong thời kỳ này, có hai trường phái kinh tế ảnh
hưởng mạnh đến các nước trong việc hình thành quan niệm về nhập
siêu và giải quyết vấn đề nhập siêu.
9 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
Trường phái kinh tế tân cổ điển cho rằng, đường lối công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu được hầu hết các nước đang phát triển thực hiện
cho đến đầu những năm 70 đã tạo ra những bất hợp lý và ảnh hưởng xấu
đến cơ cấu thương mại nói riêng, cán cân thanh toán vãng lại nói chung.
Họ cho rằng, có 4 nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu và thâm hụt cán
cân thanh toán vãng lai của các nước là: (1) Mức bảo hộ quá cao kết hợp
với cơ cấu bảo hộ bất hợp lý (chủ yếu bảo hộ hàng công nghiệp tiêu
dùng) đã làm cho giá cả trong nước cao hơn giá trên thị trường quốc tế
nên không khuyến khích các nhà sản xuất đẩy mạnh XK mà ngược lại,
các nhà sản xuất được khuyến khích việc nhập khẩu các nguyên liệu và
máy móc để sản xuất các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng, do đó nhu cầu
về chi tiêu ngoại tệ có thể vượt quá khả năng cung ứng. (2) Việc duy trì
tỷ giá và lãi suất thấp trong một thời gian dài đã không phản ánh đúng giá
của tiền tế và tiền vốn nên một mặt làm thui chột khả năng cạnh tranh và
xuất khẩu; mặt khác, khuyến khích nhập khẩu và các nhà doanh nghiệp
xây nhà máy với qui mô lớn, sử dụng nhiều vốn trái với lợi thế so sánh
của các Nhà nước đang phát triển, cùng với hiện tượng sử dụng năng lực
sản xuất không hết công suất cũng trở nên phổ biến. (3) Qui mô của khu
vực kinh tế Nhà nước nhanh chóng mở rộng vượt ngoài khả năng chi tiêu
của Nhà nước, một phần không nhỏ chi tiêu của Nhà nước đã phải dựa
vào phần vốn vay của nước ngoài với lãi suất cao, các doanh nghiệp Nhà
nước phải gánh chịu phần chủ yếu nợ nước ngoài nhưng lại hoạt động
kém hiệu quả làm cho khả năng trả nợ xấu thêm, gây ảnh hưởng xấu tới
thâm hụt cán cân thanh toán. (4) Chính sách tiền tệ lỏng lẻo trở thành

đầu tư… sẽ không mang lại kết quả mong muốn, hoặc cần một thời gian
khá dài. (3) Điều kiện thương mại quốc tế và cạnh tranh thương mại toàn
11 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
cầu ảnh hưởng bất lợi đối với các nước đang phát triển (cánh kéo giá cả
nông sản và sản phẩm thô với hàng công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật
cao có xu hướng xoạc rộng; giá cả xuất khẩu hàng nông sản và nguyên
lieu thô giảm tương đối…) đã làm cho cầu về những mặt hàng XK của
các nước đang phát triển giảm xuống. Điều đó không chỉ làm giảm giá
mà còn làm giảm tương đối khối lượng sản phẩm XK từ các nước đang
phát triển. Do thuế nhập khẩu chiếm một vị trí quan trọng trong tổng thu
về thuế của ngân sách Nhà nước các nước đang phát triển nên giảm nhập
khẩu để thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại có thể sẽ làm giảm thu
ngân sách và cũng có thể làm giảm sản xuất trong nước, từ đó ảnh hưởng
xấu đến nguồn thu ngân sách Nhà nước. (4) Trong cơ cấu kinh tế của các
nước đang phát triển, hàm lượng nhập khẩu của các mặt hàng xuất khẩu
thường khá lớn. Do đó, giảm nhập khẩu cũng có thể làm giảm cả kim
ngạch xuất khẩu của nước đó.
Như vậy, theo các nhà kinh tế cơ cấu thì khả năng tăng xuất khẩu ở
các nước đang phát triển không thể tăng lên một cách nhanh chóng, và
phụ thuộc vào cả khả năng nhập khẩu. Mặt khác, nếu giảm nhập khẩu để
cải thiện cán cân thương mại lại làm tăng thâm hụt ngân sách và giảm
kim ngạch xuất khẩu; hậu quả của nó không chỉ làm trầm trọng thêm
thâm hụt cán cân thanh toán mà còn giảm cả nhịp độ tăng trưởng kinh tế,
tăng thêm thất nghiệp. Do đó, phương thức cơ bản để cải thiện cán cân
thanh toán, giảm nhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả, cơ bản cải thiện
cán cân thanh toán, giảm nhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả, là điều
kiện cho sự phát triển lâu dài của các nước đang phát triển. Đầu tư có
hiệu quả để thay đổi căn bản lợi thế so sánh là một trong những điều kiện
tiên quyết để giải quyết vấn đề nhập siêu, thâm hụt cán cân thanh toán

trường thế giới. Do tính giới hạn đó của nền kinh tế nên qui mô XK nhỏ, không
13 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
có khả năng tăng trưởng nhanh, không thể cân đối được cán cân thương mại và
xảy ra nhập siêu có tính dài hạn.
(5) Đầu tư là một trong những nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến cán cân
thương mại, ảnh hưởng đến nhập siêu. Khi đầu tư phát triển sản xuất tăng cao
(cả đầu tư trong nước và đầu tư của nước ngoài vào trong nước) làm tăng nhu
cầu sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất nên nhập khẩu tăng nhanh trong khi
năng lực XK chưa tăng kịp so với NK, dẫn đến nhập siêu.
(6) Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước: Thu nhập quốc dân tỷ lệ
thuận với thu nhập trong nước, do đó cán cân thương mại tỷ lệ nghịch với thu
nhập trong nước. Trong khi đó, thu nhập nước ngoài và cán cân thương mại tỷ lệ
thuận với nhau do thu nhập nước ngoài tăng sẽ khuyến khích XK. Thu nhập
trong nước và giá hàng hoá nhập khẩu là những nhân tố quyết định đối với cầu
nhập khẩu của một nền kinh tế.
(7) Lạm phát: Ảnh hưởng của lạm phát đối với cân cân thương mại thể
hiện qua cơ chế giá. Lạm phát tăng làm hàng hoá sản xuất trong nước đắt hơn so
với hàng nhập khẩu, từ đó khuyến khích nhập khẩu. Lạm phát tăng cũng quan hệ
đến giá cả đầu vào của hàng hoá sản xuất tạo nguồn hàng XK, làm giá thành
hàng hoá XK cao hơn trước, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá. Như thế, với sự
ảnh hưởng của lạm phát, nhập khẩu tăng, xuất khẩu giảm sẽ khiến cho cán cân
thương mại xấu đi, nhập siêu có thể tăng cao trong điều kiện lạm phát.
(8) Cán cân ngân sách của Chính phủ: Động thái cán cân ngân sách của
Chính phủ có ảnh hưởng nhất định đến cán cân thương mại. Theo quan niệm
truyền thống, thâm hụt ngân sách là một nguyên nhân chính gây nên thâm hụt
cán cân thương mại. Và do đó, trong trường hợp nền kinh tế đang nhập siêu thì
sự thâm hụt ngân sách sẽ tác động đồng biến, làm cho nhập siêu có thể trầm
trọng hơn. Vì thế, để giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại thì cần phải
giảm thâm hụt ngân sách với việc tăng thuế. Khi thực hiện chính sách như vậy

hàng hoá nước ngoài, trong khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng sẽ làm cán cân
15 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
thương mại bị thâm hụt thêm hoặc giảm bớt thặng du nếu có. Do đó việc xây
dựng cơ sở hạ tầng vất chất cũng như phát triển nguồn tài nguyên nhân lực vừa
đề cập ở trên cũng là yếu tố thiết yếu có tác động tốt đến cán cân thương mại.
2.1.2. Nhóm nhân tố có tính khác quan (bên ngoài) ảnh hưởng đến nhập
siêu:
(1)Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu
Giá cả luôn là một nhân tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị
trường đối với một loại hàng hoá.
Khi giá hàng hoá sản xuất trong nước của một quốc gia thấp hơn giá thế giới
thì quốc giá đó có tính cạnh tranh tương đối về giá với các quốc gia khác, và do
đó sẽ khuyến khích hoạt động xuất khẩu. Ngược lại, khi giá hàng hoá trong nước
cao hơn giá thế giới thì có thể làm cho hàng hoá nước ngoài tràn vào thị trường
trong nước, dẫn đến nhập siêu.
Như vậy có thể thấy, giá hàng hoá NK tăng làm xấu đi cán cân thương mại
thông qua hiệu ứng giá làm tăng NK và làm giảm tiết kiệm quốc dân.
(2)Hiệp ước thương mại song phương và đa phương:
Những hiệp ước thương mại ký kết giữa hai quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp
lên cán cân thương mại; tuy nhiên vấn đề cán cân thương mại của mỗi quốc gia
sẽ thặng dư hay thâm hụt hoàn toàn tuỳ thuộc vào cơ cấu kinh tế và khả năng
sản xuất của quốc gia đó dựa trên nguồn tài nguyên thìên nhiên và con người
cũng như trình độ phát triển khoa học kỹ thuật.
(3)Hợp đồng thương mại quốc tế:
Các doanh nghiệp trong nước có thể ký những hợp đồng thương mại quốc tế
với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc mua bán hàng tiêu dùng cũng như
những phương tiện cần thiết trong sản xuất kinh doanh. Các hợp đồng này cũng
16 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học

cấu vốn đầu tư cũng ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thương mại. Chẳng hạn,
việc xem nhẹ đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ làm tăng NK, nguyên nhiên,
phụ liệu đã làm giảm khả năng cạnh tranh hàng XK, hạn chế thu hút vốn đầu tư
nước ngoài. Hiệu quả kinh tế thấp của các dự án đầu tư sẽ làm suy yếu khả năng
cạnh tranh XK và thay thế NK do có mức chi phí cao hơn mức quốc tế. Điều này
gây cản trở cho việc cải thiện cán cân thương mại và trong trường hợp cụ thể có
thể những dự án đầu tư không hiệu quả sẽ trở thành gánh nặng cho nền kinh tế,
đặc biệt là trong dài hạn.
(3)Chính sách thương mại:
Chính sách thương mại thường ít ảnh hưởng lên sự thâm hụt cán cân thương
mại vì nó không tác dụng trực tiếp đến nguồn tiết kiệm và đầu tư trong nước.
Tuy vậy, cho dù rào cản thương mại được áp dụng một cách triệt để giới hạn
mọi hàng hoá NK để không còn sự thâm hụt cán cân thương mại, nhưng sự
ngừng giảm NK hay xuất khẩu sẽ làm tê liệt mọi hoạt động kinh tế và gây nên
sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống kinh tế của một quốc gia.
Điều tiết cán cân thương mại có liên quan chặt chẽ tới khuyến khích xuất
khẩu và quản lý NK. Trong điều kiện thâm hụt cán cân thương mại, chính sách
của các nước thường là khuyến khích xuất khẩu và hạn chế NK. Tuy nhiên, thực
tế cho thấy, hạn chế NK không phải là giải pháp hiệu quả điều chỉnh cán cân
thương mại. Nhập khẩu cạnh tranh là biện pháp hiệu quả nhất để điều tiết cán
cân thương mại trong dài hạn.
Về cơ bản, chính sách thương mại của các nước được chia làm hai loại chính:
chính sách bảo hoọ thương mại và chính sách tự do thương mại. Chính sách bảo
hộ thương mại là chính sách bảo hộ sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của
hàng hoá nước ngoài bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu hoặc hạn chế số
18 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
lượng hàng hoá và dịch vụ được phép NK. Mục đích của thuế nhập khẩu và hạn
ngạch nhập khẩu là chuyển dịch chi tiêu trong nước từ hàng nhập khẩu vào.
Nhập siêu cao thường dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai, đe doạ tới cán cân

của 1 số nước về giải quyết vấn đề nhập siêu.
1. Dự báo nhập của Việt Nam với một số đối tác thương mại song phương
1.1. Việt Nam – Trung Quốc:
Xét theo cơ cấu nhập khẩu hiện tại, ba nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang
nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc là máy móc thiết bị, sắt thép; vải sợi và
nguyên phụ liệu dệt may da. Trong tương lai nhu cầu trong nước đối với ba
nhóm mặt hàng này vẫn sẽ tiếp tục tăng lên trong khi sản xuất trong nước chưa
thể đáp ứng được toàn bộ nhu cầu. Do đó, nhập khẩu từ những nhóm mặt hàng
này từ Trung Quốc sẽ còn tiếp tục tăng.
Việc các dự án lớn trong lĩnh vực lọc hoá dầu, sản xuất hoá chất, chất dẻo
nguyên liệu và sắt thép đang được triển khai thực hiện cho thấy có khả năng
trong tương lại tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ Trung Quốc sẽ
chậm lại, thậm chí đối với một số mặt hàng có thể sẽ giảm bớt do sản xuất trong
nước đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước.
Động lực chính tăng xuất khẩu đối với thị trường Trung Quốc trong tương
lai nhiều khả năng sẽ là nhóm hàng sản phẩm điện tử và linh kiện khi các nhà
máy sản xuất linh kiện điện tử của các tập đoàn đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam
đi vào hoạt động. Các mặt hàng nông sản cũng sẽ tiếp tục đóng góp một phần
cho tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc, mặc dù tăng trưởng xuất khẩu của
những mặt hàng này có khả năng sẽ không thể tạo được sự đột phá trong xuất
khẩu của ta sang Trung Quốc.
1.2. Việt Nam – Hàn Quốc:
20 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
Tính đến hết năm 2010, Hàn Quốc có tổng số 2.605 dự án còn hiệu lực,
với tổng vốn đầu tư đăng ký 23 tỷ USD, đứng đầu cả về số dự án và vốn đăng
ký trong tổng số 88 các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam. Các dự án đầu tư của Hàn Quốc tiếp tục được triển khai, nhập
khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ từ Hàn Quốc cho các dự án
đàu tư này có khả năng sẽ còn tiếp tục tăng lên. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục thực

phẩm điện tử và linh kiện còn lớn. Mức độ tăng kim ngạch xuất khẩu của những
mặt hàng trong nhóm này sẽ phụ thuộc nhiều vào đầu tư của các công ty nước
ngoài, đặc biệt là của các công ty Hàn Quốc, trong các lĩnh vực này tại Việt
Nam.
1.3. Việt Nam – Đài Loan:
Việt Nam đang nhập khẩu một khối lượng lớn xăng dầu từ Đài Loan.
Nhập khẩu xăng dầu đến cuối năm 2010 đạt 109,5 triệu USD, chiếm 1,6% trong
tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan. Do đó, khi các nhà máy
lọc dầu của Việt Nam lần lượt đi vào hoạt động, nhiều khả năng nhập khẩu xăng
dầu từ Đài Loan sẽ giảm, dẫn đến tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu của
Việt Nam từ Đài Loan sẽ chậm lại.
Mặc dù vậy, do Đài Loan vẫn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài
lớn tại Việt Nam nên nhập khẩu các mặt hàng tư liệu sản xuất từ Đài Loan như
máy móc thiết bị phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may da, chất dẻo nguyên liệu,
phôi thép, sản phẩm điện tử… sẽ vẫn tiếp tục tăng.
1.4. Việt Nam – Hồng Kong:
Với vai trò là một thị trường chuyển tải, xuất khẩu sang Hồng Kông trong
giai đoạn tới sẽ khó có khả năng tăng mạnh vì nhiều mặt hàng của Việt Nam đã
xuất khẩu trực tiếp đi các thị trường khác. Trong khi đó, nhập khẩu sản phẩm
điện tử, máy móc thiết bị phụ tùng và nguyên phụ liệu dệt may da từ Hồng Kông
22 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
sẽ tiếp tục tăng mạnh để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước, đặc biệt là của
các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
Do đó, nhập siêu từ Hồng Kông sẽ còn tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên, tốc độ tăng
của nhập siêu có thể không cao do dần dần các ngành công nghiệp của Việt Nam
sẽ đáp ứng được một phần cầu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước.
1.5. Việt Nam – Singapore:
Singapore đang là nguồn cung cấp xăng dầu lớn nhất của Việt Nam với
hơn một nửa lượng xăng dầu nhập khẩu của Việt Nam là từ Singapore. Sauk hi

thành và đi vào hoạt động sẽ giải quyết được một phần nhu cầu nhập khẩu phục
vụ sản xuất trong nước. Do đó, tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ
Thái Lan sẽ không còn cao như trong giai đoạn vừa qua.
1.7. Việt Nam – Indonesia:
Trong số hai mặt hàng xuất khẩu lớn nhất từ Indonesia là gạo và dầu thô,
xuất khẩu gạo có khả năng duy trì về khối lượng và tăng về giá trị do giai đoạn
tới sản lượng lương thực của Indonesia vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của
người dân, đồng thời tình trạng thiếu lương thực trên thế giới sẽ giữ giá gạo ở
mức cao. Xuất khẩu dầu thô có khả năng giảm vì dầu thô xuất khẩu được chuyển
sang cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước.
Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Indonesia trong giai đoạn trước
mắt có thể sẽ không thay đổi nhiều. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu
lớn từ Indonesi sẽ là sản phẩm điện tử và linh kiện, linh kiện ôtô, máy móc thiết
bị phụ tùng, sắt thép, chất dẻo nguyên liệu, cao su định chuẩn kỹ thuật và hạt
điều nguyên liệu. Là một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn, lại có vị trí địa lý gần với
Việt Nam, có thể trong tương lai xa Việt Nam sẽ nhập khẩu dầu mỏ từ
Indonesia.
24 Lớp QTDN.A/K11
Nghiên cứu khoa học
1.8. Việt Nam – Ấn Độ:
Dự đoán kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Ấn Độ chủ yếu là các mặt hàng
hạt tiêu, quế, sắt thép, sản phẩm điện tử và linh kiện, hàng thủ công mỹ nghệ,
giày dép … Kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam sang Ấn Độ có thể đạt
khoảng 0,9 - 1,0 tỷ USD vào năm 2015.
Trong giai đoạn 2011-2-15, mức tăng nhập khẩu từ Ấn Độ dự kiến sẽ đạt
nhịp độ bình quân trên 20%/năm do sản xuất trong nước đạt những tiến bộ nhất
định nhờ vào hàng loạt các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng câo năng suất và
các dự án đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ
trợ, thép, hóa chất … Riêng các mặt hàng tân dược, đây là mặt hàng thế mạnh
của Ấn Độ mà không chỉ Việt Nam chịu nhập siêu mà nhiều nước trên thế giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status