Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đầu tư phát triển tại
Tổng công ty Hàng hải Việt Nam giai đoạn 2002 2006.
I) Định hướng phát triển tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam giai
đoạn 2007 – 2020.
1. Đầu tư phát triển đội tàu.
1.1. Định hướng đầu tư phát triển.
- Về công nghệ:
Tổng công ty Hàng hải Việt Nam hướng vào đầu tư các tàu có tính năng
khai thác hiện đại, thoả mãn lâu dài các yêu cầu của các công ước quốc tế, có cơ
cấu phù hợp về độ tuổi và chủng loại nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu vận
chuyển từ những mặt hàng có giá trị thấp, yêu cầu bảo quản không cao như
than, xi măng, clinker, cát đến những mặt hàng có giá trị và yêu cầu bảo quản
cao như dầu, gạo, hàng đóng gói trong container.
- Về phương thức đầu tư:
Kết hợp hài hoà giữa đóng mới để trẻ hoá đội tàu và mua tàu đã sử dụng để
bổ sung ngay năng lực vận chuyển nhằm đảm bảo cơ cấu độ tuổi hợp lý, các tàu
trên 15 tuổi chiếm khoảng 40% như tỉ lệ của đội tàu thế giới, tập trung đầu tư
tăng tỉ lệ các loại tàu container sức chở 1000 – 3000 Teus, tàu chở dầu sản
phẩm, dầu thô trọng tải từ 15.000 DWT, 30.000 DWT đến 100.000 DWT và tàu
chở hàng rời cỡ lớn trên 20.000 DWT, tiếp tục định hướng tăng trọng tải bình
quân các tàu đầu tư theo xu hướng chung của thế giới, căn cứ vào nhu cầu cụ
thể của nền kinh tế để đầu tư các loại tàu chở hàng có bánh lăn, tàu chở gas, tàu
hoá chất, tàu khách, tàu du lịch…
Sử dụng cỡ tàu và loại tàu phù hợp với loại hàng, cự ly, khối lượng vận
chuyển trên từng tuyến vận tải:
+ Hàng rời, hàng bách hoá vận chuyển nội địa sử dụng tàu trọng tải đến
7000 DWT, đi các nước châu Á chủ yếu dùng tàu trọng tải 15.000 – 20.000
DWT, đi Bắc Mỹ, châu Âu, châu Phi sử dụng tàu 30.000 – 50.000 DWT.
+ Hàng container tuyến nội địa sử dụng tàu cỡ 500 – 1000 Tues, đi các
nước châu Á chủ yếu dùng tàu sức chở 1000 – 3000 Tues, đi Bắc Mỹ, châu Phi
sử dụng cỡ lớn, tối thiểu từ 4000 – 6000 Tues.
là 2 tàu với tổng trọng tải là 140.000 DWT.
+ Mua tàu từ nước ngoài (bao gồm cả tàu đóng mới và đang sử dụng) 45
tàu, tổng trọng tải 1.220.000 DWT, tổng số vốn đầu tư 17.800 tỷ đồng, trong đó
tàu hàng khô, hàng rời cỡ lớn là 25 tàu (với tổng trọng tải là 540.000 DWT), tàu
container dưới 2000 Tues là 8 tàu, từ 2000 – 3000 Tues là 4 tàu (với tổng trọng
tải là 280.000 DWT), tàu chở dầu thô đến 100.000 DWT là 2 tàu, dầu sản phẩm
dưới 30.000 DWT là 2 tàu, từ 30.000 DWT – 60.000 DWT là 4 tàu (với tổng
trọng tải là 400.000 DWT).
+ Tổng số đầu tư trong cả giai đoạn 73 tàu, tổng trọng tải 1.850.000 DWT,
tổng số vốn đầu tư 29.000 tỷ đồng.
- Số tàu già bán đi trong giai đoạn 2007 – 2010 là 62 tàu, với tổng trọng tải
761.000 DWT.
- Qui mô đội tàu đến năm 2010: số lượng tàu 136 chiếc, tổng trọng tải
2.600.000 DWT, tàu hàng khô chiếm 66% (106 tàu), tàu container và tàu dầu
chiếm 34% (21 tàu container, 9 tàu dầu và các loại tàu khác), độ tuổi bình quân
16 tuổi.
1.3. Kế hoạch đầu tư năm 2007.
- Về đóng mới: tiếp tục thực hiện các tàu còn lại trong chương trình đóng
mới 32 tàu biển trong nước, tập trung thiết kế tổng thể cho cả chương trình đóng
mới giai đoạn 2007 – 2010, phân giao kế hoạch cho các doanh nghiệp và ký hợp
đồng nguyên tắc với Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
- Về kế hoạch mua tàu đang khai thác: dự kiến mua 16 tàu (gồm 11 tàu
hàng khô, 4 tàu container, và 1 tàu chở dầu sản phẩm), tổng trọng tải 325.000
DWT, với tổng vốn đầu tư 312 triệu USD, tương đương 4.988 tỷ đồng.
1.4. Định hướng đầu tư phát triển giai đoạn 2010 – 2020.
Tiếp tục đầu tư để đội tàu có cơ cấu hợp lý như đội tàu thế giới, độ tuổi
bình quân từ 12 – 13 tuổi, các loại tàu container, tàu chở dầu chiếm 50% tổng
trọng tải đội tàu của Tổng công ty. Tập trung đầu tư các loại tàu container có
sức chở lớn từ 6.000 – 12.000 Tues, tàu chở dầu sản phẩm trọng tải từ 60.000
DWT – 100.000 DWT, tàu dầu thô trọng tải trên 150.000 DWT và tàu chở hàng
duy trì vai trò quan trọng trong hệ thống cảng biển quốc gia: Tổng công ty sẽ
tiếp tục đầu tư phát triển các bến mới tại các cảng Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà
Nẵng, Sài Gòn theo định hướng tiến dần ra biển để giảm chi phí vận hành, khai
thác, đồng thời đáp ứng được xu thế phát triển của đội tàu biển thế giới ngày
càng có trọng tải lớn hơn. Tập trung đầu tư đồng bộ các bến container chuyên
dùng, đầu tư trang thiết bị, bố trí, sắp xếp lại dây chuyền sản xuất để nâng cao
tính chuyên môn hoá theo các mặt hàng cho hệ thống cầu bến sẵn có của các
cảng. Có những bước chuẩn bị trước về đội ngũ cán bộ, trang thiết bị bốc xếp để
tham gia khai thác các cơ sở hạ tầng cảng biển do Nhà nước đầu tư.
- Về khoa học công nghệ:
Đầu tư các trang thiết bị bốc xếp hiện đại như hệ thống các cần cẩu giàn
bốc xếp container, áp dụng công nghệ thông tin cho việc quản lý khai thác cảng,
đặc biệt là đầu tư hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI nối mạng với chủ hàng
chủ tàu, và cơ quan hải quan để nâng cao hiệu quả quản lý khai thác đồng thời
giảm chi phí.
- Về mô hình tổ chức:
Nhằm tạo sự linh hoạt và chủ động trong việc quản lý, khai thác, huy động
vốn liên doanh, liên kết, vốn cổ phần cho đầu tư phát triển, cả 4 cảng Hải
Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Sài Gòn sẽ được chuyển đổi sang mô hình công
ty Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên 100% vốn Nhà nước, hoạt động theo mô
hình công ty mẹ - công ty con.
- Về hợp tác quốc tế:
Tiếp tục liên doanh, liên kết với các hãng tàu, nhà khai thác, đầu tư cảng
biển cả ở trong và ngoài nước để cũng thực hiện các dự án đầu tư phát triển
cảng nhằm mục đích đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư, tiếp thu những công nghệ
quản lý khai thác cảng hiện đại của thế giới, tạo nguồn hàng ổn định cho các
cảng khi đi vào hoạt động, đồng thời tạo cơ sở cho việc cùng đầu tư phát triển
cảng trung chuyển quốc tế Văn Phong.
2.2. Kế hoạch đầu tư giai đoạn 2007 – 2010.
Thực hiện hiện đại hoá công nghệ bốc xếp để năng lực thông qua cảng
đầu tư tiếp 6 bến với chiều dài 2.400 m. Tại miền Trung, sẽ tập trung phát triển
cảng trung chuyển quốc tế Văn Phong – Khánh Hoà có khả năng tiếp nhận các
tàu trọng tải 150.000 – 200.000 DWT, tàu container 10.000 – 12.000 Tues, giai
đoạn đến năm 2015 đầu tư 2 bến với chiều dài 600 m, giai đoạn 2015 – 2020
đầu tư tiếp 6 bến với chiều dài 2.400 m. Tại miền Nam, đến năm 2012 sẽ hoàn
chỉnh chương trình di dời chuyển đổi công năng cảng Sài Gòn ra khu vực Cái
Mép, Thị Vải – Bà Rịa, Vũng Tàu.
3. Dịch vụ hàng hải và đa dạng ngành nghề kinh doanh.
3.1. Dịch vụ hàng hải.
Với đặc điểm là ngành hỗ trợ cho hoạt động vận tải biển và cảng biển,
đồng thời là ngành có tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư cao, nên phát triển hệ
thống dịch vụ hàng hải là một trọng tâm trong chiến lược phát triển của Tổng
công ty Hàng hải Việt Nam. Khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp phải đối mặt
với cạnh tranh gay gắt hơn tại thị trường nội địa, nhưng mặt khác các doanh
nghiệp cũng có những thời cơ cùng với sự tăng trưởng của hàng hoá xuất nhập
khẩu để mở rộng thị trường ra các nước trong khu vực và thế giới. Đứng trước
những thời cơ và thách thức này đòi hỏi phải có sự tập trung đầu tư cả về cơ sở
vật chất, đội ngũ trợ tích cực hoạt động vận tải biển và khai thác cảng biển.
Những định hướng, đầu tư phát triển như sau:
- Đầu tư đồng bộ các phương tiện vận tải thuỷ bộ, hệ thống kho bãi, cảng
cạn, các trung tâm phân phối hàng hoá gắn liền với các khu công nghiệp tại các
vùng kinh tế trọng điểm đất nước. Nhằm tạo sự kết nối đồng bộ và hiệu quả
giữa các công đoạn trong quá trình vận chuyển từ vận tải biển, cảng biển, vận
tải và bảo quản trong nội địa cho đến khi giao cho khách hàng.
- Xác định hoạt động logistic là hoạt động trọng tâm, bao trùm. Xây dựng
và hình thành mạng lưới cung cấp dịch vụ hàng hải toàn cầu thông qua việc liên
kết với các đối tác nước ngoài, thành lập một số công ty dịch vụ tại các nước
trung khu vực như Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Thái Lan,…mở các đại
diện thương mại tại các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam như
Nhật, EU, Mỹ, nhằm chia sẻ thị trường dịch vụ thế giới và tìm kiếm các cơ hội
tải đa phương thức và logisic; mở rộng, đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất
vật tư, thiết bị chuyên ngành như nhà máy sản xuất sơn chuyên dùng cho ngành
hàng hải và tiến tới sản xuất, kinh doanh các loại sơn dân dụng, nhà máy sản
xuất container để phục vụ cho nhu cầu ứng dụng phương thức vận chuyển hàng
hoá chuyên dụng bằng container có xu hướng ngày càng tăng…; Thành lập
công ty du lịch hàng hải quốc tế để cung cấp dịch vụ du lịch biển trong và ngoài
nước kết hợp với hệ thống khách sạn hàng hải và đội tàu khách của Tổng công
ty.
Bảng 19: Nhu cầu vốn đầu tư của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam giai
đoạn 2007 – 2010.
Chỉ tiêu Tổng vốn
đầu tư
vốn
ngân
Vay quĩ hỗ
trợ phát
Nguồn
khác
sách triển
Tổng nhu cầu vốn đầu tư 47,500 1,450 11,000 35,050
1. Các dự án đóng mới
chuyển tiếp từ 2006
4,700 3,200 1,500
2. Dự án đầu tư đội tàu, trong
đó:
29,000 7,800 21,200
- Mua tàu đang khai thác 17,800 17,800
- Đóng mới 11,200 7,800 3,400
3. Các dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng cảng biển