Những vấn đề chung về hoạt động của Công ty chứng khoán - Pdf 74

Những vấn đề chung về hoạt động của Công ty
chứng khoán
1.1. KHáI QUáT Về CTCK
1.1.1. Sự hình thành CTCK
TTCK có tổ chức hoạt động không phải trực tiếp do những ngời muốn mua
hay muốn bán chứng khoán thực hiện, mà do những ngời môi giới trung gian thực
hiện, đó là nguyên tắc trung gian, nguyên tắc căn bản nhất của TTCK có tổ chức.
Từ đó trên TTCK, xuất phát từ nhu cầu gặp gỡ giữa ngời mua và bán hình thành
nên nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
TTCK hình thành, để đảm bảo thị trờng hoạt động lành mạnh có hiệu quả,
yêu cầu các loại chứng khoán giao dịch là những loại chứng khoán thực, đảm bảo
lợi ích cho cả nhà phát hành và nhà đầu t. Xuất phát từ nhu cầu những nhà đầu t
có tiền nhng không có kinh nghiệm, không biết đầu t vào đâu và vào loại chứng
khoán nào bởi vì họ không thể dự đoán đợc một cách chính xác giá trị trong tơng
lai của nó. Nếu không có những ngời trung gian t vấn, có trình độ và có sự phân
tích cần thiết về những chứng khoán dựa trên những căn cứ xác đáng để có những
nhận xét kỹ lỡng, thì ngời đầu t có thể bị lầm lẫn hoặc bị lờng gạt. Do đó trên thị
trờng hình thành nên nghiệp vụ t vấn đầu t.
Các Công ty, tổ chức đại diện làm trung gian giúp thị trờng hoạt động lành
mạnh và hiệu quả cũng có nhu cầu kinh doanh trên trên thị trờng để thu lợi nhuận
cho chính Công ty thông qua hành vi mua bán chứng khoán với khách hàng. Từ
đó hình thành nên nghiệp vụ tự doanh trong Công ty.
Xuất phát từ nhu cầu của các tổ chức phát hành, để thực hiện thành công
các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng đòi hỏi phải cần đến các Công ty t
vấn cho đợt phát hành và thực hiện Bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công
chúng. Từ đó hình thành nên nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành.
Khi thị trờng phát triển, đòi hỏi Công ty đại diện cho khách hàng hay nói
cách khác khách hàng uỷ thác cho Công ty thay mặt mình quyết định đầu t theo
một chiến lợc hay những nguyên tắc đã đợc khách hàng chấp thuận. Từ nhu cầu
đó, nghiệp vụ Quản lý danh mục đầu t hình thành.
Từ những nhu cầu và điều kiện trên đòi hỏi phải có một tổ chức hoặc một

Tuy có nhiều định nghía khác nhau về CTCK nhng có thể có một khái niệm
chung về CTCK nh sau:
CTCK là một định chế tài chính trung gian thực hiện các hoạt động kinh
doanh trên TTCK.
Qua khái niệm trên ta có thể thấy đặc điểm của các CTCK nh sau:
CTCK là một định chế tài chính trung gian. Một định chế trung gian trên
Thị trờng tài chính là cầu nối giữa ngời cho vay và ngời đi vay. Khi một ngời cho
vay tìm ra đợc một ngời muốn vay, ngời đó gặp phải khó khăn là chi phí thời giờ
và tiền bạc cho những cuộc kiểm tra tín nhiệm để biết liệu ngời vay có thể hoàn
trả vốn và lãi cho mình không. Ngoài các chi phí thông tin này, quá trình thực tế
cho vay hoặc mua chứng khoán cần đến các chi phí giao dịch. Các trung gian tài
chính này giúp cho những ngời đi vay và ngời cho vay giảm đợc chi phí và thời
gian tìm kiếm, giao dịch. Vì vậy, không có trung gian tài chính thì Thị trờng tài
chính không thể có đợc lợi ích trọn vẹn. Trên thị trờng tài chính nói chung và
TTCK nói riêng có nhiều trung gian tài chính và các CTCK là một trong các trung
gian quan trọng trên TTCK.
CTCK thực hiện các hoạt động kinh doanh nh bất cứ một tổ chức kinh
doanh nào khác trong nền kinh tế, thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp, đều nhằm mục đích thu lợi nhuận từ các hoạt động kinh
doanh mua, bán chứng khoán.
1.1.3. Phân loại CTCK
1.1.3.1. Theo tính chất sở hữu
Hiện nay có 3 loại hình tổ chức cơ bản của CTCK, đó là Công ty hợp danh,
Công ty TNHH và CTCP.
CTCP
- CTCP là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu Công ty là các cổ
đông.
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp.
- CTCP có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công

Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi ro cho hệ thống Ngân hàng do
những ảnh hởng tiêu cực của TTCK, và các Ngân hàng không đợc sử dụng vốn
huy động để đầu t vào lĩnh vực chứng khoán; Mặt khác, với sự chuyên môn hoá sẽ
tạo điều kiện cho TTCK phát triển. Điển hình của mô hình này là các CTCK ở
Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt động Ngân hàng và kinh doanh
chứng khoán.
Tuy nhiên, do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên
ngày nay một số thị trờng cũng cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ,
chứng khoán, bảo hiểm, nhng đợc tổ chức thành Công ty mẹ, Công ty con và có sự
quản lý giám sát chặt chẽ và hoạt động tơng đối độc lập với nhau.
CTCK đa năng
Theo mô hình này, CTCK đợc tổ chức dới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài
chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch
vụ tài chính. Theo đó, các Công ty hoạt động với t cách là chủ thể kinh doanh
chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này đợc biểu hiện dới 2
hình thức sau:
CTCK đa năng một phần: Các Công ty muốn hoạt động trong lĩnh vực
chứng khoán phải thành lập Công ty con-CTCK, hoạt động độc lập. Mô hình này
đợc áp dụng ở Anh và những nớc có quan hệ gần gũi với Anh nh Canada, úc.
Mô hình này có u điểm là các Công ty đợc kết hợp kinh doanh các lĩnh vực
khác và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng đợc thế mạnh về tài chính, kinh
nghiệm, mạng lới khách hàng rộng khắp của Công ty. Bên cạnh đó, bởi vì có qui
định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho nên hạn chế đợc rủi ro nếu có
sự biến động của một trong hai thị trờng. Đặc biệt, mô hình này phù hợp với
những nớc mới thành lập TTCK, khi mà cần có các tổ chức tài chính lành mạnh
tham gia vào thị trờng và khi hệ thống luật, kiểm soát còn nhiều mặt hạn chế.
CTCK đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự tách bạch nào giữa
hoạt động Ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, NHTM không những đợc hoạt
động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn đợc hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và
bảo hiểm. Nó đợc áp dụng ở các nớc Bắc Âu, Hà Lan, Thụy Sĩ, áo...

- CTCK khi thực hiện nghiệp vụ t vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho
khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng phải gánh chịu,
đồng thời họ không đợc khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu t mà họ t vấn.
- CTCK không đợc phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản
thù lao thông thờng cho dịch vụ t vấn của mình.
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không đợc
phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình,
gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.
- ở nhiều nớc, các CTCK phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu t
chứng khoán để báo vệ lợi ích cho khách hàng trong trờng hợp CTCK mất khả
năng thanh toán.
Các CTCK không đợc tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách
hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán
hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
1.1.4.2. Nhóm nguyên tắc tài chính.
- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán báo
cáo quy định của UBCKNN. Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh
doanh chứng khoán với khách hàng.
- CTCK không đợc dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để
kinh doanh, ngoại trừ trờng hợp đó đợc dùng phục vụ cho giao dịch của khách
hàng.
- CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản
của mình. CTCK không đợc dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế
chấp vay vốn trừ trờng hợp đợc khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.1.5. vai trò của CTCK
Các CTCK ra đời và phát triển một cách nhanh chóng nh vậy là do chúng
đóng một vai trò rất quan trọng trên TTCK. Để hiểu rõ sự cần thiết của các
CTCK trên TTCK chúng ta xem xét vai trò của các CTCK đối với từng đối t-
ợng, chủ thể khác nhau trên TTCK.
1.1.5.1. Đối với các tổ chức phát hành

bảo vệ những khoản đầu t của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều
CTCK đã dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị
trờng.
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính:
TTCK có vai trò là môi trờng làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài
chính và các CTCK mới là ngời thực hiện tốt vai trò đó, vì CTCK tạo ra cơ chế
giao dịch trên thị trờng. Trên thị trờng cấp một, do thực hiện các nghiệp vụ nh Bảo
lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các CTCK không những huy động đợc nguồn
vốn đa vào sản xuất, kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh
khoản của các tài sản tài chính đợc đầu t vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ
đợc mua bán giao dịch trên thị trờng cấp hai. Điều này làm giảm rủi ro, tạo nên
tâm lý yên tâm cho nhà đầu t. Trên thị trờng cấp hai, do thực hiện giao dịch mua
và bán, các CTCK giúp ngời đầu t chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ng-
ợc lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài
chính.
1.1.5.4. Đối với các cơ quan quản lý thị trờng:
Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về thị TTCK cho các cơ quan quản
lý thị trờng để thực hiện mục tiêu đó các CTCK thực hiện đợc vai trò này bởi vì họ
vừa là ngời Bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mau
bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trờng, do vậy họ nắm đợc tình
hình tài chính cũng nh hoạt động kinh doanh của các tổ chức phát hành nh là các
nhà đầu t trên TTCK.
Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải đợc công
khai hoá dới sự giám sát của cơ quan quản lý thị trờng. Việc cung cấp thông tin
vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các
CTCK vì CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin
CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán trên thị trờng,
thông tin về các nhà đầu t...Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trờng
có thể kiểm soát và chống các hiện tợng thao túng, lũng đoạn bóp méo thị trờng.
Nh vậy, các CTCK với vai trò có ảnh hởng rộng rãi tới các chủ thể trên

khoản của khách hàng.
+ CTCK có trách nhiệm tổ chức việc sắp xếp, theo dõi thực hiện các lệnh
của khách hàng một cách cố hiệu quả nhất. Trong trờng hợp chứng khoán của
khách hàng mang tên CTCK, CTCK phải tổ chức theo dõi và cung cấp các thông
tin khi khách hàng yêu cầu, cũng nh việc chuyển cổ tức đến khách hàng.
+ Việc CTCK vay mợn chứng khoán hay tiền của khách hàng trên tài khoản
tại CTCK, phải đợc ghi rõ trong hợp đồng giao dịch chứng khoán. Nếu điều này
không ghi trong hợp đồng, CTCK không đợc sử dụng chứng khoán hay số tiền nói
trên, mọi việc vi phạm đều sử theo luật định.
+ CTCK phải thông báo kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng chậm nhất
là ngày làm việc kế tiếp ngày thực hiện giao dịch. Nếu thông báo chậm trễ, CTCK
phải chịu trách nhiệm về việc thanh toán và chuyển giao chậm trễ của khách hàng.
+ Khách hàng có trách nhiệm thanh toán hay chuyển giao số chứng khoán
khi CTCK thực hiện đúng những yêu cầu của khách hàng.
+ Khi muốn sửa đổi hay hủy bỏ lệnh đã đặt, khách hàng phải thông báo cho
CTCK biết để kịp thời điều chỉnh. Trong trờng hợp lệnh đã đợc thực hiện thì việc
sửa đổi hay hủy bỏ sẽ không có giá trị, khách hàng có trách nhiệm thanh toán hay
chuyển giao số chứng khoán đã đợc thực hiện.
+ Khi khách hàng uỷ quyền cho CTCK hay một ngơiì môi giới toàn quyền
sử dụng tài khoản của mình để mua bán chứng khoán, khách hàng phải làm giấy
uỷ quyền cho CTCK hay ngời môi giới đó. Trình tự và thủ tục theo đúng pháp luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status