Những nguyên lý cơ bản về bảo đảm tiền vay - Pdf 74

Những nguyên lý cơ bản về bảo đảm tiền vay
1. Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng thơng mại.
1.1. Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng phát triển nh hiện nay, hệ thống ngân
hàng thơng mại đã và đang từng bớc lớn mạnh không ngừng cả về chất và lợng,
đồng thời xuất hiện nhiều hoạt động đa dạng và phong phú hơn, tạo nên một thị
trờng tín dụng sôi động và náo nhiệt. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đồng
nghĩa với việc tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng trong quá trình cung ứng
sản phẩm cũng nh thu hút nguồn vốn. Điều này yêu cầu các ngân hàng phải
nhanh chóng hoàn thiện và nâng cao chất lợng hoạt động của mình để đáp ứng đ-
ợc những đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng. Nhng môi trờng cạnh tranh
càng lớn cũng sẽ tiềm ẩn khả năng rủi ro cao, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng
của ngân hàng thơng mại. Nhiều quan điểm cho rằng, rủi ro trong hoạt động tín
dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan có thể đề phòng chứ không thể loại
trừ, nhng lại có ảnh hởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng.
Hoạt động tín dụng nh chúng ta đã biếtlà việc tổ chức tín dụng giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo đó, nếu nh nguyên tắc hoàn
trả bị vi phạm thì rủi ro tín dụng xảy ra. Đó chính là tình trạng ngời đi vay không
có khả năng hoàn trả đợc hoặc lãi, hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ,
đúng hạn. Chính vì vậy, quan hệ tín dụng thờng đợc thể hiện trong các hợp đồng
tín dụng nhằm đa ra các điều khoản thi hành, các cam kết thực hiện một cách tự
nguyện bình đẳng giữa ngời cho vay và ngời đi vay. Hợp đồng tín dụng này chính
là cơ sở pháp lý để thực hiện các nghĩa vụ của hai bên khi tham gia hoạt động tín
dụng. Nó cũng là cơ sở pháp lý để thực hiện các bảo đảm tín dụng hay còn gọi là
bảo đảm tiền vay. Nh vậy bảo đảm tiền vay đợc hình thành trên cơ sở từ hợp đồng
tín dụng đã đợc thông qua của chủ thể tham gia hoạt động tín dụng không nằm
ngoài mục tiêu chính của ngân hàng là an toàn và sinh lợi. Từ cách hiểu trên ta có
thể thấy bảo đảm tiền vay chính là việc ngân hàng áp dụng các biện pháp đối với
khách hàng để khoản vay có thể trở về với ngân hàng một cách an toàn và có lợi.

đủ cả gốc và lãi khi đến hạn. Ngoài ra, cũng còn có một số bộ phận khách hàng
cố ý chây ỳ, có ý định không trả nợ, hoặc chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng
nhằm sử dụng tiền vay phục vụ cho lợi ích cá nhân. Có nhiều ngời cho rằng, việc
trả nợ vay phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chi trả nợ của khách hàng vay, do đó rủi
ro tín dụng xảy ra sẽ nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng.
Nguyên nhân thứ hai gây ra rủi ro tín dụng là những nguyên nhân bất khả
kháng tác động tới ngời vay làm họ không có khả năng thanh toán cho ngân
hàng. Đây chính là những tác động bất lợi của môi trờng kinh tế, chính trị xã hội,
môi trờng pháp lý và môi trờng tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng. Những nguyên nhân này có thể là sự thay đổi của chính phủ trong
chính sách phát triển kinh tế, xã hội, sự biến động của chính trị trong nớc tại thời
điểm khách hàng vay vốn hay nh chiến tranh, thiên tai, dịch hoạ xảy ra bất ngờ
đều có thể làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của ngời vay bị ngừng trệ, hay
thất bại mà không đợc dự tính trớc. Nếu sự ảnh hởng đến ngời vay là nặng nề thì
khả năng trả đợc nợ vay của họ là rất ít.
Một nguyên nhân quan trọng nữa cần phải nhắc đến đó là những nguyên nhân
thuộc về chính bản thân ngân hàng. Các cán bộ tín dụng chính là ngời ra quyết
định cho vay, là ngời trực tiếp tham gia xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Những đánh giá của cán bộ tín dụng chính là cơ sở đầu tiên để ra quyết định cho
vay. Nếu chất lợng cán bộ tín dụng kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng
hoặc đánh giá không đúng về khách hàng hoặc cố tình làm sai tiếp tay cho khách
hàng gian lậnchính là những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến rủi ro tín dụng.
Những nguyên nhân trên bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan đối
với ngân hàng và khách hàng nên ngân hàng không thể kiểm soát đợc hoàn toàn
rủi ro xảy ra. Chúng ta chỉ có thể phòng ngừa chứ không thể loại trừ đợc rủi ro tín
dụng xảy ra. Một trong những biện pháp phòng ngừa đợc áp dụng ngay trong
khâu đầu tiên của quá trình cho vay đó là sử dụng bảo đảm tiền vay. Bảo đảm tiền
vay đợc coi là nguồn thu nợ thứ hai sau khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lu chuyển
tiền tệ) không thể thanh toán đợc. Khi hợp đồng bảo đảm tiền vay đợc thực hiện,
đó chính là cơ sở pháp lý để ngân hàng có thể thu hồi đợc nợ một cách chắc chắn,

nhu cầu vay vốn đều có thể đợc đáp ứng đầy đủ nhất là những khách hàng mới
vay lần đầu hoặc không phải là khách hàng truyền thống của ngân hàng. Vì thế,
việc chứng minh đợc khả năng đảm bảo tiền vay của mình sẽ giúp cho khách
hàng dễ dàng hơn trong việc vay vốn khi mà các thông tin khác cha đợc ngân
hàng kiểm nghiệm. Đồng thời, việc thực hiện tốt bảo đảm tiền vay cũng là bớc
đầu tiên thiết lập mối quan hệ tin tởng với ngân hàng, làm cơ sở cho những lần
vay tiếp theo. Nh vậy với sức ép của bảo đảm tiền vay, có thể là giá trị của tài sản
bảo đảm hay sức ép của bên thứ ba bảo lãnh, cùng với việc lấy đợc uy tín với
ngân hàng, sẽ khiến cho khách hàng có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng vốn
vay, có ý thức hơn trong việc trả nợ vay ngân hàng, đồng thời tránh đợc sự gian
lận trong ý định vay vốn của khách hàng.
Nh vậy, việc ngân hàng yêu cầu bảo đảm tiền vay vừa giúp ngân hàng hạn chế
đợc rủi ro tín dụng có thể xảy ra vừa giúp khách hàng có trách nhiệm hơn đối với
khoản tiền mình đã vay.
1.3. Các nguyên tắc và đặc trng của bảo đảm tiền vay.
Khi thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay, ngân hàng và khách hàng cần
phải xem xét các qui tắc áp dụng chung nhất để có thể đa ra đợc quyết định cho
vay và vay một các hợp lý nhất. Dới đây là những nguyên tắc chủ yếu đợc quy
định trong Nghị định 178/1999/NĐ-CP :
Ngân hàng có quyền lựa chọn và quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài
sản hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản và chịu trách nhiệm về quyết
định của mình. Trong trờng hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ
định của Chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản cho
vay này sẽ đợc Chính phủ xử lý. Trờng hợp cho vay không có đảm bảo bàng tài
sản, song trong quá trình xử dụng vốn vay, ngân hàng phát hiện khách hàng vay
vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền yêu cầu khách
hàng vay thực hiện các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trớc hạn.
Trờng hợp khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫn không thực hiện hợp đồng
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết, ngân hàng có quyền xử lý
tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay,

Trên đây là những quy định và nguyên tắc chủ yếu mà ngân hàng thờng phải
xem xét khi thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay. Tuy nhiên, trong từng hình
thức bảo đảm tiền vay khác nhau mà ngân hàng có những quy định riêng có khác.
Chúng ta sẽ xem xét các hình thức bảo đảm tiền vay cụ thể dới đây mà các ngân
hàng thờng sử dụng.
1.4. Các hình thức bảo đảm tiền vay
Thông thờng có hai hình thức bảo đảm tiền vay chủ yếu mà các ngân hàng
áp dụng đối với khách hàng vay là bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân hay còn
gọi là bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm bằng tín chấp. Tuỳ từng khách hàng mà
ngân hàng có thể lựa chọn cho vay theo hình thức nào cho phù hợp, để vừa giữ đ-
ợc khách hàng vừa đảm bảo đợc mục tiêu kinh doanh của ngân hàng là an toàn
và sinh lợi.
1.4.1.Bảo đảm đối vật hay bảo đảm bằng tài sản.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là hình thức bảo đảm mà ngân hàng áp dụng với
khách hàng vay vốn, trong đó ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ, đợc hởng một số
quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng là con nợ, nhằm làm căn cứ
thu hồi nợ trong trờng hợp con nợ không trả hoặc không có khả năng trả nợ. Hay
nói một cách đơn giản hơn, cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay mà
theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đợc cam kết bảo đảm thực hiện bằng
tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng hoặc bảo
lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Nh vậy, việc bảo đảm bằng tài sản giúp cho
ngân hàng tránh đợc rủi ro mất hoàn toàn vốn, đồng thời đem lại cho ngân hàng
quyền u tiên khi phát mại tài sản so với các chủ nợ khác của khách hàng nếu
khách hàng vay không có khả năng trả đợc các khoản nợ đã vay. Tuy nhiên,
không phải bất kỳ tài sản nào cũng có thể dùng làm bảo đảm tiền vay. Tài sản
dùng làm bảo đảm tiền vay phải đáp ứng đủ 4 điều kiện dới đây:
Thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay hoặc bên
bảo lãnh: Để chứng minh đợc quyền này, khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh phải xuất trình Giấy chứng nhận sở hữu, quyền quản lý sử dụng tài
sản.

- Trờng hợp thế chấp toàn bộ tài sản có vật phụ thì vật phụ đó cũng thuộc tài
sản thế chấp. Trong trờng hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ, thì vật
phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp khi có sự thoả thuận với khách hàng.
Nh vậy những tài sản đem thế chấp chủ yếu là những bất động sản thuộc sở
hữu của khách hàng. Những tài sản này thờng cồng kềnh, phân tán và khó di dời.
Hơn nữa việc bán hoặc chuyển nhợng cũng không đơn giản. Tuy nhiên giá trị của
loại tài sản này thờng lớn nên giá trị khoản vay mà khách hàng muốn vay sẽ cao
hơn. Đồng thời nó cũng là những tài sản chủ yếu mà một doanh nghiệp hay ngời
tiêu dùng có để bắt đầu quá trình sản xuất hay sinh sống. Vì vậy mà hình thức
bảo đảm bằng thế chấp là rất phổ biến.
Đảm bảo bằng thế chấp cho phép ngời nhận tài trợ vẫn đợc sử dụng tài sản của
mình để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy mà hao mòn
trong quá trình sử dụng tài sản sẽ làm giảm giá trị của tài sản. Hơn nữa, do vẫn
còn nằm trong tay khách hàng nên ngân hàng không thể kiểm soát đợc hoàn toàn
tài sản bảo đảm, khách hàng có thể lợi dụng phân tán tài sản, gây tổn thất đối với
tài sản, làm thiệt hại đến giá trị của tài sản gây tổn thất cho ngân hàng. Do đó,
khi thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp ngân hàng phải xem xét kỹ
vật thế chấp, các mô tả vật thế chấp phải đợc ghi trong hợp đồng bảo đảm.
Khi cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, thì việc định giá tài sản thế
chấp là một vấn đề khá phức tạp. Về nguyên tắc việc định giá tài sản thế chấp
phải theo giá thị trờng, mà giá cả thị trờng thì lại luôn biến động, khó xác định
chính xác đợc biên độ giao động của giá. Trong khi đó, nếu định giá cao hơn giá
thị trờng có thể sẽ dẫn đến khi phát mại tài sản thế chấp( hoặc chuyển quyền sở
hữu cho ngân hàng) trong trờng hợp khách hàng không trả đợc nợ , không thu hồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status