Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, sự bùng nổ về công nghệ, thông tin và kỹ thuật kết hợp với tính năng
động của thị trường đã làm xuất hiện nhiều loại hình kinh doanh và sản xuất mới, tuy
nhiên để theo kịp với xu hướng và sự phát triển nhanh chóng này thì không phải mọi
doanh nghiệp, tổ chức đều có đủ khả năng về tài chính. Do đó, hiện nay một trong những
vấn đề quan trọng nhất để các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế tiến hành kinh doanh hiệu
quả là phải huy động đủ vốn từ các nguồn khác nhau để đáp ứng đủ cho quá trình đó.
Với chức năng là trung gian tín dụng, hoạt động của các NHTM và các TCTD
hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế. Các NHTM thực hiện huy động nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi của các tổ chức, cơ quan, cá nhân … và sử dụng nguồn vốn này để cho vay, đáp
ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh tế, góp phần kích thích quá trình luân chuyển vốn
của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất.
Hiện nay, cho vay là một hình thức cấp tín dụng chủ yếu trong hoạt động tín dụng
của các NHTM tại Việt nam. Trong quá trình cho vay, các NHTM phải có trách nhiệm
với khoản tiền cho vay, đảm bảo thu hồi được vốn và lãi, nên việc áp dụng các biện pháp
bảo đảm tiền vay là điều tất yếu tại các ngân hàng. Cũng như các NHTM khác,
Techcombank (Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương) cũng thực hiện các biện
pháp bảo đảm tiền vay. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền
vay, các NHTM còn gặp một số khó khăn, đặc biệt trong vấn đề xử lý tài sản bảo đảm.
Với lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài
sản và xử lý tài sản bảo đảm - Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng
Techcombank” cho báo cáo thực tập của mình. Trong đề tài này, các biện pháp bảo đảm
tiền vay bằng tài sản bao gồm: Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng; bảo lãnh
bằng tài sản của bên thứ ba; bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Đây là
ba biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản quan trọng được các NHTM và các TCTD
nói dung và Techcombank nói riêng sử dụng.
Báo cáo này bao gồm ba phần sau:
1
TTLT 03/2001/TTLT-NHNN-
BTP-BTC-TCĐC
Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-
BCA-BTC-TCĐC ngày 23/04/2001 hướng dẫn việc
xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các
tổ chức tín dụng
TTLT 05/2005/TTLT-BTP-
BTNMT
Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT
ngày 16/6/2005 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng
quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước ngày 31/12/2001 về việc ban
3
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng
Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước ngày 3/2/2005 về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của TCTD
đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN
Quy chế về bảo đảm bằng tài sản
tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Việt Nam
Quy chế về đảm bảo bằng tài sản của Ngân hàng
TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Ban hành kèm theo
quyết định số 238/QĐ-HĐ ngày 23/02/2001 của Chủ
chức tín dụng.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình, các doanh nghiệp cần có nguồn vốn
tốt. Nguồn vốn này có thể là vốn tự có, và có thể là vốn vay từ các ngân hàng và các
TCTD. Chính vì thế, trong khoảng 10 năm trở lại đây, Chính phủ đã ban hành nhiều văn
bản pháp lý xung quanh vấn đề bảo đảm tiền vay. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện nay,
không có một văn bản có hiệu lực pháp lý nào định nghĩa về “bảo đảm tiền vay”. Ngày
29/12/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay
của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi là Nghị định 178/1999/NĐ-CP) trong đó có định
nghĩa “bảo đảm tiền vay” như sau: “Bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các biện
pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp luật để thu hồi được các khoản
nợ đã cho khách hàng vay” (Điều 2.1 Nghị định 178/1999/NĐ-CP). Tuy nhiên, ngày
29/11/2006, Chính phủ lại ban hành Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
(sau đây gọi là Nghị định 163/2006/NĐ-CP), thay thế cho Nghị định 178/1999/NĐ-CP.
Nghị định 163/2006/NĐ-CP không đưa ra định nghĩa về “bảo đảm tiền vay” mà chỉ quy
định thế nào là “bên bảo đảm”, “bên nhận bảo đảm”, “bên bảo đảm ngay tình”. Như vậy,
trong tất cả các văn bản pháp lý có hiệu lực tính đến năm 2009, không một văn bản nào
đưa ra khái niệm chuẩn về “bảo đảm tiền vay”. Tuy vậy, với quan điểm riêng của mình
và căn cứ vào các quy định của Nghị định 163/2006/NdĐ-CP thì “bảo đảm tiền vay”
chính là “những biện pháp được các TCTD áp dụng cho các hoạt động tín dụng của mình
với mục đích làm tăng khả năng thu hồi khoản tiền đã cho vay”.
Với định nghĩa trên, ta thấy bảo đảm tiền vay có ba vai trò chính và quan trọng
nhất, đó là:
Thứ nhất, bảo đảm tiền vay là cơ sở pháp lý để các TCTD thu hồi khoản nợ của
khách hàng đối với mình.
6
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
Trước khi cho vay một khoản tiền, các TCTD thường yêu cầu khách hàng của
mình phải đảm nảo cho khoản tiền vay bằng tài sản để lương trước sự rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của khách hàng. Thông qua hợp đồng tín dụng, hai bên thỏa thuận về
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
1.2. Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản.
Hiện nay trong các văn bản pháp luật hiện hành, không một văn bản nào đưa ra
định nghĩa về “Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản”. Căn cứ vào cách giải thích từ
ngữ quy định tại Điều 2 Nghị định 178/1999/NĐ-CP ta có thể hiểu “biện pháp bảo đảm
tiền vay bằng tài sản” chính là việc sử dụng tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nghị định 163/2006/NĐ-CP không quy định rõ các biện pháp nào là biện pháp
bảo đảm tiền vay bằng tài sản, tuy nhiên Khoản 1 Điều 3 Nghị đinh 178/1999/NĐ-CP lại
quy định: “Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản: Cầm cố, thế chấp bằng tài
sản của khách hàng vay; Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba; Bảo đảm bằng tài
sản hình thành từ vốn vay.”
Về bản chất, bảo đảm tiền vay bằng tài sản chính là việc bên bảo đảm xác nhận
trong hợp đồng tín dụng về quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản mà bên bảo đảm
đưa ra để bảo đảm cho khoản vay của mình, trong trường hợp bên bảo đảm không thực
hiện được nghĩa vụ trả nợ. Bên nhận bảo đảm sẽ có toàn quyền quyết định đối với tài sản
đó. Nếu bảo đảm tiền vay bằng cầm cố, thế chấp chính tài sản của khách hàng vay thì đối
tượng trực tiếp được đưa ra bảo đảm là tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của người bảo đảm.
Tài sản đó được đem ra bảo đảm cho chính nghĩa vụ trả nợ của người đó đối với ngân
hàng. Nếu bảo đảm tiền vay bằng cầm cố, thế chấp tài sản của bên bảo lãnh thì đối tượng
trực tiếp được đưa ra bảo đảm là sự cam kết. Khi nghĩa vụ đã cam kết giữa bên được bảo
lãnh và bên nhận bảo đảm bị vi phạm thì bên bảo lãnh mới sử dụng tài sản của mình để
thực hiện nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh. Nếu bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành
từ vốn vay thì tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai.
Như vậy, nhìn chung các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản có những đặc
điểm sau:
Thứ nhất: Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản là sự thỏa thuận của các
bên tham gia quan hệ tín dụng.
Điều 52 Luật Các tổ chức tín dụng 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2004 quy định:
ba được bên nhận cầm cố ủy quyền đã giữ tài sản. Như vậy, tài sản cầm cố có thể do bên
nhận cầm cố trực tiếp giữ tài sản hoặc ủy quyền cho người thứ ba giữ tài sản. (Điều 16
Nghị định 163/2006/NĐ-CP)
9
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
- Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây
gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp (khoản
1 Điều 342 BLDS 2005).
Hợp đồng cầm cố tài sản và thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, ghi rõ
giá trị tài sản và thời hạn đảm bảo.
Có hai điểm khác biệt quan trọng giữa hai biện pháp cầm cố và thế chấp mà ta cần
lưu ý như sau:
Thứ nhất: Việc chuyển giao tài sản: Nếu áp dụng biện pháp cầm cố thì tài sản
phải được chuyển giao cho bên nhận cầm cố giữ.
BLDS 2005 không căn cứ vào việc phân biệt tài sản bảo đảm là động sản hay bất
động sản để quy định hình thức hợp đồng bảo đảm là cầm cố hay thế chấp, mà căn cứ
vào tiêu chí là khả năng dịch chuyển của tài sản. Nếu là cầm cố tài sản thì phải chuyển
giao tài sản từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố. Còn nếu là thế chấp tài sản thì không
phải chuyển giao tài sản từ bên thế chấp sang cho bên nhận thế chấp mà bên thế chấp chỉ
phải giao các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng của mình đối với tài sản cho
bên nhận thế chấp.
Thứ hai: Người thứ ba giữ tài sản cầm cố và người thứ ba giữ tài sản thế chấp.
Trong trường hợp thế chấp, việc người thứ ba giữ tài sản thế chấp phải do cả hai
bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận và thống nhất ý kiến, đồng thời người này
có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 352 và Điều 353 BLDS 2005. Còn
trường hợp cầm cố, việc người thứ ba giữ tài sản hoàn toàn do ý chí của bên nhận cầm cố
thông qua việc ủy quyền. Thực chất, quan hệ giữa bên nhận cầm cố và người thứ ba giữ
tài sản cầm cố là quan hệ độc lập mang tính chất của hợp đồng gửi giữ tài sản. Do đó,
phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh”.
1.3. Tài sản bảo đảm tiền vay và các điều kiện về tài sản bảo đảm.
1.3.1. Khái niệm tài sản bảo đảm tiền vay.
Với ba vai trò chính và quan trọng của bảo đảm tiền vay như đã phân tích tại Phần
1.1 – Chương I (là cơ sở pháp lý để các TCTD thu hồi khoản nợ của khách hàng đối với
mình và là biện pháp giúp giảm rủi ro trong hoạt động tín dụng của các TCTD), biện
pháp bảo đảm tiền vay được hầu hết tất cả các ngân hàng và các TCTD hiện nay áp dụng.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản lại được ưu tiên sử dụng rộng rãi và thường xuyên
hơn cả. Các khoản vay có bảo đảm bằng tài sản có độ an toàn cao hơn những khoản vay
11
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
áp dụng các biện pháp bảo đảm khác. Trường hợp có vi phạm hợp đồng và có tranh chấp
giữa bên vay (khách hàng) và bên cho vay, thì độ rủi ro của khoản vay có tài sản bảo
đảm cũng giảm thấp hơn so với các khoản vay không có tài sản bảo đảm. Với sự biến
động khó lường của thị trường, sự cạnh tranh cao giữa các nhà sản xuất, những khó khăn
không thể đoán trước được trong quá trình hoạt động kinh doanh … khiến thua lỗ, phá
sản có khả năng xảy ra cao. Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản sẽ tăng độ an
toàn cho các khoản vay, hạn chế các tổn thất của các TCTD khi khách hàng không có khả
năng trả nợ cho khoản tiền mình đã vay. Như vậy, tài sản bảo đảm đóng vai trò quan
trọng, chủ yếu nhất trong hoạt động cho vay của các TCTD.
Khoản 7 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP định nghĩa về tài sản bảo đảm như
sau: “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự đối với bên nhận bảo đảm”.
Tài sản được dùng làm tài sản bảo đảm tiền vay rất phong phú và đa dạng. Ngoài
các loại tài sản được quy định tại BLDS 2005: Bất động sản và động sản; quyền tài sản,
hiện nay pháp luật Việt Nam cũng cho phép sử dụng tài sản hình thành trong tương lai
làm tài sản bảo đảm nghĩa vụ. Khoản 2 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định:
“Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời
điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản hình thành
lại thay đổi lên xuống khó lường tùy theo biến động của thị trường. Chính vì vậy, các
ngân hàng và TCTD thường thắt chặt hạng mục cho vay thế chấp bằng tài sản hình thành
từ vốn vay.
1.3.2. Các điều kiện để tài sản trở thành tài sản bảo đảm.
Như đã phân tích tại phần 1.3.1, tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành rất phong phú và đa dạng, nhưng không phải tất cả các loại tài sản đều có thể
được sử dụng làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Để trở thành tài sản bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ thì tài sản phải thoả mãn một số điều kiện sau:
Thứ nhất: Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp
của bên bảo đảm (Điều 320 BLDS 2005).
“Điều 320 BLDS 2005: Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
1. Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo
đảm và được phép giao dịch.
2. Vật dùng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình
thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở
hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được
giao kết.”
13
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
Điều kiện này được đặt ra bởi trên thực tế, khi bên bảo đảm không thực hiện được
nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm thì tài sản bảo
đảm lúc này sẽ bị đưa ra phát mại để thực hiện nghĩa vụ chính trong hợp đồng tín dụng.
Do đó, tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm.
Để chứng minh được tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, bên bảo đảm phải xuất
trình các giấy tờ, tài liệu, và các văn bản có liên quan thể hiện quyền sở hữu hợp pháp
của mình đối với tài sản đó.
Tài sản thuộc sở hữu của nhiều người đem ra làm tài sản bảo đảm phải được cam
kết bằng văn bản của các đồng sở hữu và tài sản đó không có tranh chấp.
Tài sản thuộc sở hữu tập thể, tài sản của doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ
đưa ra giới hạn cụ thể cho giá trị tài sản bảo đảm được các bên thỏa thuận. Điều 5 Nghị
định 163/206/NĐ-CP quy định: “Trường hợp bên bảo đảm dùng một tài sản để bảo
đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 324 Bộ luật
Dân sự thì các bên có thể thoả thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc
lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác.”
Những tài sản bảo đảm thoả mãn các điều kiện trên thì sẽ được dùng để bảo đảm
tiền vay tại các TCTD. Riêng đối với tài sản bảo đảm là giá trị quyền sử dụng đất thì điều
kiện của tài sản bảo đảm sẽ do pháp luật về đất đai quy định.
Việc không ấn định tỉ giá cụ thể giữa khoản tiền vay và giá trị tài sản bảo đảm đã
mở rộng hơn quyền tự do kinh doanh của các TCTD, phần nào đó tạo ra những cơ hội
mới để các TCTD cạnh tranh bình đẳng với nhau.
2. Các biện pháp bảo đảm tài sản bằng tiền vay theo quy định của pháp luật hiện
hành.
2.1. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay và của
bên bảo lãnh.
2.1.1. Nguyên tắc bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng
vay và của bên bảo lãnh.
Cùng với những nguyên tắc chung của bảo đảm tiền vay bằng tài sản, mỗi biện
pháp bảo đảm tiền vay cụ thể lại có những nguyên tắc riêng nhất định. Những nguyên tắc
này mang tính định hướng, buộc các bên bảo đảm (bao gồm khách hàng vay là bên cầm
cố, thế chấp tài sản và bên bảo lãnh) và bên nhận bảo đảm (ngân hàng và các TCTD) phải
tuân theo khi tham gia vào quan hệ tín dụng bảo đảm tiền vay bằng cầm cố, thế chấp, bảo
lãnh (bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba).
15
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
Nghị định 163/2006/NĐ-CP hiện nay không có điều luật cụ thể nào quy định về
các nguyên tắc của bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay,
bảo lãnh của bên thứ ba. Tuy nhiên, trên thực tế, khi tham gia vào các quan hệ tín dụng
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
Hợp đồng bảo đảm tiền vay là công cụ để thực hiện giao dịch bảo đảm, tạo ra mối
quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay. Hợp đồng bảo đảm tiền vay là cơ sở
pháp lý, trong đó quy định cụ thể các điều khoản mà hai bên đã thoả thuận để thực hiện
việc cho vay, quản lý và sử dụng khoản vay, tài sản bảo đảm, phương thức thu hồi nợ,
biện pháp xử lý tài sản bảo đảm và phương thức giải quyết tranh chấp (nếu có).
Điều 327 và Điều 343 BLDS 2005 quy định: “hợp đồng cầm cố, thế chấp phải
được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”.
Trong trường hợp pháp luật có quy định thì hợp đồng cầm cố, thế chấp phải được công
chứng, chứng thực hoặc đăng ký. Ngoài ra, Điều 51 Luật Các tổ chức tín dụng 1997, sửa
đổi bổ sung năm 2004 và Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng (sau đây gọi là Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN) quy định nội dung
chính của hợp đồng tín dụng phải có nội dung về hình thức bảo đảm tiền vay, giá trị tài
sản bảo đảm và phương thức xử lý tài sản bảo đảm... Như vậy, TCTD hoàn toàn có thể
đưa các nội dung chủ yếu của biện pháp bảo đảm vào hợp đồng tín dụng mà không cần
phải lập thành văn bản riêng. Điều này giúp bộ hồ sơ cho vay của TCTD vừa đảm bảo
căn cứ pháp lý vừa đơn giản.
Bên cạnh việc ghi nhận hợp đồng cầm cố, thế chấp phải được lập thành văn bản,
pháp luật đã dành cho các bên (bên nhận cầm cố, thế chấp và bên cầm cố, thế chấp)
quyền được thoả thuận công chứng hay chứng thực hợp đồng cầm cố, thế chấp ngoại trừ
những trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp một tài sản được cầm cố, thế chấp để bảo đảm thực hiện nhiều
nghĩa vụ trả nợ tại các TCTD thì mỗi lần cầm cố, thế chấp phải được lập thành văn bản
và việc cầm cố phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm. Ngoài ra, bên
cầm cố, thế chấp phải thông báo cho TCTD nhận cầm cố, thế chấp tiếp theo về các lần
bảo đảm trước đó, nếu không thông báo thì phải bồi thường khi có thiệt hại xảy ra cho
bên bị thiệt hại (Điều 324 BLDS 2005). Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 10/03/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định
- Các thoả thuận khác.
(Căn cứ vào Phụ lục I - Mẫu hợp đồng thế chấp)
Hợp đồng bảo đảm tiền vay là một hợp đồng song vụ và các bên trong hợp đồng
đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Các bên phải thực hiện đúng những điều
khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng.
2.2. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
18
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
Ngoài biện pháp bảo đảm tiền vay phổ biến bằng tài sản cầm cố, thế chấp của
khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, ngân hàng và các TCTD còn sử
dụng biện pháp bảo đảm tiền vay khác đó là biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản
hình thành từ vốn vay.
Khoản 3 Điều 52 Luật Các tổ chức tín dụng 1997, sửa đổi bổ sung năm 2004 và
Điều 320 BLDS 2005 cũng ghi nhận các quy định cho phép dùng tài sản hình thành trong
tương lai để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Tuy khắc phục được nhược điểm phiền hà và tốn kém của biện pháp cầm cố, thế
chấp tài sản, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay vẫn có
những nhược điểm riêng của nó. Cụ thể, nó mang độ rủi ro cao hơn so với các biện pháp
bảo đảm tiền vay bằng tài sản thông thường khác. Lý do của nhược điểm này là do tài
sản chưa có thực tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm mà sẽ được hình thành trong
tương lai. Việc xác định giá trị của tài sản hình thành trong tương lai rất khó khăn bởi
không thể chắc chắn tài sản trong tương lai sẽ có giá trị như lúc giao kết hợp đồng đã
nhận định. Sự khác nhau về hoàn cảnh kinh tế và xã hội sẽ dẫn đến giá trị của tài sản
hình thành trong tương lai có thể tăng lên hoặc giảm đi. Bởi nhược điểm trên mà ngân
hàng và các TCTD rất chặt chẽ trong việc cho vay với tài sản bảo đảm là tài sản hình
thành từ vốn vay. Khi ký hợp đồng bảo đảm tiền vay hình thành từ vốn vay, ngân hàng
và TCTD thường giữ các giấy tờ để xác minh quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu tài
sản đó. Hiện nay pháp luật cũng có rất nhiều quy định cụ thể về biện pháp cho vay với tài
sản bảo đảm hình thành từ vốn vay nhằm mục đích bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong quan hệ tín dụng thực chất là một bộ phận
của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bởi: quan hệ bảo đảm tiền vay được thiết lập trên
cơ sở thỏa thuận của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm về việc áp dụng các biện pháp
nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (vì trả nợ vay là một loại nghĩa vụ dân sự). Mục đích
thực hiện các biện pháp bảo đảm đều nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa
vụ đối với bên có quyền.
*) Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nhằm mục đích thu hồi khoản nợ của TCTD đã
cho khách hàng vay khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Khi ngân hàng và các TCTD cho khách hàng vay tiền, họ biết rằng có thể sẽ có
những rủi ro bất ngờ xảy ra cho khách hàng của mình và dẫn đến việc thu hồi nợ của
mình gặp nhiều khó khăn, có thể là không thể thu hồi lại vốn đã cho vay ban đầu. Chính
vì vậy tài sản bảo đảm được sử dụng để đảm bảo ngân hàng và các TCTD có thể thu hồi
khoản vay đã cấp cho khách hàng.
20
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
Việc xử lý tài sản bảo đảm không phải là mục đích mà ngân hàng và các TCTD
hướng tới khi họ cho khách hàng vay tiền. Chỉ khi bên bảo đảm vi phạm nghĩa vụ với
bên nhận bảo đảm thì xử lý tài sản bảo đảm mới được xét đến nhằm mục đích thu hồi nợ.
Xử lý tài sản bảo đảm cần được thực hiện một cách nhanh chóng để TCTD có thể đảm
bảo khả năng thanh toán, khả năng chi trả và cấp tín dụng cho nền kinh tế.
*) Chủ thể của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đa dạng và được trao quyền
mạnh mẽ hơn chủ thể trong việc xử lý tài sản bảo đảm thông thường.
Việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong các giao dịch dân sự thường thông qua
việc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá nếu các bên không có thỏa thuận
khác. Tuy nhiên, trong hoạt động cho vay của ngân hàng và các TCTD thì việc xử lý tài
sản bảo đảm đòi hỏi phải nhanh chóng bởi nó là nguồn cung ứng vốn năng động cho nền
kinh tế. Ngân hàng và các TCTD được thành lập và hoạt động với những điều kiện cấp
phép chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, chịu sự giám sát thường
xuyên trong hoạt động nghiệp vụ, kể cả việc cho vay và bảo đảm tiền vay. Chính vì vậy,
vực tín dụng ngân hàng vừa đảm bảo nguyên tắc cơ bản chung của giao dịch bảo đảm,
vừa phù hợp với đặc điểm riêng của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
(1)
Đào Minh Tú: “Rủi ro và quản lý rủi ro trong hợp đồng tín dụng”. Tạp chí Ngân hàng số 4/2006
1.2. Các nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm
Việc xử lý bảo đảm tiền vay của ngân hàng và các TCTD được thực hiện theo các
nguyên tắc cơ bản sau:
*) Nguyên tắc thoả thuận
Bản chất của quan hệ bảo đảm tiền vay là một quan hệ hợp đồng nên quan hệ bảo
đảm tiền vay cũng được hình thành trên cơ sở thoả thuận. Đó là sự thoả thuận giữa
TCTD và khách hàng vay về các biện pháp bảo đảm tiền vay và các phương thức xử lý
tài sản bảo đảm tiền vay khi khách hàng vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín
dụng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Nguyên tắc thỏa thuận được thể hiện ở các điểm sau:
- Thoả thuận về việc xử lý tài sản được thiết lập tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo
đảm tiền vay. Đây là cơ sở pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
- Thoả thuận được thiết lập tại thời điểm xử lý tài sản. Điều đó có nghĩa là tại thời
điểm xử lý tài sản bảo đảm tiền vay các bên vẫn có thể thoả thuận khác với thoả thuận
ban đầu hoặc bổ sung mới, hoặc thậm chí có thể thay thế tài sản bảo đảm nếu các bên có
thoả thuận.
22
Khoa Luật – Trường ĐH KTQD Sinh viên: Trần Hồng Nhung
Luật Kinh Doanh 48 (2006 – 2010) Mã SV: CQ482104
- Trường hợp các bên có thoả thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm nhưng không
thoả thuận cụ thể về việc xử lý tài sản bảo đảm thì về nguyên tắc các TCTD vẫn có
quyền xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Trong trường hợp
này, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, tài sản bảo đảm sẽ được xử lý
thông qua bên thứ ba (có thể là toà án hoặc trọng tài).
*) Nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch
khách hàng vay do tài sản bảo đảm bị xuống cấp, hư hỏng, mất giá, không luân chuyển
được nguồn vốn và khách hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản vay tại ngân hàng.
Tóm lại, việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của ngân hàng và các TCTD cần phải
tuân thủ các nguyên tắc trên. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm tiền vay.
2. Các quy định về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của pháp luật hiện hành.
2.1. Thủ tục xử lý tài sản bảo đảm.
Xử lý tài sản bảo đảm là một khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình cho vay của
các NHTM và các TCTD. Theo quy định tại Điều 47 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, thời
điểm thực hiện xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được hiểu là khi đến hạn trả nợ mà bên vay
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đối với bên cho vay thì bên
cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo đảm, hợp đồng
tín dụng.
Các TCTD có thể xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trước hạn trong trường hợp
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Khách hàng là doanh
nghiệp bị phá sản hoặc bị phát hiện việc cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm điều kiện
sử dụng vốn và các cam kết khác tại hợp đồng tín dụng.
Thủ tục cần thiết để thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay bao gồm:
- Bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản cho bên bảo đảm về việc xử lý
tài sản bảo đảm tiền vay trước khi tiến hành xử lý tài sản. Nội dung văn bản phải nêu rõ
lý do xử lý tài sản bảo đảm, loại tài sản, phương thức xử lý tài sản bảo đảm, giá trị nghĩa
vụ được bảo đảm tại thời điểm tiến hành xử lý tài sản bảo đảm, thời hạn và địa điểm
chuyển giao tài sản.
- Bên nhận bảo đảm phải đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm tại cơ quan
đăng ký giao dịch bảo đảm (điểm d khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP).
- Bên bảo đảm phải có trách nhiệm kết hợp với bên nhận bảo đảm thực hiện bàn
giao tài sản bảo đảm. Trường hợp bên bảo đảm cố tình giữ tài sản bảo đảm, không giao
tài sản cho bên nhận bảo đảm thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền can thiệp buộc bên bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm.
24
giá trị thực của tài sản bảo đảm tại thời điểm bán trên thị trường, giúp các bên giải quyết
nợ một cách nhanh chóng và thuận tiện.
25