Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn tại ngân hàng techcombank hai bà trưng - Pdf 88

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, nên
nhu cầu về vốn đầu tư phục vụ cho hoạt động sản xuất là rất lớn. Tuy nhiên, không
phải doanh nghiệp, cá nhân nào cũng có thể tự đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất của
mình bằng nguồn vốn tự có mà phải huy động từ rất nhiều nguồn khác nhau trong đó
ngân hàng là một kênh huy động phổ biến nhất. Với sự phát triển mạnh mẽ, hiện nay
các ngân hàng đã trở thành trung tâm tài chính hết sức quan trọng trong nền kinh tế.
Các ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc điều chuyển vốn giữa các thành phần
trong nền kinh tế giúp cho nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả hơn, giúp cho nhà
đầu tư có thể tự thực hiện được ý tưởng kinh doanh của mình, thực hiện được hoạt
động sản xuất kinh doanh góp phần đẩy mạnh quá trình tăng trưởng và phát triển
kinh tế đất nước. Số lượng dự án đầu tư vay vốn tìm đến ngân hàng ngày càng nhiều.
Tuy nhiên, ngân hàng vẫn là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính nên
mục tiêu lợi nhuận vẫn được đặt lên hàng đầu. Vì vậy việc đảm bảo an toàn cho vốn
vay là một việc hết sức quan trọng đối với các ngân hàng nói chung và Ngân hàng
Techcombank Hai Bà Trưng nói riêng và việc thẩm định dự án vay vốn trở nên cần
thiết hơn bao giờ hết.
Trong thẩm định dự án vay vốn, Ngân hàng cần thẩm định rất nhiều nội dung
liên quan đến dự án, tuy nhiên thẩm định tài chính được chú trọng nhất. Nhận thức
được tầm quan trọng của việc thẩm định tài chính dự án vay vốn nên em đã quyết
định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án vay
vốn tại ngân hàng techcombank hai bà trưng”.
Đề tài của em gồm có hai chương:
Chương I: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn tại Ngân
hàng Techcombank Hai Bà Trưng.
Chương II: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án vay
vốn tại Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng.
1
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI
CHÍNH DỰ ÁN VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TECHCOMBANK HAI BÀ TRƯNG

Huy động TCKT 5,002,301,316 39,873,367,126 54,029,159,786
Huy động dân cư 175,364,383,332 395,784,878,061 449,100,316,148
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007 – 2009
Qua bảng trên ta thấy tổng mức vốn huy động của chi nhánh HBT không
ngừng tăng lên qua các năm. Năm 2008 tổng mức huy động tăng 141,54% so với
năm 2007. Năm 2009 tổng mức huy động tăng 15,48%. Có thể thấy rằng năm 2008 là
một năm tăng trưởng mạnh mẽ của chi nhánh trong hoạt động huy động vốn. Năm
2007 tổng mức huy động còn chưa lớn do chi nhánh mới hoạt động chưa lâu, hầu hết
khách hàng trên địa bàn đều sử dụng dịch vụ của các ngân hàng khác đã hoạt động từ
trước. Nhờ có những chính sách thực sự hiệu quả trong hoạt động huy động vốn như
khuyến mãi, quảng cáo, chất lượng dịch vụ tốt, hoạt động chăm sóc khách hàng tốt…
mà tổng mức vốn huy động được của chi nhánh đã gia tăng đáng kể. Nhìn bảng trên
ta thấy hầu hết lượng vốn huy động được là từ dân cư, vốn huy động được từ các tổ
chức kinh tế chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ. Vốn huy động từ dân cư chiếm trên 80% tổng
vốn huy động được Năm 2007 tổng vốn huy động được từ dân cư là 175,364 tỷ đồng,
đến năm 2008 đã tăng lên là 395,784 tỷ, tăng 25,69% so với năm 2007; đến năm
2009 tổng vốn huy động được là 449,1 tỷ đồng, tăng 13,5% so với năm 2008.
Công tác huy động vốn của chi nhánh luôn được quan tâm bằng các biện pháp
hiệu quả như việc tuyên truyền quảng bá, chính sách chăm sóc khách hàng, lãi suất
cạnh tranh, có nhiều hình thức huy động vốn hấp dẫn tiện lợi mà chi nhánh đã có sự
tăng trưởng đáng kể trong mức vốn huy động. Công tác đào tạo trình độ nghiệp vụ
cho các giao dịch viên được tiến hành một cách thường xuyên. Đặc biệt đã triển khai
chương trình “khách hàng bí mật” để kiểm tra thái độ phục vụ, chăm sóc khách hàng
của các giao dịch viên. Nhờ đó mà thái độ phục vụ khách hàng của các giao dịch viên
rất tốt, làm hài lòng hầu hết khách hàng. Đó cũng là một tác động tích cực đối với
hoạt động huy động vốn của chi nhánh. Do đó đến hết năm 2009 tổng vốn huy động
lũy kế của ngân hàng là 616,219 tỷ đồng. Đây là một con số ấn tượng đối với các chi
nhánh mới thành lập như Techcombank Hai Bà Trưng. Nguồn vốn chủ yếu là nguồn
vốn ngắn hạn, chiếm tới 54,46 % là tiền gửi có thời hạn dưới 12 tháng, còn lại là tiền
gửi trên 12 tháng ( chiếm 42,85%) và nguồn vốn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất là tiền gửi

nhánh mới thành lập nên khách hàng chưa biết đến nhiều, cần có thời gian tạo dựng
mối quan hệ với khách hàng. Từ năm 2008 hoạt động của ngân hàng dần đi vào ổn
4
định và tăng trưởng, năm 2009 tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh là 407,266 tỷ đồng
(tăng 42,71%). Cho vay đối với doanh nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng dư
nợ của Techcombank, khoảng 75% - 84%. Khách hàng là những doanh nghiệp lớn
của chi nhánh không nhiều, số lượng những doanh nghiệp lớn này chỉ chiếm khoảng
10% nhưng lại chiếm tới 40% tổng dư nợ bởi những doanh nghiệp này thường vay
ngân hàng với khối lượng lớn để phát triển sản xuất. Khách hàng là doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm tới 90% về số lượng nhưng do những khoản vay của doanh nghiệp vừa
và nhỏ không lớn nên chỉ chiếm 60% tổng dư nợ của ngân hàng. Đây là thực tế bởi
chi nhánh Techcombank hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội, một môi trường
kinh tế mới và đang phát triển nên hầu hết là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn… với quy mô vừa và nhỏ, vốn và nhân công chưa nhiều và chưa thực
sự phát triển mạnh mẽ để lớn mạnh vươn ra thị trường. Đối tượng cho vay tiếp theo
chiếm tỷ trọng khoảng 32% - 35% tổng dư nợ là các các nhân và hộ gia đình, còn lại
là cho vay các đối tượng khác.
Chi nhánh đã sử dụng khá triệt để nguồn vốn huy động để cho vay, kết quả
cho thấy, tính đến cuối năm 2007 tổng dư nợ chiếm 83,100% tổng huy động, con số
này tăng lên 89,86% tổng huy động đến hết 31/12/2008 và đến 31/07/2009 là 89,16%
tổng vốn huy động. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng là khá tốt
và ổn định, sẽ còn được phát huy trong thời gian tới.
Có thể thấy tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh tăng lên qua các năm một cách
nhanh chóng thể hiện uy tín và hiệu quả hoạt động của chi nhánh ngày càng tăng.
Tuy tỉ lệ nợ loại 2,3 có tăng lên nhưng không đáng kể và các chỉ số an toàn vẫn ở
mức cao do tỉ lệ cho vay/ TTS đang ở mức thấp. Năm 2007, toàn bộ các khoản vay
đều là nợ loại 1. Năm 2008, không xảy ra tình trạng nợ xấu, các khoản vay đều là nợ
loại 1,2. Năm 2009, các chỉ số an toàn đạt mức độ cao, tỷ lệ nợ loại 3 chiếm 1,26%
trên tổng dự nợ (2,119 tỷ đồng).
Cấu trúc tài sản theo kỳ hạn ở mức độ hợp lý. Tỷ lệ cho vay trung hạn chiếm

HBT năm 2007 - 2009
Đơn vị: Triệu đồng
Khoản mục 2007 2008 2009
Tổng thu nhập hoạt động thuần 10.273 16.638 13.596
Doanh thu thu lãi 50.496 62.692 85.482
Thu lãi tiền cho vay 15.027 28.349 16.497
Thu lãi tiền cho vay tài trợ XNK 1.956 2.475 4.715
Thu lãi điều hoà vốn trong hệ thống 23.513 34.343 64.271
Chi phí trả lãi và bảo hiểm tiền gửi 38.184 48.720 78.758
Chi trả lãi tiền gửi 32.148 37.383 52.468
Chi trả lãi điều chuyển vốn nghiệp vụ cho vay 5.772 10.475 25.298
Chi trả lãi điều chuyển vốn nghiệp vụ tài trợ XNK 264 376 992
Thu nhập lãi thuần 12.312 13.972 6.725
B. Hoạt động dịch vụ -
Doanh thu thu phí 2.846 3.578 7.209
Thu phí thanh toán quốc tế 1.265 1.666 5.433
Thu phí dịch vụ trong nước 1.348 1.865 1.689
Thu phí dịch vụ thẻ 32.858 45.927 87
Chi phí hoạt động dịch vụ 342.11 523.15 337
Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ 4.106 3.054 6.871
Thu nhập bất thường 0,23 0,56 50
Tổng chi phí hoạt động 4.754 6.206 5.365
Chi nộp thuế, phí, lệ phí 72 74 83
Chi nhân viên 3.089 3.319 3.939
Chi về tài sản 689 746 847
Chi phí hoạt động khác 903 2067 496
Lợi nhuận trước thuế và dự phòng RRTD 8.555 11.432 9.281
Trích dự phòng rủi ro tín dụng 2.507 3.364 4.709
Lợi nhuận trước thuế 6.048 8.067 4.572
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007-2009 của chi nhánh Hai Bà Trưng

của dự án, từ đó tính toán được dòng tiền và các chỉ tiêu tài chính của dự án cũng như
khả năng trả nợ của dự án. Do đặc trưng của hoạt động kinh doanh của ngân hàng là
an toàn và sinh lời nên ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án hiệu quả tài chính
và khả năng trả nợ cao. Do đó có thể nhận thấy vai trò vô cùng quan trọng của công
tác thẩm định tài chính dự án vay vốn, nó đòi hỏi một đội ngũ có trình độ cao, một
quy trình thực hiện nghiêm ngặt từ đó mới đảm bảo giảm thiểu tối đa rủi ro trong quá
trình cho vay của ngân hàng.
1.2.2. Quy trình thẩm định tài chính dự án vay vốn
Sơ đồ thẩm định:
8
Bước 1: Phòng khách hàng tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng và kiểm
tra tính đầy đủ, trung thực, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ xin vay vốn. Nếu hồ sơ vay
vốn chưa đầy đủ, hợp lệ thì cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh, bổ
Nhận và kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ
đề suất tín dụng
Kiểm tra sự phù hợp với các chính sách,
quy trình tín dụng hiện hành
Cho điểm tín dụng và phân loại khách
hàng
Thẩm định chi tiết dự án
Lập báo cáo thẩm định và trình trưởng/
phó phòng thẩm định
Thông báo kết quả thẩm định
Khách hàng
Phòng thẩm
định
Phòng tín dụng
9
sung hồ sơ, nếu hồ sơ đã đầy đủ thì cán bộ tín dụng tiến hành lập đề xuất tín dụng và
chuyển sang bước 2.

Nội dung thẩm định tổng vốn đầu tư bao gồm:
10
Vốn đầu tư xây dựng: bao gồm chi phí xây dựng các hạng mục công trình như
chi phí thiết kế, khảo sát, xây lắp; chi phí san lấp mặt bằng xây dựng… Khi thẩm
định, cán bộ thẩm định cần kiểm tra nhu cầu xây dựng các hạng mục công trình, mức
độ hợp lý của đơn giá xây dựng (bằng kinh nghiệm từ các dự án đã triển khai tương
tự).
Vốn đầu tư thiết bị: bao gồm các chi phí mua sắm thiết bị, vận chuyển thiết bị
từ nơi mua đến công trình, chi phí lắp đặt, chi phí bảo hành, chi phí chuyển giao (nếu
có)…Khi thẩm định nội dung này cần kiểm tra giá mua và các danh mục chi phí
trong đó.
Chi phí quản lý và các khoản chi phí khác: Các khoản mục chi phí này chỉ
chiếm một tỉ lệ nhất định nào đó trên tổng vốn đầu tư. Đối với các khoản mục chi phí
này, khi thẩm định Ngân hàng chủ yếu kiểm tra tính đầy đủ và hợp lý của các khoản
mục.
Chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian xây dựng: chi phí trả lãi vay khi
dự án được đưa vào sản xuất thường đươc tính vào chi phí thường xuyên hàng năm
nhưng trong thời gian xây dựng thì nó vẫn được tính vào tổng vốn đầu tư.
Vốn lưu động: Cán bộ thẩm định của Ngân hàng sẽ xem xét nhu cầu vốn lưu
động ban đầu (đối với dự án xây dựng mới) hoặc nhu cầu vốn lưu động bổ sung (đối
với dự án mở rộng bổ sung thiết bị) để dự án sau khi hoàn thành có thể hoạt động
bình thường.
Việc xác định đúng đắn vốn đầu tư của dự án là rất cần thiết, tránh hai khuynh
hướng là tính quá cao hoặc quá thấp (cần so sánh suất đầu tư với các dự án tương tự)
ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của dự án. Cán bộ
thẩm định cần xem xét, đánh giá tổng vốn đầu tư của dự án đã được tính toán hợp lý
hay chưa, tổng vốn đầu tư đã tính đủ các khoản cần thiết chưa, cần xem xét các yếu
tố làm tăng chi phí do trượt giá, phát sinh thêm khối lượng công việc, thay đổi tỷ giá
đối với các dự án có sử dụng ngoại tệ.
Sau khi thẩm tra tổng mức vốn đầu tư, cần xem xét việc phân bổ vốn đầu tư

Khi Ngân hàng cho vay vốn cần chú ý:
+ Cần xác định phương án sơ bộ đáp ứng nguồn vốn lưu động cho dự án ngay
từ khi thẩm định cho vay vốn cố định đối với dự án. Trong trường hợp dự án có nhu
cầu vay vốn lưu động cho dự án có thời gian xây lắp có thể kéo dài một số năm, việc
phê duyệt cho vay vốn lưu động ngay là chưa phù hợp về mặt thời điểm. Tuy nhiên,
việc xác định tương đối mức vay vốn lưu động dự kiến để có thể cân đối chung giữa
mức vốn tự có của khách hàng và tổng số tiền ngân hàng cho vay là một yếu tố cần
thiết trong việc xem xét tài trợ cho dự án.
12
+ Cần tính tới phương án dự phòng cho trường hợp tổng vốn đầu tư thực tế
phát sinh tăng vượt tổng mức đầu tư dự kiến: Chủ đầu tư tự huy động thêm hay các
tổ chức tín dụng cho vay bổ sung.
1.2.3.3. Thẩm định các yếu tố đầu vào, đầu ra của dự án.
 Các yếu tố đầu vào trong việc tính hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ
của dự án
• Xác định công suất của dự án
+ Công suất thiết kế của dự án là công suất mà dự án có thể thực hiện được
trong điều kiện bình thường, theo thiết kế chuẩn tức là máy móc thiết bị
hoạt động theo đúng qui trình công nghệ, không bị gián đoạn vì những lý
do không được dự tính trước như hỏng hóc đột xuất, cúp điện...; các yếu tố
đầu vào được đảm bảo đầy đủ, liên tục;…
+ Công suất hoạt động thực tế của dự án: là công suất hoạt động mà dự án
dự kiến đạt được trong từng năm kể từ khi đi vào vận hành khai thác. Công
suất thực tế của dự án thường khác nhau qua các năm. Thông thường thiết
bị trong những năm đầu sản xuất thường chưa đạt ngay công suất thiết kế
do năng lực điều hành, tổ chức sản xuất, sự chưa thành thục của người lao
động, do nhu cầu thị trường, do khả năng gia nhập thị trường của sản phẩm
mới, do nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu chưa ổn định...
Tuỳ theo tính chất của từng ngành nghề và đặc điểm của thị trường, tham
khảo số liệu của các đơn vị cùng ngành, cán bộ thẩm định có thể giả định công suất

+ Xác định doanh thu dự kiến:
Doanh thu dự kiến = Giá bán dự kiến x Khối lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến
(xác định dựa vào Công suất hoạt động dự kiến có tính tới thay đổi trong thành
phẩm tồn kho).
• Xác định các chi phí của dự án:
Chi phí của dự án thể hiện toàn bộ hao phí của dự án để tạo nên doanh thu.
Chi phí của dự án bao gồm chi phí biến đổi và chi phí cố định
+ Chi phí biến đổi: hay còn gọi là biến phí, là loại chi phí thay đổi theo sự
biến đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ. Thông thường các
chi phí này thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu
thụ nghĩa là nếu khối luợng sản phẩm tăng thì biến phí tăng và ngược lại.
Mặc dù vậy, các chi phí này không nhất thiết luôn tăng giảm theo cùng
một tốc độ với mức tăng giảm của sản lượng sản xuất.
Các chi phí biến đổi bao gồm: nguyên vật liệu chính; nguyên vật liệu phụ;
nhiên liệu, điện, nước; bao bì đóng gói; tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất; phụ
tùng thay thế, vật rẻ tiền mau hỏng; chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí tiếp thị,
quảng cáo; chi phí quản lý…
+ Chi phí cố định: Là những chi phí không thay đổi theo sự biến đổi theo sự
biến đổi của sản lượng sản xuất và tiêu thụ.
Thuộc về chi phí cố định bao gồm những khoản mục chi phí sau: khấu hao tài
sản cố định; chi phí bảo trì, sửa chữa máy móc định kỳ; chi phí thuê mướn đất đai,
14
nhà xưởng; chi phí quản lý xí nghiệp; phí bảo hiểm tài sản cố định và kho nguyên vật
liệu, thành phẩm; lương công nhân (trường hợp không sản xuất công ty vẫn phải trả
lương tối thiểu); chi phí quản lý; các khoản phải trả cố định hàng năm;…
+ Lãi vay Ngân hàng: bao gồm lãi vay vốn lưu động và lãi vay vốn trung dài
hạn.
+ Thuế: Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, và
các loại thuế khác (nếu có).
Các định mức chi phí nên tính toán trên cơ sở các quy định hiện hành của Bộ

định lãi suất chiết khấu. Thông thường, người ta dùng Chi phí vốn bình quân (WACC
- Weighted Average Cost of Capital) làm lãi suất chiết khấu để tính NPV. Có thể vận
dụng công thức xác định WACC trong trường hợp đầu tư dự án như sau:
i = WACC = r
E
E/V + r
D
D/V + r
S
S/V
Trong đó: V là tổng vốn đầu tư của dự án
E là vốn chủ sở hữu
D là vốn vay thương mại
S là các nguồn vốn khác nếu có (Vốn vay trả chậm nước ngoài, vốn vay ưu
đãi từ Ngân hàng Phát Triển,…)
r
E
là mức lợi tức kỳ vọng của Chủ đầu tư
r
D
là lãi suất vay thương mại
r
S
là lãi suất vay ưu đãi (nếu có)
Về nguyên tắc, dự án càng rủi ro thì mức lợi tức kỳ vọng của chủ đầu tư càng
cao, lãi suất vay ngân hàng càng cao. Thời hạn vay vốn càng dài và tỷ trọng vốn vay
càng lớn thì mức lãi suất vay cũng tăng tương ứng.
c. Tính toán các chỉ tiêu tài chính của Dự án
Các chỉ tiêu tài chính của dự án bao gồm:
NPV: giá trị hiện tại ròng của dự án

t
là doanh thu dự án ở năm t. Nó có thể là doanh thu thuần năm t, giá trị
thanh lý lài sản cố định ở các thời điểm trung gian (khi các tài sản hết tuổi thọ theo
quy định) và ở cuối đời dự án, vốn lưu động bỏ ra ban đầu và được thu về ở cuối đời
dự án
C
t
: Khoản chi phí của dự án ở năm t. Nó có thể là chi phí vốn đầu tư ban đầu
để tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ở thời điểm đầu và tạo ra tài sản cố định
ở các năm trung gian, chi phí vận hành hàng năm của dự án...
t là số năm họat động của dự án
i là lãi suất chiết khấu
K là tổng vốn đầu tư quy đổi về thời điểm dự án đi vào khai thác. Trường hợp
vốn đầu tư kéo dài trong nhiều tháng, hoặc nhiều năm, ta phải quy đổi giá trị đầu tư
về thời điểm đưa dự án vào khai thác theo công thức sau:
K = K
1
(1+i)
n
+ K
2
(1+i)
n-1
+ .............. + K
n
(1+i)
1
K
1.....n
: Vốn đầu tư năm thứ nhất đến năm thứ n

IRR là mức lãi suất chiết khấu mà tại đó NPV của dự án = 0 tức là:
NPV=


+

n
i
ii
CB
0
i
IRR)1(
)(
=0
Vì vậy để xác định IRR, cho NPV= 0 và giải phương trình này để tìm giá trị r
nào đó làm cho NPV bằng 0, giá trị r đó chính là nghiệm IRR.
Việc giải phương trình này một cách trực tiếp rất phức tạp nên người ta dùng
phương pháp nội suy để tìm IRR.
Theo phương pháp này cần tìm hai tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
(r
1
>r
2
) sao cho
ứng với r
1

và r
2
- r
1


5%
NPV
1
>0 gần 0, NPV
2
< gần 0.
Tuy nhiên, việc tính toán IRR theo công thức toán học thủ công thường lâu và
phức tạp. Người ta có thể tính IRR một cách tự động, rất dễ dàng, với độ chính xác
cao thông qua sử dụng chương trình phần mềm Microsoft Excel bằng hàm sau:
IRR(Giá trị 1, Giá trị 2,…. Giá trị n)
Trong đó: Giá trị 1,2,…n là giá trị Dòng tiên thuần các năm
18
Nguyên tắc đánh giá IRR: Thông thường, chủ đầu tư sẽ lựa chọn dự án nếu
IRR lớn hơn chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Ví dụ, nếu IRR của dự án thấp hơn
lãi suất tiết kiệm gửi tại Ngân hàng thì chủ đầu tư sẽ lựa chọn việc gửi tiền vào Ngân
hàng hơn là đầu tư vào một dự án có lợi nhuận thấp hơn và rủi ro cao hơn.
Hạn chế trong việc sử dụng IRR để đánh giá: Chỉ tiêu IRR không thể hiện
được quy mô của dự án do vậy sẽ khó trong việc so sánh giá trị này với các dự án
khác không cùng quy mô. Hơn nữa, trong trường hợp dòng tiền của dự án thay đổi
phức tạp trong vòng đời, có thể có nhiều giá trị IRR cho cùng một dự án.
 Tính NPV và IRR của chủ đầu tư: Cán bộ thẩm định có thể tính thêm chỉ
số này để tham khảo về mức độ lợi tức theo quan điểm của chủ đầu tư. Khi
tính các chỉ tiêu này, cần loại bỏ khỏi dòng tiền các yếu tố liên quan đến
việc vay vốn ngân hàng mà chỉ tính trên số tiền vốn tự có mà chủ đầu tư

nguồn trả lãi hàng năm thì cần phải cân nhắc về tỷ lệ cho vay vốn và tính hiệu quả
của dự án.
Cán bộ thẩm định cần tính xem trong trường hợp huy động toàn bộ nguồn trả
nợ dự kiến thì thời gian trả nợ vay dự kiến là bao lâu.
Lưu ý: Dòng tiền tính thời gian trả nợ gốc khác với dòng tiền tính NPV.
Trường hợp nếu thiếu hụt nguồn trả nợ hàng năm thì cần xác định phương án
bù đắp như thế nào?
1.2.3.6. Tính toán độ nhạy của dự án:
Khi tính toán độ nhạy của dự án cần xây dựng các phương án khác nhau có
thể xảy ra trong trường hợp thay đổi doanh thu, chi phí, tăng giảm công suất vận
hành,…
Trong mỗi trường hợp thay đổi, cần tính toán sự thay đổi của các chỉ tiêu
NPV, IRR và khả năng trả nợ. Trên cơ sở đó đanh giá xem dự án nhạy cảm với
những yếu tố nào nhất.
Nên xác đinh mức thay đổi tối đa của các yếu tố đó mà tại đó NPV của dự án
< 0 hoặc dự án không đủ khả năng trả nợ trong thời gian dự kiến.
Nên xác định thêm cả trường hợp hai hay nhiều yếu tố cùng thay đổi cùng một
lúc để xác định sức chịu đựng biến động của dự án.
Lưu ý: việc tính toán độ nhạy của dư án sẽ nhanh hơn nếu khi lập Bảng tính
Excel cho trường hợp cơ bản cán bộ thẩm định đã đặt những công thức tự động, khi
tính độ nhạy của tham số nào chỉ cần thay đối giá trị của tham số đó trên bảng tính.
1.2.4. Phương pháp thẩm định dự án vay vốn
Việc thẩm định tài chính dự án vay vốn có thể được tiến hành bằng nhiều
phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào từng nội dung và yêu cầu cụ thể của dự án mà
lựa chọn phương pháp cho phù hợp.
20
Các phương pháp thường được sử dụng tại Ngân hang Techcombank Hai Bà
Trưng là:
1.2.4.1. Phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu
Đây là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong công tác thẩm định tài

kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau để từ đó đưa ra kết luận cho dự án.
- Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát thể hiện tính đấy
đủ, phù hợp, hợp lý của dự án. Trong quá trình thẩm định tổng quát dự án,
cán bộ thẩm định sẽ xem xét các giấy tờ liên quan đến dự án như hồ sơ,
các nội dung cơ bản của dự án, tư cách pháp lý của chủ đầu tư, đánh giá
tính pháp lý, sự phù hợp của dự án với các quy hoạch ngành, địa phương…
Từ đó có cái nhìn tổng quát về dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của
dự án trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Dự án có thể
bị bác bỏ nếu không thỏa mãn các yêu cầu về pháp lý, các thủ tục quy định
cần thiết và không đóng góp được cho chiến lược phát triển kinh tế chung.
- Thẩm định chi tiết: Trên cơ sở các nội dung, kết luận thu được ở bước
thẩm định tổng quát, nếu dự án có tính khả thi và đáp ứng đầy đủ các quy
định cần thiết thì cán bộ thẩm định tiếp tục tiến hành thẩm định chi tiết dự
án. Ở giai đoạn này, cán bộ thẩm định cần xem xét một cách khách quan,
khoa học, chi tiết từng nội dung cụ thể ảnh hưởng đến tính khả thi, tính
hiệu quả của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, công nghệ sử
dụng, kỹ thuật, môi trường, tổ chức quản lý, hiệu quả tài chính, hiệu quả
xã hội của dự án…, xem các nội dung này có phù hợp với các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội của đất nước hay không. Mỗi nội dung sẽ được
đánh giá và nhận xét dựa theo kết quả cuả cả giai đoạn thẩm định tổng
quát và thẩm định chi tiết, từ đó cán bộ thẩm định đưa ra kết luận cuối
cùng về dự án.
Việc phân chia quá trình thẩm định tài chính dự án thành hai giai đoạn như
vậy sẽ giúp cho cán bộ thẩm định có thể rút ngắn thời gian thẩm định đối với các dự
án có hồ sơ không đầy đủ hay thiếu tính hợp pháp đồng thời cũng giúp nâng cao chất
lượng công tác thẩm định đối với từng nội dung cụ thể.
1.2.4.3. Phương pháp phân tích độ nhạy
Mỗi một dự án chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khách quan. Phương
pháp này được sử dụng kể kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính của dự
án.Phương pháp này đươc hệ thống các ngân hàng sử dụng nhiều nhất trong quá trình

tính khả thi của dự án. Khi cung cầu của các yếu tố đầu vào, sản phẩm đầu ra… của
dự án thay đổi thì sẽ làm thay đổi doanh thu và chi phí của dự án. Khi doanh thu và
chi phí thay đổi thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu tài chính của dự án, vì vậy
viêc thẩm định chúng là rất quan trọng. Bên cạnh việc dự báo thị trường làm căn cứ
thẩm định doanh thu và chi phí của dự án, phương pháp này còn giúp cán bộ thẩm
định có thể dự báo được những rủi ro có thể gặp phải trong giai đoạn thực hiện dự án,
ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của dự án, từ
đó có những biện pháp phòng ngừa thích hợp.
23
1.2.4.5. Phương pháp triệt tiêu rủi ro
Dự án đầu tư thường tồn tại trong một thời gian dài từ khi chuẩn bị đầu tư cho
đến khi vận hành hết quả đầu tư, nguồn vốn cho các dự án đầu tư thường rất lớn. Do
đó dự án luôn có thể gặp những rủi ro nhất định, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến
hiệu quả đầu tư, khả năng trả nợ của các dự án vay vốn. Do vậy, để đảm bảo tính an
toàn cho việc cung cấp vốn cho dự án đầu tư, ngân hàng phải phân tích đánh giá rủi
ro một cách kỹ lưỡng. Phương pháp triệt tiêu rủi ro là một phương pháp thực sự cần
thiết trong quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của các ngân hàng nói chung và
Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng nói riêng bởi khi lập dự án đầu tư, người lập
thường nhìn nhận dự án trong điều kiện thuận lợi, các yếu tố rủi ro chưa được xem
xét kỹ lưỡng, nhưng khi dự án đi vào giai đoạn thực hiện và vận hành thì có thể gặp
nhiều khó khăn ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư, các chỉ tiêu tài chính. Chính vì
vậy việc Ngân hàng xem xét, dự đoán những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án vay
vốn là việc thực sự cần thiết đối với việc đảm bảo an toàn cho việc cung cấp vốn vay.
Với kinh nghiệm, công nghệ, đội ngũ nhân lực chất lượng cao, Ngân hàng
Techcombank đã thiết lập một hệ thống thang điểm đánh giá rủi ro để xếp tín nhiệm
cho dự án và khách hàng phục vụ cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên,
việc sử dụng phương pháp này tại Chi nhánh hầu hết vẫn mang tính chất định tính,
việc định lượng phân cấp rủi ro vẫn chưa được thực hiện tốt. Nguyên nhân là những
rủi ro thường xảy ra đối với dự án đầu tư thường liên quan tới sự thay đổi chính sách
của chính phủ, thị trường đầu vào đầu ra nên rất khó định lượng.

như: Chương trình “Tiếp lửa truyền thống Vang mãi khúc quân hành”;
tặng nhà tình nghĩa cho gia đình liệt sỹ Hồ Văn Thiềng - huyện Châu
Thành, tỉnh Tây Ninh; tặng nhà tình thương cho anh Nguyễn Như Toàn;
tham gia tài trợ cho chương trình “hàn gắn nỗi đau” nhằm gây quỹ chăm
sóc cho nạn nhân chất độc da cam, chương trình “Thăm lại chiến trường
xưa”; tặng xe ô tô cho anh Dương Mạnh Đồng - lái xe - vì đã trung thực
trả cho khách hàng tài sản có giá trị lớn và nhiều các hoạt động xã hội -
đoàn thể khác… với tổng chi phí lên đến hàng tỷ đồng. Mặt khác, chất
lượng phục vụ cũng như thương hiệu của Công ty ngày càng được khẳng
định bằng những tấm gương người tốt, việc tốt của những cán bộ nhân
viên trong Công ty trong việc trả lại tài sản có giá trị lớn, tham gia bắt
cướp, phòng chống tội phạm hay việc anh tài xế Nguyễn Duy Linh (Tp Hồ
Chí Minh) nhặt được đứa trẻ bị bỏ trên xe của anh về nuôi nấng dạy dỗ,
coi như con cái trong nhà…
- Ngoài lĩnh vực kinh doanh chính là taxi, Công ty còn mở rộng quy mô hoạt
động sang nhiều lĩnh vực, thêm nhiều thành viên mới trong hệ thống Gia
đình Mai Linh gồm: Trung tâm Lữ hành Mai Linh (Malinhtourism), Trung
25

Trích đoạn BẢNG 1 3 HIỆU QUẢ DỰ ÁN Những kết quả đạt được Những hạn chế còn tồn tại trong công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn tại Ngân hàng Một số nguyên nhân chính gây ra các hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự ánvay vốn tại Ngân hàng Định hướng phát triển trong công tác thẩm định tài chính tài Ngân hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status