Tài liệu TIỂU LUẬN: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn tại ngân hàng techcombank hai bà trưng - Pdf 10

TIỂU LUẬN:

Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định
tài chính dự án vay vốn tại ngân hàng
techcombank hai bà trưng LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, nên nhu
cầu về vốn đầu tư phục vụ cho hoạt động sản xuất là rất lớn. Tuy nhiên, không phải
doanh nghiệp, cá nhân nào cũng có thể tự đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất của mình bằng
nguồn vốn tự có mà phải huy động từ rất nhiều nguồn khác nhau trong đó ngân hàng là
một kênh huy động phổ biến nhất. Với sự phát triển mạnh mẽ, hiện nay các ngân hàng đã
trở thành trung tâm tài chính hết sức quan trọng trong nền kinh tế. Các ngân hàng có vai
trò quan trọng trong việc điều chuyển vốn giữa các thành phần trong nền kinh tế giúp cho
nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả hơn, giúp cho nhà đầu tư có thể tự thực hiện được ý
tưởng kinh doanh của mình, thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần đẩy
mạnh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Số lượng dự án đầu tư vay vốn
tìm đến ngân hàng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn là một doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực tài chính nên mục tiêu lợi nhuận vẫn được đặt lên hàng đầu. Vì vậy
việc đảm bảo an toàn cho vốn vay là một việc hết sức quan trọng đối với các ngân hàng

Trong suôt quá trình hoạt động, chi nhánh luôn là một trong những chi nhánh hoàn
thành xuất sắc chỉ tiêu đề ra, và đạt nhiều giải thưởng của toàn hệ thống Techcombank về
chi nhánh xuất sắc và cá nhân lao động điển hình.
1.1.2. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong những năm
gần đây
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Năm 2008 đánh dấu mốc bằng việc khủng hoảng thanh khoản của các ngân hàng.
Có những lúc lãi suất huy động lên tới 18,75%. Tuy nhiên, với các hoạt động phong phú
của mình, chi nhánh Techcombank HBT đã đạt được những kết quả khả quan trong hoạt
động huy động vốn. Chi nhánh đã hoàn thành chỉ tiêu huy động vốn trong chương trình
Phát lộc đầu xuân giải thưởng 1 tỷ đồng. Đặc biệt là khách hàng chi nhánh đã may mắn
giành giải nhất, nhì và khuyến khích. Tổng vốn huy động trong năm 2008 đạt 435,658 tỷ
đồng, tổng vốn lũy kế đạt 616,026 tỷ VNĐ.
Bảng 1: Kết quả huy động vốn 2007- 2009
Đơn vị: VNĐ
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
Tổng vốn huy đ
ộng
180,366,684,648 435,658,245,187 503,129,476,024
Huy động TCKT 5,002,301,316 39,873,367,126 54,029,159,786
Huy động dân cư 175,364,383,332 395,784,878,061 449,100,316,148
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007 – 2009
Qua bảng trên ta thấy tổng mức vốn huy động của chi nhánh HBT không ngừng
tăng lên qua các năm. Năm 2008 tổng mức huy động tăng 141,54% so với năm 2007.
Năm 2009 tổng mức huy động tăng 15,48%. Có thể thấy rằng năm 2008 là một năm tăng
trưởng mạnh mẽ của chi nhánh trong hoạt động huy động vốn. Năm 2007 tổng mức huy
động còn chưa lớn do chi nhánh mới hoạt động chưa lâu, hầu hết khách hàng trên địa bàn

Nội. Những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008 các ngân hàng ồ ạt chạy đua tăng lãi
suất đã làm cho thị trường tài chính của chúng ta thêm bất ổn. Sự cạnh tranh giữa các
ngân hàng ngày càng gay gắt. Mỗi ngân hàng đều đưa ra mức lãi suất hấp dẫn cùng
những chương trình khuyến mại đặc biệt để thu hút khách hàng. Bám sát diễn biến của
thị trường đồng thời vận dụng đúng đắn, linh hoạt các chủ trương, chính sách của nhà
nước, Techcombank Hai Bà Trưng đã có những giải pháp tích cực, quan tâm và tìm hiểu
kĩ mọi đối tượng khách hàng nên kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh vẫn đạt những
kết quả tốt cả về tốc độ tăng trưởng và chất lượng các khoản đầu tư.
Bảng 2: Kết quả hoạt động tín dụng trong năm 2007-2009
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
Tổng dư nợ 36,925 285,391 407,266
1. Doanh nghiệp 13,228 240,151 319,437
2. Cá nhân hộ gia đình 20,696 41,241 81,473
3. Khác 3,001 3,999 8,779
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh
Qua bảng trên ta thấy hoạt động tín dụng của chi nhánh có sự tăng trưởng phát triển mạnh mẽ qua các năm. Năm 2007 dư nợ là 36, 925 tỷ đồng, đến năm 2008 đã tăng
lên thành 285,391 tỷ đồng (tăng 672,89%), đây là một con số khá ấn tượng đối với một
chi nhánh mới thành lập như chi nhánh Techcombank HBT. Điều đó thể hiện nỗ lực của
toàn thể cán bộ nhân viên của ngân hàng cùng sự lãnh đạo sáng suốt của ban lãnh đạo
ngân hàng. Năm 2007 dư nợ tín dụng chỉ đạt con số 36,925 tỷ là do chi nhánh mới thành
lập nên khách hàng chưa biết đến nhiều, cần có thời gian tạo dựng mối quan hệ với khách
hàng. Từ năm 2008 hoạt động của ngân hàng dần đi vào ổn định và tăng trưởng, năm
2009 tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh là 407,266 tỷ đồng (tăng 42,71%). Cho vay đối
với doanh nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng dư nợ của Techcombank, khoảng
75% - 84%. Khách hàng là những doanh nghiệp lớn của chi nhánh không nhiều, số lượng
những doanh nghiệp lớn này chỉ chiếm khoảng 10% nhưng lại chiếm tới 40% tổng dư nợ

được kiểm tra định kỳ sau khi giải ngân, thường xuyên cập nhật thông tin liên quan đến
khách hàng….Nhờ có các công tác đó được tiến hành một cách tổng thể và thường xuyên
và hoạt động tín dụng của chi nhánh tương đối hiệu quả.
1.1.2.3. Các hoạt động khác
- Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong cơ
chế hoạt động. Tuy vậy với những cố gắng không ngừng trong công tác kinh doanh đối
ngoại – tài trợ thương mại nên nhìn chung chi nhánh đã có những bước phát triển đáng
kể. Năm 2009 thu lãi từ tiền cho vay tài trợ xuất nhập khẩu là 4,715 tỷ đồng trong đó từ
doanh nghiệp lớn là 34 triệu đồng, từ doanh nghiệp vừa và nhỏ là 4,681 tỷ đồng
- Trong lĩnh vực thanh toán quốc tế: 100% giao dịch được thực hiện an toàn chính
xác và chấp hành nghiêm chỉnh luật quốc gia, thông lệ, luật pháp quốc tế. Doanh thu thu
phí thanh toán quốc tế năm 2009 là 5,433 tỷ đồng.
- Do chi nhánh mới hoạt động trong vòng 5 năm nên các hoạt động mua bán ngoại
tệ, chi trả kiều hối còn chưa phát triển mạnh mẽ.
- Công tác phát hành bảo lãnh cũng bước đầu phát triển, đây là một dịch vụ tiềm
năng sẽ mang lại một nguồn thu phí dịch vụ lớn trong tương lai. Tổng số bảo lãnh năm
2009 tương đương với số tiền là 39,258 tỷ VNĐ
1.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Techcombank Hai Bà
Trưng trong những năm 2007 – 2009 Bảng 3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Techcombank HBT
năm 2007 - 2009
Đơn vị: Triệu đồng
Khoản mục 2007 2008 2009
Tổng thu nhập hoạt động thuần
10.273 16.638 13.596
Doanh thu thu lãi
50.496 62.692 85.482
Thu lãi tiền cho vay 15.027 28.349 16.497

8.555 11.432 9.281 Trích dự phòng rủi ro tín dụng
2.507 3.364 4.709
Lợi nhuận trước thuế
6.048 8.067 4.572
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007-2009 của chi nhánh Hai Bà Trưng
Qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2007 đến 2009 ta có thể thấy rằng
năm 2008 được coi là năm mà kết quả kinh doanh của chi nhánh tốt nhất đạt 8,067 tỷ
đồng. Doanh thu thu lãi năm 2008 tăng 24,15% so với năm 2007. Năm 2009 doanh thu
thu lãi tăng 36,35%. Doanh thu thu phí năm 2008 tăng 25,72% so với năm 2007, năm
2009 tăng 101,48 % so với năm 2008. Đây là một kết quả khá ấn tượng trong bối cảnh
nền kinh tế bị khủng hoảng. Qua đây có thể thấy, năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới nên kết quả hoạt động có kém hơn năm 2008 nhưng so với
tình hình của các ngân hàng khác ngoài hệ thống Techcombank đó là một kết quả khá tốt.
1.2. Thực trạng công tác thẩm định dự án vay vốn tại Ngân hàng
Techcombank Hai Bà Trưng
1.2.1. Vai trò của công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn
Thẩm định tín dụng là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra,
đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một dự án mà khách hàng xuất trình nhằm phục vụ
cho việc ra quyết định cho vay. Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định dự án vay vốn cố
gắng phân tích và hiểu được tính chất khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế đứng trên
góc độ ngân hàng. Khi lập dự án, khách hàng do mong muốn được vay vốn có thể đã thổi
phồng và dẫn đến ước lượng quá lạc quan về hiệu quả kinh tế của dự án. Do vậy thẩm
định giúp ngân hàng đánh giá đúng thực chất của dự án. Mục đích của thẩm định dự án
vay vốn là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để
làm căn cứ quyết định cho vay. Trong quy trình đó, thẩm định tài chính là một nội dung
lớn và rất quan trọng trong việc ra quyết định vay vốn. Thẩm định tài chính dự án là rà
soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án vay vốn

Cho điểm tín dụng và phân loại khách
hàng

Thẩm định chi tiết dự án

Lập báo cáo thẩm định và trình trưởng/
phó phòng thẩm định

Thông báo kết quả thẩm định

Khách hàng
Phòng thẩm định
Phòng tín dụng Bước 2: Phòng thẩm định nhận đề xuất tín dụng từ phòng khách hàng. Trưởng
phòng thẩm định tiến hành phân công nhiệm vụ cho cán bộ trong phòng. Cán bộ thẩm
định được phân công có trách nhiệm nhận và kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ đề xuất tín
dụng. Nếu hồ sơ thiếu tài liệu nào phòng thẩm định yêu cầu phòng khách hàng cung cấp
thêm thông tin.
Bước 3: Đối với đề xuất tín dụng đã đầy đủ thông tin, cán bộ thẩm định tiến hành
kiểm tra xem các nội dung trong đề xuất tín dụng có phù hợp với các chính sách, quy
trình tín dụng hiện hành hay không và tiến hành cho điểm tín dụng và phân loại khách
hàng vay vốn.
Bước 4: Cán bộ thẩm định tiến hành thẩm định chi tiết dự án vay vốn.
Bước 5: Đối với dự án đã được thẩm định, cán bộ thẩm định lập báo cáo thẩm
định và trình trưởng/ phó phòng xem xét.
Bước 6: Trưởng phòng thẩm định tiến hành xem xét, nếu dự án chưa đạt sẽ yêu
cầu cán bộ thẩm định thẩm định lại, nếu đã đạt yêu cầu trưởng phòng thẩm định thông
qua, lưu hồ sơ, gửi trả hồ sơ kèm báo cáo thẩm định cho trưởng phòng khách hàng.

Vốn lưu động: Cán bộ thẩm định của Ngân hàng sẽ xem xét nhu cầu vốn lưu động
ban đầu (đối với dự án xây dựng mới) hoặc nhu cầu vốn lưu động bổ sung (đối với dự án
mở rộng bổ sung thiết bị) để dự án sau khi hoàn thành có thể hoạt động bình thường.
Việc xác định đúng đắn vốn đầu tư của dự án là rất cần thiết, tránh hai khuynh
hướng là tính quá cao hoặc quá thấp (cần so sánh suất đầu tư với các dự án tương tự) ảnh
hưởng đến tiến độ và hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của dự án. Cán bộ thẩm định
cần xem xét, đánh giá tổng vốn đầu tư của dự án đã được tính toán hợp lý hay chưa, tổng
vốn đầu tư đã tính đủ các khoản cần thiết chưa, cần xem xét các yếu tố làm tăng chi phí
do trượt giá, phát sinh thêm khối lượng công việc, thay đổi tỷ giá đối với các dự án có sử
dụng ngoại tệ.
Sau khi thẩm tra tổng mức vốn đầu tư, cần xem xét việc phân bổ vốn đầu tư theo
tiến độ bỏ vốn cho dự án. Tiến độ bỏ vốn được căn cứ theo tốc độ triển khai đầu tư dự án,
các điều kiện về tạm ứng vốn hoặc thanh toán khối lượng trong các hợp đồng giao nhận
thầu cũng như khả năng tham gia của các nguồn vốn đầu tư vào dự án. Việc này đặc biệt
quan trọng đối với các dự án có thời gian xây dựng dài. 1.2.3.2. Thẩm định nguồn vốn huy động cho dự án.
Một dự án đưa ra được các kế hoạch để thực hiện nhưng nếu không đủ nguồn vốn
để triển khai thực hiện thì sẽ không khả thi. Vì vậy công tác thẩm định kế hoạch huy
động vốn cho dự án là rất cần thiết đối với ngân hàng. Trên cơ sở vốn đầu tư cho dự án,
ngân hàng tiến hành xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, để đảm bảo tiến độ thực hiện
dự án, các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về mặt số lượng mà còn phải xem xét thời
điểm nhận tài trợ.
Các nguồn vốn huy động cho dự án bao gồm:
Vốn tự có: Ngân hàng sẽ thẩm định khả năng chủ đầu tư góp vốn cho dự án,
phương thức góp vốn (tiền mặt, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thương mại, góp bằng
giá trị thi công xây lắp,phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường…), tiến độ góp vốn.
Vốn vay nước ngoài: Cán bộ thẩm định xem xét việc vay vốn đã được xác nhận ở
mức độ nào, khả năng thực hiện và tiến độ thực hiện của vốn.

như hỏng hóc đột xuất, cúp điện ; các yếu tố đầu vào được đảm bảo đầy đủ, liên tục;…
 Công suất hoạt động thực tế của dự án: là công suất hoạt động mà dự án
dự kiến đạt được trong từng năm kể từ khi đi vào vận hành khai thác. Công suất thực tế
của dự án thường khác nhau qua các năm. Thông thường thiết bị trong những năm đầu
sản xuất thường chưa đạt ngay công suất thiết kế do năng lực điều hành, tổ chức sản xuất,
sự chưa thành thục của người lao động, do nhu cầu thị trường, do khả năng gia nhập thị
trường của sản phẩm mới, do nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu chưa ổn định
Tuỳ theo tính chất của từng ngành nghề và đặc điểm của thị trường, tham khảo số
liệu của các đơn vị cùng ngành, cán bộ thẩm định có thể giả định công suất thực hiện
hàng năm một cách phù hợp để tính toán hiệu quả dự án.
 Xác định giá bán và doanh thu dự kiến
 Xác định giá bán:
Cán bộ thẩm định sẽ xem xét: Sản phẩm sản xuất ra bán theo phương thức gì, bán
buôn hay bán lẻ, giá bán hiện tại là bao nhiêu, so sánh với giá bán các sản phẩm tiêu thụ
trên thị trường, xu hướng biến động giá cả trong tương lai là thuận lợi hay bất lợi. Thông
thường ngân hàng thường xác định giá bán bình quân của sản phẩm dự án.
Đơn giá bình quân của sản phẩm dự án được tính theo công thức: P= (

Pi x Qi)/

Qi
Trong đó:
P: đơn giá bình quân của sản phẩm dự án.
Pi: đơn giá của sản phẩm loại i
Qi: Số lượng sản phẩm loại i
Để có thể đánh giá được chính xác khả năng biến động của giá cả, cán bộ thẩm
định của ngân hàng đã thu thập và phân tích các số liệu thống kê về giá cả của sản phẩm

xưởng; chi phí quản lý xí nghiệp; phí bảo hiểm tài sản cố định và kho nguyên vật liệu,
thành phẩm; lương công nhân (trường hợp không sản xuất công ty vẫn phải trả lương tối
thiểu); chi phí quản lý; các khoản phải trả cố định hàng năm;…
 Lãi vay Ngân hàng: bao gồm lãi vay vốn lưu động và lãi vay vốn trung dài
hạn.
 Thuế: Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, và
các loại thuế khác (nếu có).
Các định mức chi phí nên tính toán trên cơ sở các quy định hiện hành của Bộ Tài
chính, các định mức mà đơn vị hoặc các đơn vị khác cùng ngành đã và đang thực hiện,
đặc tính tiêu hao nguyên nhiên vật liệu và sử dụng lao động của dây chuyền công nghệ
mới,…
1.2.3.4. Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án
a. Tính toán dòng tiền:
Trước tiên, cán bộ thẩm định cần xác định khoảng thời gian phù hợp để tính toán
dòng tiền và hiệu quả tài chính của dự án (thông thường khoảng thời gian tính toán phải
dài hơn thời gian vay vốn ngân hàng dự kiến, nếu tính cho cả đời dự án theo giấy phép
đầu tư thì cần lưu ý về việc tái đầu tư lại một số tài sản cố định sau một thời gian nhất
định).
Căn cứ vào các yếu tố giả định về sản lượng, giá bán, chi phí, cán bộ thẩm định
lập bảng tính xác định: lợi nhuận trước thuế hàng năm, thuế thu nhập hàng năm (có tính
tới các chính sách ưu đãi đầu tư), lợi nhuận sau thuế hàng năm.
Dòng tiền thuần năm t = Lợi nhuận sau thuế năm t + Khấu hao năm t + Lãi vay cố
định năm t - giá trị đầu tư bổ sung tài sản năm t + giá trị thanh lý tài sản năm t Dòng tiền của dự án bao gồm vốn đầu tư cố định ban đầu (giá trị âm) và
Dòng tiền thuần các năm trong đời dự án.
Đối với các dự án có nhu cầu vốn lưu động lớn trong tổng mức đầu tư, cán bộ
thẩm định cần cân nhắc việc tính toán cả vốn lưu động vào dòng tiền. Như vậy, giá trị
đầu tư ban đầu cần bao gồm cả vốn lưu động và vào năm cuối của dự án hoặc năm cuối

r
S
là lãi suất vay ưu đãi (nếu có)
Về nguyên tắc, dự án càng rủi ro thì mức lợi tức kỳ vọng của chủ đầu tư càng cao,
lãi suất vay ngân hàng càng cao. Thời hạn vay vốn càng dài và tỷ trọng vốn vay càng lớn
thì mức lãi suất vay cũng tăng tương ứng.
c. Tính toán các chỉ tiêu tài chính của Dự án
Các chỉ tiêu tài chính của dự án bao gồm:
NPV: giá trị hiện tại ròng của dự án
IRR: hệ số hoàn vốn nội bộ
T: Thời gian hoàn vốn đầu tư
Điểm hòa vốn  Giá trị hiện tại ròng (NPV- Net Present Value)
Giá trị hiện tại ròng là chênh lệch giữa các khoản thu và tổng các chi phí của dự án
quy về thời điểm hiện tại.
Xác định NPV của dự án theo quan điểm tổng đầu tư:

CF
1
CF
2
CFt
NPV = -K + + + +
(1+i) (1+i)
2

điểm đưa dự án vào khai thác theo công thức sau:
K = K
1
(1+i)
n
+ K
2
(1+i)
n-1
+ + K
n
(1+i)
1

K
1 n
: Vốn đầu tư năm thứ nhất đến năm thứ n
n : thời gian xây dựng dự án
Hiện nay, việc tính NPV có thể được thực hiện tự động thông qua sử dụng chương
trình phần mềm Microsoft Excel bằng hàm sau:
NPV(Lãi suất chiết khấu, Giá trị 1, Giá trị 2,….Giá trị n)
Trong đó: Giá trị 1,2,…n là giá trị Dòng tiên thuần các năm.
Nguyên tắc đánh giá NPV: NPV giúp cho chủ đầu tư có cơ sở trong việc lựa chọn
và quyết định đầu tư dự án.
Chủ đầu tư chỉ đầu tư vào các dự án có NPV > 0 nghĩa là tổng các khoản thu của
dự án

tổng các khoản chi phí sau khi đã đưa về mặt bằng hiện tại và luôn mong muốn
tối đa hoá giá trị NPV thu được. Dự án không được chấp nhận khi NPV < 0 nghĩa là tổng
thu của dự án không bù đắp được chi phí bỏ ra.

IRR)1(
)(
=0
Vì vậy để xác định IRR, cho NPV= 0 và giải phương trình này để tìm giá trị r nào
đó làm cho NPV bằng 0, giá trị r đó chính là nghiệm IRR.
Việc giải phương trình này một cách trực tiếp rất phức tạp nên người ta dùng
phương pháp nội suy để tìm IRR.
Theo phương pháp này cần tìm hai tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
(r
1
>r
2
) sao cho ứng
với r
1
ta có NPV
1
>0, ứng với r
2
ta có NPV
2
<0. IRR cần tìm (ứng với NPV=0) sẽ nằm
giữa hai tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
. Việc nội suy giá trị IRR giữa hai giá trị tỷ suất chiết

Tuy nhiên, việc tính toán IRR theo công thức toán học thủ công thường lâu và
phức tạp. Người ta có thể tính IRR một cách tự động, rất dễ dàng, với độ chính xác cao
thông qua sử dụng chương trình phần mềm Microsoft Excel bằng hàm sau:
IRR(Giá trị 1, Giá trị 2,…. Giá trị n)
Trong đó: Giá trị 1,2,…n là giá trị Dòng tiên thuần các năm
Nguyên tắc đánh giá IRR: Thông thường, chủ đầu tư sẽ lựa chọn dự án nếu IRR
lớn hơn chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Ví dụ, nếu IRR của dự án thấp hơn lãi suất
tiết kiệm gửi tại Ngân hàng thì chủ đầu tư sẽ lựa chọn việc gửi tiền vào Ngân hàng hơn là
đầu tư vào một dự án có lợi nhuận thấp hơn và rủi ro cao hơn.
Hạn chế trong việc sử dụng IRR để đánh giá: Chỉ tiêu IRR không thể hiện được
quy mô của dự án do vậy sẽ khó trong việc so sánh giá trị này với các dự án khác không cùng quy mô. Hơn nữa, trong trường hợp dòng tiền của dự án thay đổi phức tạp trong
vòng đời, có thể có nhiều giá trị IRR cho cùng một dự án.
 Tính NPV và IRR của chủ đầu tư: Cán bộ thẩm định có thể tính thêm chỉ số
này để tham khảo về mức độ lợi tức theo quan điểm của chủ đầu tư. Khi tính các chỉ tiêu
này, cần loại bỏ khỏi dòng tiền các yếu tố liên quan đến việc vay vốn ngân hàng mà chỉ
tính trên số tiền vốn tự có mà chủ đầu tư bỏ ra và số tiền chủ đầu tư thu về hàng năm sau
khi đã thanh toán lãi vay và lịch trả nợ hàng năm. Lãi suất chiết khấu áp dụng là mức lợi
tức kỳ vọng của chủ đầu tư.
 Thời gian hoàn vốn đầu tư:
Cán bộ thẩm định cần tính Thời gian hoàn vốn đầu tư có chiết khấu. Theo cách
này, người ta sử dụng lãi suất chiết khấu để quy dòng tiền thuần hoạt động hàng năm về
giá trị hiện tại. Thời gian hoàn vốn có chiết khấu là thời điểm mà tổng lũy kế các giá trị
chiết khấu của dòng tiền thuần hàng năm bằng tổng mức đầu tư cố định quy đổi.
 Sản lượng, doanh thu hoà vốn
Sản lượng hoà vốn và doanh thu hoà vốn là mức sản lượng và doanh thu mà tại đó
lợi nhuận hàng năm của dự án = 0.
Việc xác định sản lượng và doanh thu hoà vốn có thể thực hiện dễ dàng bằng các

Nên xác đinh mức thay đổi tối đa của các yếu tố đó mà tại đó NPV của dự án < 0
hoặc dự án không đủ khả năng trả nợ trong thời gian dự kiến.
Nên xác định thêm cả trường hợp hai hay nhiều yếu tố cùng thay đổi cùng một lúc
để xác định sức chịu đựng biến động của dự án.
Lưu ý: việc tính toán độ nhạy của dư án sẽ nhanh hơn nếu khi lập Bảng tính Excel
cho trường hợp cơ bản cán bộ thẩm định đã đặt những công thức tự động, khi tính độ
nhạy của tham số nào chỉ cần thay đối giá trị của tham số đó trên bảng tính. 1.2.4. Phương pháp thẩm định dự án vay vốn
Việc thẩm định tài chính dự án vay vốn có thể được tiến hành bằng nhiều phương
pháp khác nhau tuỳ thuộc vào từng nội dung và yêu cầu cụ thể của dự án mà lựa chọn
phương pháp cho phù hợp. Các phương pháp thường được sử dụng tại Ngân hang Techcombank Hai Bà
Trưng là:
1.2.4.1. Phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu
Đây là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong công tác thẩm định tài
chính dự án vay vốn ở Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng vì nó có ưu điểm là đơn
giản. Ở phương pháp này, cán bộ thẩm định sẽ tính toán các chỉ tiêu liên quan đến dự án
và so sánh, đối chiếu chúng với những quy chuẩn của từng ngành thuộc lĩnh vực của dự
án đầu tư hay so sánh với các dự án đầu tư khác đã được thẩm định trước đó. Phương
pháp so sánh đối chiếu được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp
nhận được.
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư, suất đầu
tư…
- Các định mức về sản xuất, chi phí quản lý, nhân công, tiêu hao năng lượng,
nguyên liệu, nhiên liệu…

- Thẩm định chi tiết: Trên cơ sở các nội dung, kết luận thu được ở bước thẩm
định tổng quát, nếu dự án có tính khả thi và đáp ứng đầy đủ các quy định cần thiết thì cán
bộ thẩm định tiếp tục tiến hành thẩm định chi tiết dự án. Ở giai đoạn này, cán bộ thẩm
định cần xem xét một cách khách quan, khoa học, chi tiết từng nội dung cụ thể ảnh
hưởng đến tính khả thi, tính hiệu quả của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường,
công nghệ sử dụng, kỹ thuật, môi trường, tổ chức quản lý, hiệu quả tài chính, hiệu quả xã
hội của dự án…, xem các nội dung này có phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của đất nước hay không. Mỗi nội dung sẽ được đánh giá và nhận xét dựa theo kết quả
cuả cả giai đoạn thẩm định tổng quát và thẩm định chi tiết, từ đó cán bộ thẩm định đưa ra
kết luận cuối cùng về dự án.
Việc phân chia quá trình thẩm định tài chính dự án thành hai giai đoạn như vậy sẽ
giúp cho cán bộ thẩm định có thể rút ngắn thời gian thẩm định đối với các dự án có hồ sơ
không đầy đủ hay thiếu tính hợp pháp đồng thời cũng giúp nâng cao chất lượng công tác
thẩm định đối với từng nội dung cụ thể.
1.2.4.3. Phương pháp phân tích độ nhạy

Trích đoạn Thẩm đinh khách hàng Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án Những kết quả đạt được Những hạn chế còn tồn tại trong công tác thẩm định tài chính dự án Một số nguyên nhân chính gây ra các hạn chế trong công tác thẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status