Hoc gioi can biet. - Pdf 74

Hớng dẫn cách học và làm bài thi học sinh giỏi Địa lí
A.Điểm khác của học sinh (HS) giỏi với học sinh bình thờng là ở chỗ HS giỏi nắm kiến thức cơ bản địa lí vững chắc
và toàn diện hơn, có kĩ năng địa lí hoàn thiện hơn và đặc biệt, có t duy địa lí linh hoạt và sâu sắc hơn. ở mức độ cao
hơn nữa, HS giỏi là những ngời có khả năng sáng tạo, nghĩa là khả năng tìm ra cái mới, cách giải quyết mới.
Nh vậy, để trở thành HS giỏi nói chung và HS giỏi địa lí nói riêng, cần phải rèn luyện trên cả ba phơng diện : kiến
thức, kĩ năng địa lí và kĩ năng t duy.
1. Kiến thức
a) Kiến thức địa lí phổ thông hiện hành gồm cả địa lí đại cơng (tự nhiên, kinh tế xã hội), địa lí thế giới (tự nhiên,
kinh tế xã hội), địa lí Việt Nam (tự nhiên, kinh tế xã hội).
Trái Đất môi trờng sống của con ngời (các thành phần cấu tạo và tác động qua lại giữa chúng, một số quy luật
của môi trờng tự nhiên trên Trái Đất ; dân c và các hoạt động của dân c trên Trái Đất ; mối quan hệ giữa dân c, hoạt
động sản xuất và môi trờng).
Đặc điểm của nền kinh tế thế giới đơng đại. Đặc điểm tự nhiên, dân c, kinh tế xã hội của một số khu vực, quốc
gia trên thế giới.
Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân c, kinh tế và những vấn đề đặt ra đối với tự nhiên, dân c, kinh tế
xã hội của đất nớc, của các vùng và địa phơng nơi HS đang sinh sống.
b) Trong mỗi lĩnh vực, những kiến thức cơ bản mà HS cần hiểu sâu, nhớ lâu, vận dụng đợc là các khái niệm, mối
liên hệ nhân quả địa lí, quy luật địa lí, các học thuyết, quan điểm địa lí. Những loại kiến thức này làm rõ bản chất tri
thức địa lí.
c) Kiến thức địa lí phổ thông mà HS cần nắm, đợc chia thành 6 mức độ :
Biết : Ghi nhớ đợc các sự kiện, khái niệm, định nghĩa, hệ quả, thuật ngữ và các nguyên lí dới hình thức đợc học.
Hiểu : Hiểu đợc kí hiệu, ý nghĩa và mối liên hệ trong khái niệm, định lí, hệ quả, công thức,... Có khả năng diễn giải,
mô tả, tóm tắt thông tin đã thu đợc, không nhất thiết phải liên hệ t liệu này với t liệu khác.
Vận dụng : Sử dụng thông tin trong các tình huống khác với tình huống đã học ; khái quát hoá, trừu tợng hoá những
kiến thức đã biết.
Phân tích : Biết cách tách tổng thể thành các bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa các bộ phận đó với nhau trong cùng
một cấu trúc.
Tổng hợp : Biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể cũ. Cần có khả năng phân tích để đi đến
tổng hợp. ở đây bắt đầu thể hiện sự sáng tạo của cá nhân.
Đánh giá : Đòi hỏi có những hành động so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định trên cơ sở các tiêu chí và tính hợp lí.
Cần có khả năng tổng hợp để đánh giá.

điểm.
b) T duy diễn ra trong khuôn khổ của các thao tác t duy : phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tợng hoá, khái quát hoá.
Nếu sử dụng các thao tác t duy này một cách linh hoạt, thì sẽ đa đến các kết quả thích hợp. Do vậy trong quá trình
học tập cũng nh ôn luyện thi HS giỏi địa lí cần phải chú trọng rèn luyện các thao tác t duy này.
B. Nhớ kiến thức một cách lôgic
Muốn có t duy lôgic, phải có một hệ thống kiến thức nhất định.
Hiện nay, một số HS có quan niệm cực đoan rằng chỉ cần có t duy tốt là đủ để nắm đợc các kiến thức cần thiết ; hay
nói cách khác, chỉ cần thông minh là thi đợc HS giỏi địa lí. Đó là một quan niệm không đúng. Cần nhớ rằng mục tiêu
của việc học tập là vừa có đợc những kiến thức cơ bản, vừa phát triển đợc năng lực t duy. Muốn t duy phải có kiến
thức .Không có đủ kiến thức cần thiết, nh nói ở trên, không thể có t duy địa lí đợc. Chính vì vậy, học để nắm chắc
kiến thức là việc làm hết sức quan trọng, không chỉ riêng đối với HS giỏi địa lí, mà đối với tất cả các em học sinh nói
chung.
Nắm chắc kiến thức có nghĩa là hiểu đợc, nhớ lâu bền kiến thức địa lí cần thiết và có thể vận dụng đợc vào các trờng
hợp cụ thể. Để nhớ lâu bền, cần phải có trí nhớ lôgic. Muốn ghi nhớ lôgic, trong quá trình ghi nhớ phải hiểu và vận
dụng đợc các quy luật của trí nhớ.
a) Trí nhớ là hoạt động phản xạ có điều kiện. Muốn lập đợc phản xạ có điều kiện, thông tin phải lặp đi lặp lại nhiều
lần. Do vậy, trong ghi nhớ kiến thức, việc ôn tập thờng xuyên tỏ ra hết sức cần thiết. Sau một số bài, sau một chơng
hoặc một số chơng, cần phải ôn tập để tăng cờng ghi nhớ.

b) Nhớ lâu đợc dựa trên ấn tợng mạnh. Một kiến thức hay, một cách giải quyết vấn đề độc đáo, một lần bị sai lầm
và nhận ra đợc,... là những ấn tợng khó quên, lu lại lâu bền trong trí nhớ mỗi HS. Vì vậy, khi học bài địa lí, cần chú ý
tạo ra các ấn tợng sâu về kiến thức. Các ấn tợng có thể bắt nguồn từ việc sử dụng phơng tiện trực quan trong khi học
bài (ví dụ khi học về các sự vật, hiện tợng địa lí nên sử dụng Atlát địa lí, hay bản đồ trong SGK, bản đồ treo tờng ;
khi học về các tầng đất nên quan sát phẫu diện ; khi học về hình thái địa hình nên dựa vào lát cắt địa hình....), từ việc
kết hợp nghe và nhìn (quan sát videoclip, băng hình địa lí...), từ việc làm (trao đổi, tranh luận với bạn ; làm các bài
thực hành, giải các bài tập địa lí...). Một kết quả nghiên cứu s phạm đã chỉ ra : kiến thức đợc nhớ là nhờ 10% qua
đọc, 20% qua nghe, 30% qua nhìn, 50% qua nghe và nhìn, 80% qua nói và 90% qua làm. Vì vậy, để tăng cờng ghi
nhớ, nên chọn các biện pháp học tập đề cao vai trò của trao đổi, thảo luận, thực hành, hoặc kết hợp nghe và nhìn, hỏi
thầy và bạn về những điều cha rõ...
c) Nhớ lâu bắt nguồn từ hứng thú học tập. Nếu một HS đam mê với việc giải thích các hiện tợng địa lí, HS đó sẽ

Trang 3
đầu của cả nớc. Hay, phân tích sự thay đổi về mối tơng quan giữa xuất khẩu và nhập khẩu ở nớc ta từ năm 1980 đến
nay.
+ Câu hỏi tổng hợp : nhằm làm cho HS xác lập đợc tính thống nhất và mối liên hệ giữa các thuộc tính của các sự
vật, bộ phận hay dấu hiệu của chúng. Câu hỏi tổng hợp không phải là tổng cộng đơn thuần các bộ phận của sự vật địa
lí. Sự tổng hợp đúng sẽ là một hoạt động t duy mang lại kết quả mới nhất về chất. Ví dụ : Chứng minh rằng nền công
nghiệp nớc ta có cơ cấu ngành khá đa dạng. Vị trí địa lí nớc ta có những tác động nh thế nào đến tự nhiên và phát
triển kinh tế xã hội ? Hãy chứng minh rằng, việc xây dựng các công trình thuỷ lợi có ý nghĩa hàng đầu để sử dụng
hợp lí tài nguyên nông nghiệp của vùng Đông Nam Bộ. Hãy chứng minh rằng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là hai
trung tâm công nghiệp lớn nhất nớc.
Phân tích và tổng hợp là hai thao tác t duy có liên hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau khi hình thành khái
niệm. Những dấu hiệu bản chất của hiện tợng đợc phát hiện bằng cách phân tích hiện tợng đang nghiên cứu. Đạt tới
bản chất của hiện tợng trong sự hoàn chỉnh và thống nhất là sản phẩm của tổng hợp. Do vậy câu hỏi phân tích và tổng
hợp luôn luôn đi kèm với nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đôi lúc trong loại câu hỏi này có thành phần của loại
câu hỏi kia tham gia.
+ Câu hỏi so sánh, liên hệ : nhằm liên hệ các sự vật và hiện tợng địa lí lại với nhau trong các mối quan hệ địa lí có
thể có và thiết lập sự giống nhau, khác nhau giữa chúng. Ví dụ : Hai trung tâm công nghiệp lớn Hà Nội và TP. Hồ
Chí Minh có những điểm giống nhau nh thế nào về cơ cấu ngành ? Nêu những điểm giống nhau và khác nhau về
nguồn lực phát triển kinh tế xã hội của vùng Đông Nam Bộ với Trung du và miền núi Bắc Bộ. Sự khác nhau đó có
tác động nh thế nào đến sự phát triển kinh tế của hai vùng ? Phân biệt các hình thức tổ chức trang trại, thể tổng hợp
nông nghiệp và vùng nông nghiệp... Khi đặt câu hỏi so sánh, những đối tợng so sánh có thể có những nét tơng đồng
hay trái ngợc nhau.
+ Câu hỏi nguyên nhân kết quả : là loại câu hỏi nêu lên mối liên hệ nhân quả, một trong những dạng liên hệ có
tính chất phổ biến trong bài địa lí. Ví dụ : Tại sao thời gian mùa nóng ở Bắc bán cầu dài hơn ở Nam bán cầu ? Tại
sao phân bố dân c trên thế giới có sự khác nhau giữa các vùng, các châu lục, các quốc gia ? Giải thích tại sao các
thành phố lớn cũng đồng thời là các trung tâm dịch vụ lớn. Tại sao ngành công nghiệp chế biến lơng thực, thực phẩm
trở thành ngành công nghiệp trọng điểm của nớc ta ?...
+ Câu hỏi khái quát hóa : là loại câu hỏi dùng để khái quát hóa các kiến thức cụ thể, nêu lên cái chính, cái căn bản,
cái "chung", thờng dùng vào cuối chơng hay tổng quát cuối bài. Ví dụ : Hãy nêu các thế mạnh của vùng Đông Nam
Bộ trong việc phát triển tổng hợp nền kinh tế vùng ? Nêu những đặc điểm cơ bản của khu công nghiệp tập trung và

việc với bản đồ là không thể thiếu khi học môn Địa lí.
Thông thờng khi làm việc với bản đồ, HS cần phải :
+ Hiểu hệ thống kí, ớc hiệu bản đồ.
+ Nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tợng địa lí trên bản đồ
+ Xác định phơng hớng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thớc, hình thái và vị trí các đối tợng địa lí trên lãnh thổ.
+ Mô tả đặc điểm đối tợng trên bản đồ.
+ Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ.
+ Xác định các mối quan hệ tơng hỗ và nhân quả thể hiện trên bản đồ.
+ Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động
vật, dân c, kinh tế).
Đối với HS giỏi, những việc làm trên tất yếu phải đợc thực hiện một cách thành thạo để đạt mức cao nhất của kĩ
năng bản đồ là đọc bản đồ (phân tích đợc các mối liên hệ nhân quả, mô tả tổng hợp một lãnh thổ, một ngành, một
thành phần tự nhiên,...).
Muốn đọc đợc bản đồ, yêu cầu phải có kiến thức địa lí. Ví dụ, muốn phân tích đợc tại sao ma tập trung nhiều
nhất ở vùng xích đạo, ma tơng đối ít ở hai vùng chí tuyến Bắc và Nam, thì ngoài việc quan sát bản đồ, cần phải có
kiến thức về mối quan hệ giữa lợng ma và áp thấp, áp cao, sự bốc hơi nớc nhiều từ các đại dơng và rừng xích đạo
trong điều kiện nhiệt lợng lớn, sự bốc hơi nớc kém hơn ở vùng lục địa có diện tích lớn ở khu vực chí tuyến...
b) Kĩ năng làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam
Câu hỏi yêu cầu sử dụng Atlát Địa lí Việt Nam trở thành phổ biến trong tất cả các đề thi HS giỏi quốc gia từ trớc
đến nay. Để khai thác kiến thức từ Atlát, yêu cầu HS phải sử dụng tổng hợp cả kiến thức và kĩ năng địa lí, đồng thời
phải sử dụng kĩ năng t duy, trong nhiều trờng hợp còn cần đến óc sáng tạo. Do vậy, trong nhiều đề thi HS giỏi quốc
gia, có đến 2 câu hỏi yêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt nam (năm 2005 và năm 2006 chẳng hạn).
Thông thờng câu hỏi gắn với Atlát có dạng "Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học....". Ví dụ : Dựa
vào Atlát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy so sánh mạng lới đô thị giữa hai vùng : Trung du và miền núi Bắc
Bộ với Tây Nguyên (Đề thi năm 2006).
Với những câu hỏi kiểu này, nhiều thí sinh chỉ dựa vào một trong hai cơ sở trên (hoặc là riêng Atlát, hoặc riêng kiến
thức đã học) để làm bài. Việc làm đó không cho phép trình bày kiến thức một cách đầy đủ. Nếu chỉ dựa vào kiến
thức đã học, nhiều kiến thức từ Atlát bị bỏ sót, đặc biệt là các kiến thức về sự phân bố cụ thể, mối quan hệ về mặt
không gian lãnh thổ của các sự vật, hiện tợng địa lí.... Nhng nếu chỉ dựa vào Atlát địa lí, nhiều kiến thức nh tình hình
Trang 5


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status