CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH, QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG VÀ XÂY LẮP CÔNG NGHIỆP - Pdf 74

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH, QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG VÀ XÂY LẮP CÔNG
NGHIỆP
1.1: Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1: Khái niệm
Tài chính doanh nghiệp một cách tổng quát là quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế.
1
Các quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm:
Quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước: Nhà nước là chủ thể rất quan trọng
trong nền kinh tế, một mặt nhà nước đóng vai trò là một chủ thể kinh tế hoạt
động độc lập vì mục đích riêng, mặt khác nhà nước đóng vai trò trung tâm điều
phối hoạt động kinh tế. Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước thể hiện mặt
tổng thể của nhà nước, chủ yếu phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ
thuế cho nhà nước, và khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Bất kỳ doanh nghiệp nào
hoạt động kinh doanh đều có quan hệ với thị trường tài chính. Đây là mối quan
hệ cơ bản và quan trọng của doanh nghiệp, quan hệ này được thể hiện thông qua
việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Nguồn vốn kinh doanh là yếu tố
rất quan trọng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Thông qua thị trường tài
chính doanh nghiệp có thể vay vốn ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu về vốn
ngắn hạn, mặt khác doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để
đáp ứng các nhu cầu vốn dài hạn. Thị trường tài chính còn thực hiện chức năng
cất giử tiền tệ, đồng thời còn thực hiện chức năng thanh toán thay doanh nghiệp
trong các giao dịch giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế quốc
dân doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường
1 Trích dẩn giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS TS Lưu Thị Hương-PGS TS Vủ Duy Hào NXB ĐH Kinh
Tế Quốc Dân 2006. Trang 8,9.
hàng hoá, dịch vụ, thị trường lao động. Thông qua các thị trường này doanh

Sự dịch chuyển giữa các hàng hoá và dịch vụ tương ứng sẽ là sự dịch chuyển
tiền giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Như vậy tương ứng với các dòng vật chất đi vào (hàng hoá dịch vụ đầu vào)
sẽ là dòng tiền đi ra, ngược lại tương ứng với các dòng vật chất đi ra
( hàng hoá và dịch vụ đầu ra) sẽ là các dòng tiền đi vào. Đây chính là cơ sở của
các quan hệ tài chính. Doanh nghiệp thực hiện hoạt động trao đổi hoặc với thị
trường cung cấp hàng hoá dịch vụ đầu vào, hoặc với thị trường phân phối tiêu
thụ các hàng hoá dịch vụ đầu ra và tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp được
phát sinh từ chính quá trình trao đổi đó. Quá trình này quyết định sự vận hành
của sản xuất và làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp luôn có tính mục đích, có thể là lợi nhuận, giá trị
gia tăng noặc những giá trị lợi ích nhất định. Về cơ bản người ta quan tâm đến
giá trị gia tăng mà tiền là công cụ quy đổi để đánh giá. Do đó tài chính doanh
nghiệp đóng vai trò to lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp bao gồm các quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với
các chủ thể khác, hoặc trong nội bộ doanh nghiệp. Các quan hệ này đặc trưng
bởi dòng tiền đi ra và đi vào tương ứng với dòng hàng hoá và dịch vụ đi vào và
đi ra. Trong một giai đoạn nhất định hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh phản ánh thông qua số dư của dòng tiền, điều đó phản ánh lỗ lãi trong
hoạt động của doanh nghiệp.
Quản lý tài chính giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, vì nó quyết định trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và nó có tác động chi phối đến các hoạt động quản lý
khác. Chính vì vậy, có thể nói hiệu quả của hoạt động quản lý tài chính quyết
nh s c lp, s thnh bi ca doanh nghip.Mt khi cụng tỏc qun lý ti
chớnh c t chc tt nú khụng ch em li hiu qu sn xut kinh doanh cho
doanh nghip m cũn em li li ớch cho cỏc i tỏc, bn hng hay rng hn
l em li li ớch kinh t xó hi trờn phm vi ton quc gia.

Số vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh đợc đánh giá càng
tốt
=
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho.
Vòng quay các khoản phải thu =
Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh
nghiệp.
Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt.
Kỳ thu tiền trung bình =
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu đợc các khoản phải
thu.
Vòng quay vốn lu động =
Vòng quay vốn lu động phản ánh trong kỳ vốn lu động quay đợc mấy vòng.
=
Số ngày một vòng quay vốn lu động phản ánh trung bình một vòng quay hết
bao nhiêu ngày.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Hiệu suất sử dụng vốn cố định phản ánh cứ đầu từ trung bình 1 đồng vào vốn
cố định thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
1.1.4.4. Nhóm các chỉ số sinh lời
Các chỉ số sinh lời luôn luôn đợc các nhà quản trị tài chính quan tâm. Chúng
là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một
kỳ nhất định, là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh, và còn là một luận cứ
quan trọng để các nhà hoạch định đa ra các quyết định tài chính trong tơng lai.
Doanh lợi doanh thu =
Tỷ suất doanh lợi doanh thu thể hiện trong 1 đồng doanh thu mà doanh
nghiệp thực hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận.

Trên đây là ba vấn đề quan trọng nhất và cốt lỏi nhất trong tài chính doanh
nghiệp. Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức
giải quyết ba vấn đề nêu trên.
Đối với mổi doanh nghiệp thì giữa sở hữu và quản lý luôn có sự khác biệt
nhất định, chủ sở hữu thường không phải là người trực tiếp quản lý mà thay vào
đó là các nhà quản lý được chủ sở hữu thuê làm đại diện cho mình. Trong tình
huống như vậy nhà quản lý chính là người phải trả lời cho ba vấn đề nêu trên.
Doanh nghiệp để hoạt động vần có vốn để đầu tư vào các tài sản, muốn như
vậy doanh nghiệp phải giải quyết vấn đề vốn. Đó bao gồm vốn tự có của doanh
nghiệp, vốn doanh nghiệp phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu...gọi chung là vốn
dài hạn. Mặt khác doanh nghiệp cũng có thể huy động vốn ngắn hạn, Đây
thường là vốn vay tín dụng trong thời hạn ngắn thường là 1 năm. Câu hỏi đặt ra
cho nhà quản lý tài chính là nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu khi đả xét
đến vấn đề huy động vốn? Giải đáp cho vấn đề này là dự toán vốn đầu tư- đó là
quá trình kế hoạch hoá và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Như vầy để đảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status