NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG VÀ CÔNG TÁC KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM - Pdf 74

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG VÀ CÔNG TÁC KẾ
HOẠCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM
1.1. Tín dụng tiêu dùng và ý nghĩa của việc phát triển thị trường sản phẩm TDTD.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của TDTD
Tín dụng làm một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng và các định
chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) , trong
đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định
theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoản trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên
cho vay khi đến hạn thanh toán.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sinh
lời chủ yếu. Trên cơ sở mục đích cho vay, tín dụng được phân thành nhiều loại, trong đó
phải kể đến hình thức tín dụng tiêu dùng, một trong những nghiệp vụ được dự đoán là
sẽ đóng vai trò chủ đạo tại các NHTM trong tương lai.
Tín dụng tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
người tiêu dùng, bao gồm có cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan
trọng giúp người tiêu dùng trang trải các nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình… Bên
cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch… cũng có thể được tài trợ
bởi các khoản tín dụng tiêu dùng.
Nhìn chung, tín dụng tiêu dùng có đặc điểm sau:
- Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì
vậy lãi suất của tín dụng tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay
trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Điều này
được thể hiện rất rõ qua các giai đoạn của nền kinh tế . Khi nền kinh tế tăng trưởng cao,
thu nhập của người dân cũng tăng lên , do đó họ có nhu cầu mua sắm nhiều hơn. Tuy
nhiên, khi nền kinh tế có nguy cơ lạm phát, thì nhu cầu tiêu dùng giảm dần, một phần
do giá cả các mặt hàng tăng cao, phần nữa là do kỳ vọng của người dân cũng giảm đi.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất. Thông thường ,
người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là mức lãi suất mà họ phải gánh
chịu.
- Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu

nghiệm của nhân viên phân tích tín dụng.
1.1.2. Các loại hình tín dụng tiêu dùng.
Trong phần này, việc phân loại tín dụng tiêu dùng được dựa trên nhiều tiêu thức
khác nhau nhằm giúp đưa ra một cái nhìn toàn diện về tín dụng tiêu dùng ở những giác
độ khác nhau.
1.1.2.1. Căn cứ vào mục đích cho vay
• Tín dụng tiêu dùng cư trú
Tín dụng tiêu dùng cư trú là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây
dựng hay cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
Đây là khoản tín dụng có giá trị lớn, thời hạn cho vay dài và tài sản hình thành từ
vốn vay thường là tài sản đảm bảo.
• Tín dụng tiêu dùng phi cư trú
Tín dụng tiêu dùng phi cư trú là các khoản vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các
chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch...
Đây là các khoản tín dụng mang tính chất nhỏ lẻ với thời hạn ngắn.
1.1.2.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
1.1.2.2.1. Tín dụng tiêu dùng trả góp.
Đây là hình thức tín dụng tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc
và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhắt định trong thời hạn cho vay.
Phương thức này được áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định
kỳ của người đi vay không đủ khả năng trả hết một lần số nợ vay.
Đối với loại hình này, các ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
a. Loại tài sản được tài trợ
Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ vốn vay đáp
ứng được nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai. Khi lựa chọn tài sản để
tài trợ, ngân hàng thường chú ý đến điều này, vì vậy ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ
cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền hay có gía trị lớn. Vì
với những loại tài sản như vậy, người tiêu dùng sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng
trong một khoảng thời gian dài.
b. Số tiền trả trước.

- Kì hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng. Kỳ hạn trả nợ thường theo
tháng. Bởi lẽ, thông thường, nguồn trả nợ chính của người đi vay lương được nhận
hàng tháng.
- Thời hạn cho vay không nên quá dài. Thời hạn cho vay thường bị giới hạn bởi thời hạn
hoạt động của tài sản được tài trợ. Thời hạn cho vay quá dài dễ làm giá trị tài sản giảm
mạnh. Hơn nữa, khi thời hạn cho vay quá dài thì thiện chí trả nợ của người đi vay cũng
như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối.
Số tiền thanh toán cho mỗi định kỳ có thể được tính bằng một trong số các
phương pháp sau đây:
Phương pháp gộp: Đây là phương pháp thường được áp dụng trong tín dụng tiêu
dùng trả góp, do tính chất đơn giản và dễ hiểu của nó. Theo phương pháp này, trước hết
lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp
vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi
kỳ hạn trả nợ.
Phương pháp lãi đơn : Theo phương pháp này, vốn gốc người đi vay phải trả từng
kỳ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đâu chia cho số kỳ hạn thanh toán.
Còn lãi phải trả mỗi định kỳ được tính trên số tiền khách hàng thực sự còn thiếu ngân
hàng.
Phương pháp hiện giá: Theo phương pháp này, số tiền gốc và lãi mà người đi vay
phải trả được tính theo phương pháp hoàn trả theo niên kim.Ta có công thức: a=
1)1(
)1(
−+
+
n
n
i
iiV

trong đó a: số tiền gốc và lãi phải trả theo từng kỳ nhất định.

Lãi phải trả mỗi kỳ có thể được tính dựa trên một trong ba cách sau:
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương pháp này, số dư nợ
c dựng tớnh lói l s d n cui cựng ca mi k sau khi khỏch hng ó thanh
toỏn n cho ngõn hng.
- Lói c tớnh da trờn s d trc khi c iu chnh: Theo cỏch ny, s d n c
dựng tớnh lói l s d n mi k cú trc khi khon n c thanh toỏn.
- Lói c tớnh trờn c s d n bỡnh quõn.
1.1.2.3 Cn c vo ngun gc ca khon n
1.1.2.3.1. Tớn dng tiờu dựng giỏn tip
Tớn dng tiờu dựng giỏn tip l hỡnh thc tớn dng trong ú ngõn hng mua cỏc
khon n phỏt sinh do nhng cụng ty bỏn l ó bỏn chu hng hoỏ hay dch v cho
ngi tiờu dựng.
ngân hàng
công ty bán lẻ
ngừơi tiêu dùng
(2) (4)(6)
(5)
(4)
(1)
(1): Ngõn hng v cụng ty bỏn l ký hp ng mua bỏn n. Trong hp ng, ngõn
hng thng a ra cỏc iu kin v i tng khỏch hng c bỏn chu, s tin bỏn
chu ti a v loi ti sn bỏn chu...
(2): Cụng ty bỏn l v ngi tiờu dựng ký kt hp ng mua bỏn chu hng hoỏ.
Thụng thng, ngi tiờu dựng phi tr trc mt phn giỏ tr ti sn.
(3): Cụng ty bỏn l giao ti sn cho ngi tiờu dựng
(4): Cụng ty bỏn l bỏn b chng t bỏn chu hng hoỏ cho ngõn hng
(5): Ngõn hng thanh toỏn tin cho cụng ty bỏn l.
(6): Ngi tiờu dựng thanh toỏn tin tr gúp cho ngõn hng
Tớn dng tiờu dựng giỏn tip cú mt s u im sau:
- TDTD giỏn tip to iu kin ngõn hng d dng tng doanh s cho vay tiờu dựng

ngân hàng thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất định đúng hạn.
- Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn trong phạm vi số
tiền dự phòng ký gửi tại ngân hàng. Thường số tiền dự phòng được trích từ chênh lệch
giữa chi phí tài trợ mà công ty bán lẻ tính cho người mua chịu và chi phí tài trợ mà ngân
hàng tính cho công ty bán lẻ. Đây là trường hợp được các ngân hàng áp dụng phổ biến
nhất. Số tiền dự phong ký gửi tại ngân hàng có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng
khi người mua chịu không trả hoặc trả nợ không đúng hạn.
- Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn theo một tỷ lệ nhất
định so với tổng số nợ trong một thời hạn nhất định
Tài trợ miễn truy đòi: Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho
ngân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc chúng có được
hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status