Cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong
nền kinh tế thị trờng
1.1. Vai trò, đặc điểm và nội dung cơ chế quản lý hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam
1.1.1. vai trò và đặc điểm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam đối với sự phát triển nông nghiệp, nông
thôn nớc ta
1.1.1.1. Vai trò của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam đối với phát triển kinh tế - xã hội
Ngân hàng thơng mại ra đời là một kết quả tất yếu của sự phát triển nền kinh
tế, nhng mặt khác hệ thống ngân hàng thơng mại với t cách là kênh dẫn vốn chủ
yếu của nền kinh tế cũng tác động trở lại, đóng vai trò là một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam là ngân hàng thơng mại nhà nớc hoạt động kinh
doanh chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nên, vai trò của nó đợc thể
hiện qua hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Biểu hiện
rõ nét và trực tiếp phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực kinh tế
nông nghiệp, nông thôn: phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng
nông thôn mới theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
[55]. Cụ thể trên các nội dung sau:
Một là, hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam tạo môi trờng thuận lợi cho quá trình lu chuyển vốn của nền kinh tế
nói chung, cho khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng:
Trong nền kinh tế quá trình vận động của vốn có thể thực hiện thông qua hai
kênh dẫn vốn chính là : tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp. Kênh tài chính
gián tiếp về cơ bản chứa đựng rất nhiều hạn chế vì ở đây đòi hỏi phải có sự phù
hợp về nhu cầu giữa ngời đi vay và ngời có vốn. Trong nền kinh tế hàng hoá phát
triển, chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan
trọng, phần lớn qui mô của hoạt động chuyển nhợng quyền sử dụng vốn đều thực
gia cùng hệ thống ngân hàng đóng vai trò là cỗ máy tạo tiền của nền kinh tế,
với ý nghĩa trực tiếp trong khu vực kinh tế nông thôn:
Không phải ngay khi mới hình thành các ngân hàng thơng mại đã thực hiện
đợc chức năng quan trọng này. Chỉ khi hoạt động của ngân hàng thơng mại phát
triển tới một mức độ nhất định, khi mà hoạt động cấp tín dụng và hoạt động thanh
toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống ngân hàng trở nên phổ biến thì chức
năng này của ngân hàng mới thực sự đợc thực hiện một cách đúng mức. Có thể
nói chính việc các ngân hàng thực hiện các bút tệ là yếu tố quan trọng nhất góp
phần hình thành chức năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng thơng mại; trong đó
có NHNo&PTNT Việt Nam. Nhng do đặc điểm hoạt động kinh doanh chính trong
khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn, nên chủ yếu thực hiện khối lợng tín dụng,
thanh toán trong khu vực kinh tế này, vì vậy đóng vai trò chính tạo tiền từ nông
nghiệp, nông thôn.
Bốn là, hoạt động Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam đẩy nhanh quá trình thanh toán, giảm chi phí giao dịch trong kinh tế
nông thôn:
Vai trò này của NHNo&PTNT Việt Nam tơng ứng với chức năng trung gian
tài chính của nó. Có thể nói với những dịch vụ thanh toán ngày càng thuận tiện
của mình, từ hình thức thanh toán truyền thống bằng séc tới hình thức thanh toán
bằng điện tử, ... NHNo&PTNT Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong việc
mở rộng và đẩy nhanh hoạt động thanh toán, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động kinh tế trong nớc cũng nh quốc tế phát triển của khu vực kinh tế nông thôn.
Đồng thời do trình độ chuyên môn hoá cao của ngân hàng trong lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ nói chung và trong lĩnh vực trung gian tài chính nói riêng nên đã hạ
thấp các chi phí cho quá trình thanh toán, nâng cao hiệu quả của các quá trình
kinh tế.
Năm là, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giữ
vai trò là nhân tố cốt lõi cho sự hình thành và phát triển thị trờng vốn nông
thôn [11, tr 27 - 34]:
Biết rằng, một trong những yếu tố tiên quyết để thị trờng tài chính phát triển
động thái phát triển của nền kinh tế. Trên thực tế, Chính phủ thờng xuyên thông
qua hệ thống ngân hàng để điều chỉnh các thông số kinh tế cơ bản nh mức cung
tiền, lãi suất, ... thậm chí dùng các biện pháp kinh tế, hành chính để hớng hoạt
động ngân hàng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể mà Chính phủ đặt ra.
Thông qua hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam để Nhà nớc thực hiện các
chính sách u đãi cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân: thực hiện cho vay xoá
đói, giảm nghèo; tiếp nhận các chơng trình đầu t của các tổ chức tài chính quốc tế
cho nông nghiêp, nông thôn; ... qua các nghiệp vụ hoạt động của ngân hàng
(thanh toán, tín dụng, hoạt động dịch vụ, ...).
Bảy là, hoạt động kinh doanh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam góp phần xây dựng nông thôn mới [14, tr 26 - 30]:
Ngoài nhiệm vụ phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn, NHNo&PTNT Việt Nam còn thực hiện một số nôi dụng tín dụng chính
sách của Đảng và Nhà nớc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; trong đó có tín
dụng phục vụ chơng trình xoá đói giảm nghèo.
Tín dụng cho ngời nông dân thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thể
của nó nh việc bình xét công khai những ngời đợc vay vốn, việc thực hiện các tổ t-
ơng trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị
xã hội, của cấp uỷ chính quyền đã có tác dụng tạo ra:
- Tăng cờng hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế
ở địa phơng.
Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đoàn viên với các tổ chức hội, đoàn thể của
mình qua việc hớng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế
của gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội đối với hội viên thông qua việc vay
vốn
- Thông qua các tổ tơng trợ tạo điều kiện để những ngời vay vốn có cùng
hoàn cảnh gần gũi, nêu cao tính tơng thân tơng ái giúp đỡ lẫn nhau tăng cờng tình
làng nghĩa xóm, tạo niềm tin ở dân đối với Đảng, Nhà nớc
Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống kinh tế ở nông thôn, an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt hạn chế đợc những mặt tiêu cực,
cầu về phơng tiện và dịch vụ trao đổi, thanh toán, cất giữ, huy động tiết kiệm,
tài trợ đầu t ... , cho các tác nhân trong nền kinh tế:
Các ngân hàng kinh doanh cũng nh NHNo&PTNT Việt Nam có mục tiêu
then chốt là tối đa hoá lợi nhuận. Điều này phân biệt chúng với Ngân hàng Trung
ơng và các tổ chức phi lợi nhuận khác, nh nhà thờ, các tổ chức giáo dục và y tế
công cộng ... Mục tiêu mà Ngân hàng Trung ơng theo đuổi là các mục tiêu kinh tế
vĩ mô, bao gồm đảm bảo công bằng, ổn định và tăng trởng trên phạm vi toàn bộ
nền kinh tế. Mục tiêu trung gian của nó là điều tiết lợng cung ứng, ổn định lãi
suất, ổn định tỷ giá hối đoái và hoạt động ngân hàng, đợc thực hiện nhờ dựa vào
các luật, quy chế, chính sách, trong đó xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ là
nội dung chủ yếu. Mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp đảm bảo cho việc thực
hiện có hiệu quả các mục tiêu vĩ mô và vi mô trong hoạt động ngân hàng. Còn
mục tiêu của các tổ chức phi lợi nhuận khác thờng là tăng phúc lợi xã hội. Với các
tổ chức kinh doanh khác cũng có mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nhng phân biệt với
các ngân hàng về đối tợng kinh doanh, về loại hình nhu cầu mà chúng phục vụ và
về đặc điểm quá trình tổ chức kinh doanh.
Nhu cầu mà các ngân hàng phục vụ là nhu cầu về những dịch vụ, những ph-
ơng tiện cho việc trao đổi, thanh toán, cất giữ, thu thập các nguồn tiết kiệm, tài trợ
đầu t... sao cho có lợi nhất và rủi ro thấp nhất... Hoạt động của các ngân hàng có
tính chuyên môn hoá vào việc thoả mãn các loại nhu cầu này, khả năng thoả mãn
các nhu cầu này có ảnh hởng quyết định đến khả năng thu lợi nhuận của các ngân
hàng. Lợi nhuận này có đợc từ hai nguồn thu nhập chính: một là, các phí hay hoa
hồng mà khách hàng trả về các dịch vụ, phơng tiện ngân hàng cung ứng cho họ;
hai là, các khoản lợi tức do chênh lệch lãi suất và giá giữa đầu ra với đầu vào,
chẳng hạn chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, hay chênh lệch giá cả chứng
khoán bán ra với mua vào...
Hai là, đối tợng kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam là tiền, các tài sản tài chính và các dịch vụ trực tiếp liên
quan đến việc sở hữu, sản xuất, lu thông quản lý, sử dụng tiền và các tài sản
tài chính trong nền kinh tế:
những ngời làm dịch vụ. Do đó trên phơng diện vĩ mô có thể nói: đối tợng kinh
doanh chủ yếu của NHNo&PTNT Việt Nam là những dịch vụ mà đặc trng của nó
(ngoài các đặc trng của các dịch vụ nói chung) là gắn liền với việc sở hữu, sản
xuất, lu thông, quản lý và sử dụng tiền cùng các tài sản tài chính (có thể gọi chung
là những dịch vụ tài chính - tiền tệ).
Ba là, hoạt động kinh doanh ngân hàng là tiến hành các hoạt động gắn
với các thể chế trung gian tài chính hoạt động trên thị trờng tài chính, nh [16]:
Các hoạt động về huy động tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, làm trung gian
thanh toán, tài trợ đầu t, đại lý, môi giới tài chính hởng hoa hồng...
Thị trờng xã hội là tổng thể thống nhất của tất cả các thị trờng riêng biệt.
Trong trờng hợp này, ở góc độ khái quát có thể xem thị trờng xã hội nh là sự hợp
thành bởi hai loại thị trờng chủ chốt: thứ nhất, thị trờng tài chính, trên đó diễn ra
các hoạt động tạo lập, lu thông, trao đổi các sản phẩm, dịch vụ tài chính tiền tệ;
NHNo&PTNT Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này. Tiếp đến, thị trờng các
hàng hoá dịch vụ phi tài chính, trên đó diễn ra các hoạt động sản xuất, lu thông
trao đổi các sản phẩm dịch vụ phi tài chính, mà ngời hoạt động trong lĩnh vực này
là các tổ chức phi tài chính nh các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công
nghiệp, nông nghiệp, thơng nghiệp hay vận tải...
Điểm cần thấy ở đây là mọi tác nhân trong nền kinh tế đều tiến hành các
hoạt động tài chính, nhng tham gia thị trờng tài chính thì họ hiện diện với những
t cách không giống nhau. Các doanh nghiệp phi tài chính thờng tham gia thị trờng
tài chính với t cách ngời cung ứng đầu tiên hoặc ngời sử dụng cuối cùng các sản
phẩm dịch vụ tài chính - tiền tệ; còn NHNo&PTNT Việt Nam kinh doanh thì tham
gia thị trờng tài chính với t cách là những trung gian tài chính, đó là những thể
chế chuyên về việc dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Những ngời có thừa vốn là ngời cho vay đầu tiên của thị trờng tài chính (th-
ờng là các cá nhân thuộc khu vực hàng hoá tiêu dùng).
Họ có thiên hớng sử dụng vốn thừa của mình là cho vay ngắn hạn. Trái lại,
những ngời thiếu vốn là những ngời đi vay sau cùng của thị trờng tài chính (thờng
là các doanh nghiệp công nghiệp, thơng mại...).
phát triển hay suy thoái trong các lĩnh vực nói trên trực tiếp ảnh hởng đến sản l-
ợng, thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu t của nền kinh tế trớc hết trong các lĩnh
vực đó, theo hớng gia tăng hay giảm sút, và do đó trực tiếp ảnh hởng đến khả năng
thu lợi nhuận, khả năng trả nợ của các con nợ, mà con nợ chính của nền kinh tế
luôn là các ngân hàng, trong đó có NHNo&PTNT Việt Nam. Khi NHNo&PTNT
Việt Nam chuyên tài trợ cho một ngành công nghiệp nào đó có thể làm ăn phát
đạt khi ngành này đang trong thời kỳ phát triển, nhng cũng có thể dễ bị phá sản
khi ngành này bị suy thoái. Hơn nữa, suy thoái của một ngành công nghiệp nào đó
có thể dẫn tới phá sản NHNo&PTNT Việt Nam nếu tập trung tài trợ cho ngành
này, trong khi đó có thể có rất ít ảnh hởng đến hoạt động của các doanh nghiệp
thuộc ngành công nghiệp khác, các ngành khác... Đồng thời, sự phá sản của
NHNo&PTNT Việt Nam thờng có tính lan truyền và nó có ảnh hởng rộng hơn đa
số các doanh nghiệp phi tài chính khác, khi xem xét về mặt hậu quả. Trong mọi tr-
ờng hợp, các nhà quản lý NHNo&PTNT Việt Nam đều phải thờng xuyên tính đến
các rủi ro môi trờng về mặt kinh tế, do đó tối đa lợi nhuận thờng chỉ là một mục
tiêu chủ yếu, bên cạnh các mục tiêu về đảm bảo an toàn và giảm rủi ro.
Trong thời đại hiện nay, một trong những yếu tố chủ yếu ảnh hởng đến xu h-
ớng tăng trởng hay phát triển của một ngành nào đó là cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật. Cuộc cách mạng này ảnh hởng đến hoạt động NHNo&PTNT Việt Nam
từ nhiều hớng. Một mặt nó cung cấp cho lĩnh vực này các thiết bị và công nghệ
hiện đại, cho phép tăng năng suất, chất lợng và hiệu quả hoạt động mà nổi bật là
sự áp dụng các kỹ thuật điện tử tin học vào hoạt động ngân hàng điều này đã thực
sự làm thay đổi công nghệ ngân hàng truyền thống dựa trên lao động thủ công.
Mặt khác, cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo nên sức cạnh tranh hoàn toàn mới
và đồng thời cũng làm giảm sút tơng đối khả năng cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực
hoạt động khác nhau mà NHNo&PTNT Việt Nam phục vụ; ảnh hởng lớn nhất
hiện nay đó là xu hớng đa dạng hoá hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam là sự
phát triển mô hình ngân hàng đa năng thay cho mô hình ngân hàng chuyên môn
hoá, là sự hoà nhập trong nghiệp vụ hoạt động của các trung gian tài chính...
Tuy nhiên, sự thay đổi trong nghiệp vụ và công nghệ ngân hàng không đơn
một vài tập đoàn tài chính khổng lồ chi phối lu lợng hoạt động của thị trờng.
Điều đó thờng đợc giải thích bằng một số lý do chính:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu tạo thuận lợi cho việc kiểm soát lợng tiền
cung ứng, kiểm soát lãi suất thị trờng, tỷ giá hối đoái và hoạt động ngân hàng - tài
chính ở tầm vĩ mô trong khuôn khổ các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, và do đó
thờng đợc luật pháp và Chính phủ ở các quốc gia ủng hộ bằng cách đa ra những
quy định, những quy chế ... dẫn đến hạn chế số lợng ngân hàng tham gia vào các
thị trờng tài chính nội địa hay quốc tế.
Thứ hai, trên phơng diện những ngời tham gia với t cách là chủ ngân hàng
hay những ngời trực tiếp điều hành ngân hàng, thì rõ ràng lập một ngân hàng mới
hẳn là tốn phí nhiều hơn là củng cố, mở rộng các ngân hàng hiện có; hơn nữa quy
mô vốn phải đạt đến một mức đủ lớn nào đó mới có thể tham gia vào việc lập
ngân hàng hay tham gia vào việc kinh doanh trên các thị trờng tài chính. Điều này
cũng dẫn tới hạn chế số thành viên tham gia thị trờng tài chính với t cách là những
nhà cung ứng chuyên môn.
Thứ ba, về bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng lệ thuộc
chủ yếu vào việc khai thác các lợi thế nhờ quy mô lớn và chuyên môn hoá trong
việc cung ứng các dịch vụ tài chính - tiền tệ. Bởi chính nhờ đó các ngân hàng thực
hiện đợc chức năng của họ trong hệ thống kinh tế vĩ mô, tức là làm giảm rủi ro,
giảm chi phí, biến đổi thời điểm đến hạn của các hợp đồng vay mợn và cung cấp
khả năng thanh toán bằng tiền mặt cho các tác nhân trong nền kinh tế, các ngân
hàng lớn thờng chiếm lợi thế trong việc cung ứng các sản phẩm và dịch vụ tài
chính hơn là các ngân hàng nhỏ, nhất là trong hoạt động đầu t, kinh doanh ngoại
hối và cung ứng các dịch vụ trên thị trờng tài chính quốc tế.
Thứ t, đối tợng kinh doanh chính của các ngân hàng là những dịch vụ tài
chính - tiền tệ. Trong khi đó tính chất của lĩnh vực hoạt động dịch vụ là quá trình
sản xuất đồng thời là quá trình tiêu dùng, các dịch vụ thì không tách rời nơi cung
ứng chúng, do đó việc cung ứng các dịch vụ là có xu hớng tập trung; hơn nữa tính
chất này lại đợc tăng cờng vì việc cung ứng các dịch vụ này gắn bó chặt chẽ với
quá trình cung ứng tiền và các tài sản tài chính luôn có xu hớng đòi hỏi quản lý
thành thớc đo quan trọng.
Đặc điểm này chi phối hoàn toàn các hoạt động kinh doanh của
NHNo&PTNT Việt Nam. Chính nó nhiều khi mâu thuẫn với yêu cầu của một
doanh nghiệp hoạt động tự do trong nền kinh tế thị trờng. Nhất là, mâu thuẫn với
các mục tiêu yêu cầu của kinh doanh.
Bảy là, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hoạt
động kinh doanh trên phạm vi rộng khắp:
Riêng với hoạt động kinh doanh nội địa của NHNo&PTNT Việt Nam có mặt
ở hầu hết các địa bàn ở Việt nam, từ đồng bằng đến miền núi, từ biên giới hải đảo,
từ thành thị đến nông thôn, ...với hàng ngàn chi nhánh cơ sở. Rõ ràng đặc điểm
này sẽ chi phối rất lớn đến hoạt động quản lý kinh doanh của NHNo&PTNT Việt
Nam. Đặc biệt ảnh hởng lớn đến tiếp nhận thông tin và điều hành hoạt động kinh
doanh trong phạm vi toàn hệ thống của NHNo&PTNT Việt Nam.
Tám là, thị trờng chủ yếu để hoạt động kinh doanh còn cha phát triển:
Thị trờng chính mà NHNo&PTNT Việt Nam là phục vụ nông nghiệp và
nông thôn Việt Nam còn lạc hậu.Đặc điểm này vừa là cửa mở cho NHNo&PTNT
Việt Nam khai thác phục vụ, mở rộng thị trờng vừa phải chống đỡ các rủi ro.
Tránh tình trạng biến vốn đầu t tín dụng ngắn hạn thành vốn cấp phát để xây dựng
cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu của thị trờng này. Biến NHNo&PTNT Việt Nam
thành Ngân hàng chính sách.
Chín là, thị trờng chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam hoạt động kinh doanh có rủi ro cao:
Ngoài những rủi ro nh đã nêu ở đặc điểm 5, NHNo&PTNT Việt Nam hoạt
động chủ yếu trong thị trờng nông nghiệp và nông thôn. Thị trờng này chịu ảnh h-
ởng bởi các yếu tố thiên nhiên môi trờng. Thiên tai luôn túc trực ảnh hởng trực
tiếp đến thị trờng, từ đó ảnh hởng lớn đến hoạt động kinh doanh của
NHNo&PTNT Việt Nam.
Việc nghiên cứu các đặc điểm trong hoạt động kinh doanh của
NHNo&PTNT Việt Nam cho phép chúng ta tăng cờng khả năng nhận định, đánh
giá các hoạt động kinh doanh, rủi ro,...
niệm cơ chế quản lý kinh tế đợc sử dụng đồng nghĩa với cơ chế kinh tế.
Trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế ở nớc ta cũng đã đợc một số
tác giả thảo luận dới các giác độ khác nhau. Có tác giả viết Thực chất của cơ chế
mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phơng thức hạch toán kinh
doanh xã hội chủ nghĩa, gắn liền với nguyên tắc tập trung dân chủ là xu hớng đổi
mới bắt đầu từ đơn vị kinh tế cơ sở, tức là xuất phát từ những đòi hỏi và yêu cầu
về cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô[ 6, tr 251].
Về cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp, trong đó có cơ chế quản lý tài
chính, nhiều tác giả thừa nhận rằng nó bao hàm cả hai giác độ: bên trong và bên
ngoài. Chẳng hạn có tác giả nhận định: Trong cơ chế mới nói chung, cơ chế
quản lý kinh doanh đối với đơn vị kinh tế cơ sở và cơ chế quản lý của Nhà nớc đối
với đợn vị kinh tế cơ sở[6, tr 253]. Quan niệm đó là dựa trên cơ sở của quan điểm
duy vật biện chứng, trong đó các sự vật, hiện tợng và quá trình kinh tế đợc đặt
trong mối quan hệ mang tính biện chứng với các yếu tố khác của nền kinh tế xã
hội.
Theo giáo trình Quản lý nhà nớc về kinh tế của Đại học kinh tế quốc dân,
cơ chế quản lý kinh tế đợc định nghĩa:
Cơ chế quản lý kinh tế là phơng thức điều hành có kế hoạch nền kinh tế,
dựa trên cơ sở các đòi hỏi của các qui luật khách quan của sự phát triển xã hội,
bao gồm tổng thể các phơng pháp, các hình thức, các thủ thuật để thực hiện yêu
cầu của các qui luật khách quan ấy [2, tr 63-64].
Với định nghĩa nh trên-xét trên góc độ quản lý nhà nớc- nội dung của cơ chế
quản lý kinh tế bao gồm:
- Phơng thức quản lý và các hình thức quản lý xác định trong các hoạt động
kinh tế;
- Tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp với phơng hớng, chiến lợc và kế
hoạch đề ra;
- Các phơng pháp và biện pháp sử dụng các lợi ích kinh tế, các đòn bảy kinh
tế để đạt đợc mục tiêu mong muốn. Các đòn bảy kinh tế và các công cụ kinh tế
bao hàm nhiều nội dung nh; giả cả, tiền lơng, tài chính, tiền tệ, thuế, ngân sách,
quốc dân, đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế,...Nhng cũng chính những chính
sách lãi suất, tỷ giá đó các doanh nghiệp sử dụng để tính toán tổ chức hạch toán
kinh tế, lúc này nó không hàm chứa yếu tố quản lý.
Hoặc thông qua chính sách lợi nhuận, thuế, phí để Nhà nớc điều tiết nền
kinh tế quốc dân, nh u tiên phát triển ngành này, ngành khác,... thì nó trở thành
những cơ chế quản lý của Nhà nớc. Khi lợi nhuận, thuế, phí là mục tiêu tính toán
của doanh nghiệp trong hạch toán kinh tế thuần tuý lỗ lãi thì nó chỉ là cơ chế của
Nhà nớc mà các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phải chấp hành, nó
không mang tính chất quản lý nội tại đối với doanh nghiệp, ...
Nh vậy, khi nói cơ chế quản lý kinh tế khác với cơ chế kinh tế là tuỳ thuộc
trên từng góc độ nghiên cứu và sử dụng nó.
Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng, đòi hỏi phải có
những cơ chế quản lý hoạt dộng kinh doanh thích hợp, có quản lý nh vậy, thì Nhà
nớc mới có đợc nguồn thu tiềm tàng cho ngân sách nhà nớc từ các khoản thu thuế,
phí, lệ phí của các doanh nghiệp; đồng thời cũng là điều kiện cơ bản để đảm bảo
cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên thị trờng.
* Cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam:
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là một doanh
nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh theo cơ chế hoạt động kinh doanh của Tổng
công ty 90, 91; nên cơ chế hoạt động kinh doanh của nó cũng theo cơ chế hoạt
động kinh doanh của Tổng công ty 90, 91, nhng cơ chế này vận hành để kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và vận dụng chủ yếu vào kinh
doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam là một hệ thống tổng thể các phơng pháp, các hình
thức và các công cụ đợc vận dụng để quản lý các hoạt động kinh doanh của các
đơn vị trong hệ thống tham gia hoạt động kinh doanh theo những điều kiện cụ
thể của môi trờng kinh doanh để đạt các mục tiêu nhất định trong từng thời kỳ
do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hoạch định.
NHNo&PTNT Việt Nam, nhờ đó tăng qui mô tốc độ phát triển hoạt động kinh
doanh, góp phần tăng nguồn thu vào Ngân sách nhà nớc. Nguồn thu vào Ngân
sách nhà nớc từ khu vực hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHNo&PTNT Việt
Nam ngày càng nhiều, thì Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăng qui mô
đầu t vốn, phát triển các quĩ tài trợ cho hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT
Việt Nam. Ngợc lại, qui mô đầu t và tài trợ từ Ngân sách nhà nớc đối với doanh
nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trởng kinh tế, và
qua đó Chính phủ còn thực hiện đợc yêu cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế theo
định hớng đã đề ra.
Cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam, bao gồm
nhiều chính sách bộ phận, nh chính sách tạo lập, huy động và sử dụng vốn,
chính sách thuế, chính sách quản lý chi phí hoạt động, chính sách phân phối và
sử dụng lợi nhuận để lại, chính sách tài trợ, khuyến khích và u đãi về tài chính,
chính sách tài chính khi bị phá sản, giải thể và chính sách giám sát, thanh tra
đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, ... Nội dung của các cơ chế này đợc
thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng cả về mục tiêu, kỹ thuật, phơng pháp, cả về tr-
ớc mắt lẫn lâu dài.
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ trình bày một số nội dung cơ bản
của một số cơ chế, chính sách chủ yếu trong hệ thống các công cụ của cơ chế
quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam.
* Cơ chế huy động vốn đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam:
Chính sách tạo lập, huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn là bộ phận quan
trọng hàng đầu của cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh đối với NHNo&PTNT
Việt Nam [17, tr 112 - 116].
Việc hoạch định chính sách này phải nhằm động viên mọi nguồn vốn nhần
rỗi trong xã hội để NHNo&PTNT Việt Nam thực hiện cấp tín dụng cho các doanh
nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh dới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, nh cho
doanh nghiệp vay vốn, góp vốn cổ phần, liên doanh ở trong và ngoài nớc, cho vay
cần thiết để đảm bảo tính chất pháp lý. Do đó, Nhà nớc phải có chính sách đảm
bảo vốn pháp định. Mức vốn pháp định cần đợc xem xét, qui định hợp lý, phù hợp
với qui mô hoạt động kinh doanh. Vì đây là cơ sở pháp lý để mở rộng qui mô huy
động vốn và cho vay. Vốn pháp định này phải đợc cấp bổ sung khi vốn phá định
đợc xác định lại cho phù hợp với qui mô hoạt động kinh doanh khi cha đủ vốn
pháp định. Đây là một vấn đề khó khăn cho ngân sách, nhng không thể duy trì lâu
dài sự bất công về mặt vốn pháp định khi NHNo&PTNT Việt Nam thực hiện hạch
toán kinh doanh nhất là trong điều kiện hoạt động trong nền kinh tế thị trờng ở n-
ớc ta còn nhiều bất cập. Đồng thời chính sách này sẽ hạn chế và đi đến chấm dứt
việc cho phép thành lập chi nhánh tràn lan, có quyết định thành lập thêm chi
nhánh, nhng không đợc cấp thêm vốn.
Trên cơ sở những điều kiện bắt buộc nêu trên, hoạt động huy động vốn của
NHNo&PTNT Việt Nam: bao gồm các phơng pháp, hình thức và các công cụ huy
động các nguồn vốn [1, tr 8 - 9].
Chẳng hạn:
* Xây dựng cơ chế huy động vốn qua kênh thị trờng chứng khoán cần tuân
thủ theo những qui định của cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của thị trờng
chứng khoán trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định:
Với t cách là một bộ phận của cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh, cơ chế
huy động vốn của NHNo&PTNT Việt Nam chịu ảnh hởng của các nhân tố kinh tế
- xã hội và phản ánh cơ chế quản lý kinh tế qua mỗi thời kỳ ở một mức độ nào đó.
Đơng nhiên, mức độ ảnh hởng phụ thuộc vào tính chất của từng nhân tố kinh tế -
chính trị - xã hội và không giống nhau. Nh:
Đối với các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta, cơ chế huy động vốn đã có
những thay đổi nhất định và đợc điều chỉnh phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế
qua các thời kỳ khác nhau. Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, các
chính sách, chế độ, quy định...của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nớc về
huy động vốn, về tạo vốn của doanh nghiệp đã từng bớc đợc điều chỉnh. Cơ chế
huy động vốn của NHNo&PTNT Việt Nam cũng chịu ảnh hởng những nhân tố đó.
Các hoạt động huy động vốn của NHNo&PTNT Việt Nam phản ánh mối