Thực trạng hoạt động và chính sách tài chính tín dụng đối với các doanh
nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
2.1. thực trạng Hoạt động của các DOANH NGHIệP HOạT độNG THEO
LUậT DOANH NGHIệP
2.1.1. Quy mô vốn
Cơ cấu quy mô của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong những năm qua cũng không có chuyển biến
đáng kể. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tuyệt đại đa số trong số các đơn vị đăng ký sản xuất kinh doanh,
đặc biệt là trong khu vực kinh tế t nhân.
Bảng 2.1. Quy mô vốn đăng ký trung bình của các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật
doanh nghiệp
Đơn vị: Triệu đồng
Năm DNTN CTTNHH CTCP
1996 178 818 10978
1997 182 1032 10412
1998 231 1088 12195
1999 420 1259 3600
2000 434 1094 4231
2001 502 1126 4572
Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu t, 2002
Bảng 2.2. Cơ cấu doanh nghiệp phân theo quy mô vốn thời điểm 31/12/2001
Đơn vị: %
<0,5 tỷ
đồng
0,5 đến 1
tỷ
1 đến 5
tỷ
5 đến 10
tỷ
10 đến
50 tỷ
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Hầu hết các khoản vay đều là ngắn hạn, các doanh nghiệp hoạt động theo
Luật doanh nghiệp rất khó tìm đợc nguồn vốn trung và dài hạn. Kết quả điều tra
95 doanh nghiệp sản xuất t nhân có quy mô lớn tại Việt Nam của Chơng trình
phát triển dự án Mê Kông thu đợc:
Bảng 2.4. Tiếp cận với các khoản vay của ngân hàng
Vay ngân hàng thời hạn từ 6 tháng trở xuống 64%
Vay ngân hàng thời hạn từ 9 tháng trở lên 36%
Vay ngân hàng thời hạn từ 3 năm trở lên 18%
Nguồn: Chuyên đề nghiên cứu kinh tế t nhân của chơng trình dự án Mê Kông,
7/1999
Nguyên nhân của tình trạng trên là do:
- Nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp mỏng do tích luỹ thấp, nghĩa vụ thuế và các đóng góp còn
nặng.
- Việc phân bổ nguồn vốn đầu t từ ngân sách nh đầu t trực tiếp từ ngân sách hay vay vốn của các quỹ hỗ
trợ từ ngân sách... cha chú ý đúng mức tới khu vực kinh tế hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
- Việc huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu của công ty gặp rất nhiều khó khăn.
- Các doanh nghiệp không đủ tài sản thế chấp để có thể vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
- Khối lợng cho vay ít, thời gian cho vay ngắn. Hầu hết các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh
nghiệp phải vay vốn phi chính thức, lợng vốn vay ít, không ổn định, lãi suất cao.
- Mức lãi suất cho vay còn quá cao so với mức lợi nhuận thu đợc.
- Độ tin cậy của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đối với ngân hàng còn thấp. Theo
số liệu năm 2000, tỷ lệ nợ xấu trên tổng số d nợ tín dụng của doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp là
23,6% ( so với doanh nghiệp Nhà nớc là 9,96% ).
2.1.2. Trang thiết bị công nghệ
Công nghệ luôn là vấn đề cốt lõi của mọi doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp hoạt động theo
Luật doanh nghiệp. Điều kiện thiết bị công nghệ sẽ quyết định tới năng suất, chất lợng sản phẩm, giúp cho các
doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng.
Trong những năm vừa qua, do sức ép của thị trờng và những tác động của cơ chế quản lý kinh tế, các
doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã có sự đổi mới công nghệ ở mức độ nhất định. Song nhìn
- Quản lý khoa học công nghệ mới chỉ dừng lại ở quản lý công nghệ trong các dự án đầu t, công nghệ
khi nhập khẩu. Cha có cơ chế ràng buộc và khuyến khích các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt
động theo Luật doanh nghiệp, tự nguyện đầu t nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ.
Vì vậy, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp còn cần
tới sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực từ phía Nhà nớc để nhanh chóng và thờng xuyên cải thiện điều kiện thiết bị công
nghệ cho các doanh nghiệp.
2.1.3. Đất đai
Đất đai là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Song các doanh nghiệp hoạt động
theo Luật doanh nghiệp đều rất khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng sản xuất thích hợp, trong khi đó lại có
một số doanh nghiệp Nhà nớc thừa đất cho thuê. Nói cách khác, các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc đợc cấp quyền sử dụng đất và thuê đất làm trụ sở, nhà máy. Luật đất đai
năm 1993 đã tạo cơ sở cho việc cấp quyền sử dụng đất dài hạn. Song các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất tuỳ
thuộc vào từng loại đất và biến đổi tuỳ theo ngời sử dụng đất là cá nhân, hộ gia đình, hay tổ chức trong và ngoài
nớc. Quyền sử dụng đất đợc thể chế hoá và đợc xác nhận bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có thể sử dụng làm vật thế chấp cho các khoản vay tín dụng. Tuy nhiên, các quy định về
quyền sử dụng đất đô thị còn cha rõ ràng, điều này ảnh hởng rất lớn đến khu vực t nhân. Theo quyết định
217/QĐ ngày 17/8/1996 của Thống đốc ngân hàng Nhà nớc thì tất cả các loại đất không có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đều không thể sử dụng để thế chấp. Hiện tại, rất ít các doanh nghiệp hoạt động theo Luật
doanh nghiệp có giấy chứng nhận này. Trong khu vực đô thị, quyền sử dụng đất dài hạn đợc cấp chủ yếu cho các
doanh nghiệp Nhà nớc. Hơn nữa, các doanh nghiệp Nhà nớc đợc quyền góp giá trị quyền sử dụng đất vào liên
doanh với các tổ chức cá nhân trong nớc và nớc ngoài, trong khi đó, các doanh nghiệp hoạt động theo Luật
doanh nghiệp không đợc phép làm nh vậy. Do những khó khăn trong việc chứng nhận quyền sử dụng đất hợp
pháp, nên còn tồn tại một thị trờng đất đai đáng kể hoạt động một cách không chính thức và bất hợp pháp.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do:
- Việc cấp giấy phép quyền sử dụng còn phức tạp và chậm trễ đã gây khó khăn, cản trở cho các doanh
nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong việc đầu t cũng nh làm tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng.
- Thiếu bình đẳng về quyền sử dụng đất giữa doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp với doanh
nghiệp Nhà nớc. Sự phân biệt đối xử quá mức làm giá cả thuê đất không ổn định và vô tình khuyến khích việc
cho thuê lại mà lợi ích chỉ rơi vào tay một số tổ chức, cá nhân. Nhiều doanh nghiệp Nhà n ớc không cần nỗ lực
trong kinh doanh mà chỉ cần cho thuê lại đất để kiếm lời.
Chia ra
Tổng
số
Trên đại
học
Đại học
cao đẳng
Trung
cấp
Công nhân
kỹ thuật
Trình
độ khác
-DNTN 100 0,03 1,73 3,14 4,10 90,99
-CTTNHH 100 0,06 3,32 4,69 5,86 86,07
-CTCP 100 0,05 7,89 7,91 14,74 69,42
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Tóm lại, trình độ đợc đào tạo của giám đốc doanh nghiệp cũng nh của ngời lao động trong các doanh
nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp còn rất thấp, cha thực sự đáp ứng đợc những đòi hỏi của kinh tế thị tr-
ờng. Một trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do Nhà nớc cha có biện pháp cụ thể và thiết thực
hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc đào tạo chủ doanh nghiệp và đào tạo tay nghề cho ngời lao động, phần
lớn các doanh nghiệp phải bỏ tiền tự đào tạo. Hơn thế nữa, Nhà nớc cũng cha có những chính sách và biện pháp
phù hợp để khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tự đào tạo nh miễn giảm thuế đối với chi phí đào tạo của
các doanh nghiệp, hỗ trợ thành lập các trung tâm đào tạo nghề.
2.1.5. Khả năng thông tin và tiêu thụ sản phẩm
Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp vẫn còn ở mức độ rất thấp.
Chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thờng kém hơn so với hàng nhập
khẩu. Hơn nữa những sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp còn phải cạnh tranh với
một số lợng lớn các hàng hoá nhập lậu với giá rẻ hơn.
Bảng 2.8. Tỷ lệ số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phân theo