THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY GẠCH ỐP LÁT HÀ NỘI - Pdf 75

THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI
CÔNG TY GẠCH ỐP LÁT HÀ NỘI
I. MỘT SỐ NÉT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY GẠCH ỐP LÁT HÀ NỘI
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển của công ty
Công ty gạch ốp lát Hà Nội là một thành viên của công ty Thuỷ tinh và gốm
xây dựng- Bộ xây dựng, chuyên sản xuất gạch ốp tường, gạch lát men phục vụ cho
các công trình xây dựng. Trước đây công ty gạch ốp lát Hà Nội là một xí nghiệp
công nghiệp thuộc công ty gốm xây dựng Hữu Hưng.
Công ty gốm xây dựng Hữu Hưng được thành lập từ tháng 6 năm 1959 theo
quyết định số 094A- Bộ xây dựng với tên gọi là xí nghiệp gạch ngói Hữu Hưng.
Trụ sở của công ty tại Đại Mỗ huyện Từ Liêm- Hà Nội. Công ty có hai nhà máy:
+ Nhà máy gạch ốp lát Hà Nội trụ sở tại Thanh Xuân, chuyên sản xuất gạch
ốp lát tráng men cao cấp.
+ Nhà máy gạch Hữu Hưng trụ sở tại Đại Mỗ- Từ Liêm, chuyên sản xuất
gạch đất sét nung.
Cùng với nhu cầu gạch xây dựng, gạch chống nóng nhu cầu gạch lát nền
cũng trở nên rất cần thiết với yêu cầu của thị trường xây dựng. Tháng 2 năm 1994,
công ty gốm Hữu Hưng đã mở rộng thêm sản phẩm gạch lát nền có công suất
1.015.000m
2
/năm, toàn bộ thiết bị là tự động hoá, được nhập từ Italia.
Tháng 11 năm 1994, dây chuyền này đã đi vào hoạt động. Từ đó nhà máy
gạch ốp lát thuộc công ty gốm xây dựng Hữu Hưng được thành lập.
Sản phẩm gạch lát nền VICERA được bán rộng rãi trên cả nước, được khách
hàng đánh giá rất cao. Đây là dây chuyền sản xuất gạch lát nền cao cấp được đầu
tư xây dựng đầu tiên ở Việt Nam. Sản phẩm gạch lát nền của công ty được giấy
chứng nhận về tiêu chuẩn chất lượng của Châu Âu cho gạch lát nền (cen/TC78)
Sự ra đời của dây chuyền I với công suất hơn 1tr m
2
/năm không đáp ứng

2.2. Nhiệm vụ
Công ty gạch ốp lát Hà Nội có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Thực hiện nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh gạch ốp lát theo kế hoạch
phát triển của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng VIGLACER
- Xây dựng và phát triển nguồn vốn đầu tư, tạo nguồn vốn đầu tư sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xây dựng.
- Thực hiện nghĩa vụ lao động đối với người lao động trong công ty, thực
hiện nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước và với xã hội.
- Tổ chức công tác quản lý nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và
công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công nhân.
3. Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất và quản lý tài chính kế toán của công ty
3.1. Cơ cấu tổ chức quản lý
Bộ máy quản lý của công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến chức
năng. Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty, là người có quyền lãnh đạo cao
nhất trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của Công ty, các phòng ban tham mưu cho
giám đốc theo chức năng và nhiệm vụ của mình.
Ban giám đốc: Ban giám đốc của Công ty gồm bốn người, một giám đốc và ba
phó giám đốc.
- Giám đốc là người đứng đầu bộ máy quản lý chỉ đạo và chịu trách nhiệm về
kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Ngoài việc ủy quyền cho các phó giám
đốc, giám đốc còn chỉ đạo trực tiếp thông qua trưởng các phòng ban.
- Các phó giám đốc là người giúp việc trực tiếp cho giám đốc, trực
tiếp chỉ đạo về mặt nghiệp vụ, các bộ phận hoạt động trong phạm vi trách nhiệm
của mình.
Công ty có ba phó giám đốc:
+ Phó giám đốc sản xuất công nghệ.
+ Phó giám đốc thiết bị.
+ Phó giám đốc kinh doanh.
Các phòng ban:
Việc tổ chức ra các phòng ban tuỳ thuộc vào yêu cầu của sản xuất kinh doanh

ốp tường, lát nền theo kế hoạch của công ty giao cho, đảm bảo về số lượng và chất
lượng; chịu trách nhiệm quản lý, bảo quản và sử dụng có hiệu quả tài sản cố định,
vật tư nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng, công cụ lao động sản xuất, thành phẩm
chưa nhập kho; giữ bí mật về công nghệ, số liệu chủng loại trong quá trình sản
xuất.
Phân xưởng cơ điện: Có chức năng quản lý kỹ thuật về thiết bị máy móc
của công ty, tổ chức thực hiện các công việc cụ thể phục vụ cho dây chuyền hoạt
động ổn định, bền; đảm bảo thiết bị hoạt động an toàn; tổng kết đánh giá hiệu quả
của thiết bị hoạt động.
Tại các phân xưởng, các tổ chức sản xuất có quản đốc phân xưởng trực
tiếp quản lý điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Các phòng ban và các phân xưởng có mối quan hệ chặt chẽ, cùng bàn bạc,
triển khai công việc khi có lệnh giám đốc nhằm tổ chức thực hiện mọi công việc
nhanh gọn và hiệu quả.
Nhìn chung, công tác tổ chức bộ máy quản lý của công ty khá hợp lý, phù
hợp điều kiện khách quan và chủ quan. Chính vì bộ máy tổ chức chặt chẽ như vậy
mà Công ty đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực xản xuất chính của mình.
Sản phẩm của công ty sản xuất ra đang được người tiêu dùng tin cậy, tạo cho công
ty có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và trong tương lai sẽ có một
chỗ đứng như vậy trên thị trường quốc tế.
Bộ máy tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của công ty gạch ốp lát Hà Nội
được biêủ diễn theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
của công ty gạch ốp lát Hà Nội

2.1.3.3
3.3. Cơ cấu tổ chức phòng tài chính kế toán
Giám đốc
Phó
giám

hành
Toàn bộ công việc tài chính- kế toán của công ty gạch ốp lát Hà Nội được
sử lý hoàn toàn trên máy vi tính, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và hệ thống
không chỉ ở bộ phận kế toán mà ở cả các bộ phận quản lý chức năng khác của
công ty. Công ty sử dụng chương trình phần mềm Fast Accounting của công ty
phần mềm tài chính kế toán Fast.
Phòng tài chính- kế toán của công ty gạch ốp lát Hà Nội được tổ chức theo
hình thức tập trung.
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán của công ty gạch ốp lát Hà Nội
- Về hình thức kế toán: Công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung nhưng
công ty không sử dụng sổ nhật ký chuyên dùng.Trình tự ghi sổ như sau:
Sơ đồ 2.3
(1) (2)
(1)
(5)

(4)
Kế toán trưởng
Phó phòng
Nhân
viên thủ
quỹ
Nhân viên KT
thanh toán
TSCĐ,tiền
lương, và
BHXH
Nhân viên kế
toán vật tư
Nhân viên

Báo cáo kế toán
Chuẩn bị men và tráng men
Nung sản phẩm
Phân loại và đóng hộp
- Chuẩn bị nguyên liệu xương: Nguyên vật liệu xương được mua về nhà máy
theo kế hoạch sản xuất và đưa về kho dự trữ theo từng loại riêng biệt. Đất sét được
tập kết về kho Đại Mỗ với trữ lượng đủ cho ba tháng sản xuất, sau đó chuyển dần
ra kho của nhà máy. Penspat được tập kết về kho nhà máy một lượng đủ một tháng
sản xuất, các nguyên liệu khác được dự trữ từ một đến hai tháng.
- Quá trình nghiền xương: Nguyên vật liệu được nạp vào phễu định lượng rồi
chuyển đến bộ phận nghiền,ở đây được trộn với nước để có được hồ với độ ẩm
thích hợp, sau đó được đưa dần vào các bể chứa và bể chờ.
- Quá trình sản xuất và ủ bộ ép: Hồ được bơm vào máy sấy phun để tạo ra bột
và hạt nhỏ có độ ẩm theo yêu cầu, sau đó được ủ trong các bể chứa từ 2 đến 3
ngày.
- Sản xuất gạch mộc: Gạch được sấy bằng máy sấy nhanh, sau khi sấy được
chuyển đến dây chuyền tráng men.
- Chuẩn bị men và tráng men: Men được gia công nghiền ướt trong các máy
nghiền và được lưu trữ trong các bể khuấy, sau đó đưa vào dây chuyền tráng men
và trang trí hoa văn bằng hệ thống in lưới lụa. Tiếp theo được chuyển vào hệ thống
kho chứa mộc chuẩn bị nung.
- Nung sản phẩm: Gạch sau khi tráng men được đưa vào lò nung ở nhiệt độ
1150o đến 1200o C, trong khoảng thời gian từ 40 đến 50 phút.
- Phân loại và đóng hộp: Gạch sau khi nung được chuyển thẳng qua hệ thống
băng chuyền vào hệ thống phân loại và đóng gói tự động, sau đó được bọc một lớp
nilon bảo vệ nhờ một hệ máy màng co và nhập kho sản phẩm.
5. Đặc điểm sản xuất kinh doanh
5.1 Đặc điểm kinh doanh của công ty
Công ty Gạch ốp lát Hà Nội là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
sản xuất công nghiệp, sản xuất chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu trong nước. Sản

doanh của công ty còn gặp phải một số khó khăn nhất định như :
Một là: khó khăn về vốn: Được thành lập trong điều kiện không được cấp vốn,
mọi chi phí đều phải đi vay và chịu lãi. Nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp
không đủ phải đi vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế. Đã đi vay thì phải chịu lãi,
do đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty.
Hai là: Sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt. Trong cơ chế thị trường
luôn biến động. Công ty phải đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh đồng thời không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao sức
cạnh tranh. Đó cũng là khó khăn đòi hỏi cán bộ công nhân viên trong công ty phải
phát huy thế mạnh khắc phục mọi yếu điểm để kết quả sản xuất kinh doanh ngày
càng cao.
Trong thời gian qua, công ty đã nỗ lực rất nhiều trong việc khắc phục những
khó khăn và tận dụng tốt những thuận lợi của mình. Để thấy rõ hơn điều đó, chúng
ta đi xem xét kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy trong những năm
qua.
6. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong một số năm qua
Cùng với sự cố gắng nỗ lực của công ty là tình hình kinh tế xã hội của đất
nước có chiều hướng thuận lợi. Tốc độ tăng trưởng chung của cả nước tăng đáng
kể, nhu cầu nhà ở tăng mạnh kéo theo hàng loạt các dự án về đô thị hoá xây dựng
những khu đô thị mới, nên những năm vừa qua tình hình sản xuất kinh doanh của
công ty cũng đạt được những kết quả nhất định.
Bảng 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua hai năm 2000 -
2001
S
TT
Chỉ tiêu Đ
ơn vị
tính
Năm
2000

-
161.089
-
4,19
4 Nộp ngân sách “ 8.783.0
00
5.657.
000
-
3.126.000
-
35,59
5 Tổng VKD bình
quân
“ 174.922
.974
165.09
8.685
-
9.824.290
-
5,62
VCĐ bình quân “ 110.956
.503
96.302
.775
-
14.653.72
8
-

lãi vay ngân hàng rất lớn, cộng với các khoản chi phí khác như chi phí bán hàng và
chi phí quản lý doanh nghiệp. Khoản chi phí tài chính là một gánh nặng nợ nần mà
công ty đang tìm cách khắc phục. Lợi nhuận giảm nhưng khả năng sinh lời của
đồng vốn bỏ ra đã tăng lên. Cụ thể:
- Doanh lợi vốn sản xuất kinh doanh tăng 0.0003 đồng, tức là cứ một đồng vốn
khi tham gia vào quá trình SXKD năm 2000 tạo ra 0,022 đồng lợi nhuận sau thuế
nhưng cũng với một đồng vốn đó trong kinh doanh năm 2001 đã tạo ra 0,0223
đồng lợi nhuận sau thuế. Con số này chứng tỏ công ty sử dụng vốn đã có hiệu quả
hơn.
- Doanh lợi doanh thu năm 2001 đã giảm 0,12% so với năm 2000. Cụ thể:
Năm 2000, bình quân trong một đồng doanh thu có 0,018 đồng lợi nhuận sau
thuế. Năm 2001, một đồng doanh thu chỉ còn 0,0168 đồng lợi nhuận sau thuế,
chứng tỏ công ty chưa quản lý chặt chẽ các khoản chi phí trong quá trình SXKD,
làm tăng giá thành sản phẩm. Đây là kết quả của việc sử dụng vốn lãng phí, chưa
đúng mức.
- Do lợi nhuận của công ty năm 2001 giảm nên việc thực hiện nghĩa vụ đối với
ngân sách nhà nước cũng giảm là 3.126.000 (nđ) với tỷ lệ giảm là 35,59% đồng
thời thu nhập bình quân một công nhân cũng giảm tương ứng là 3,79%.
Sau đây chúng ta cùng đi sâu xem xét tình hình tổ chức quản lý và sử dụng
vốn lưu động của công ty để tìm ra những nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và vốn sản xuất nói chung.
II. tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty gạch ốp lát
hà nội
1. nguồn vốn kinh doanh và nguồn vốn lưu động của công ty
1.1. Vốn và nguồn vốn kinh doanh của công ty
Xem xét tình hình vốn và nguồn vốn kinh doanh tại một thời điểm cho phép
ta đánh giá được quy mô kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó ta thấy được thực
trạng tài chính và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để thấy rõ được tình hình vốn và nguồn vốn kinh doanh của của công ty ta
xem xét bảng 2 (trang bên):

doanh
172.770.1
18
100 157.427.2
52
100
1 Vốn lưu động 66.808.79
3
38,6
7
70.783.02
6
44,
96
2 Vốn cố định 105.961.3
25
61,3
3
86.644.22
5
55,
04
II Nguồn vốn
kinh doanh
172.770.1
18
100 157.427.2
52
100
1 Nợ phải trả 159.483.1

7,84
15,0
8
2,50
3,27
55.064.30
9
37.662.12
6
5.236.489
8.651.357
1.657.481
1.865.854
38,
82
68,
40
9,5
1
15,
71
3,0
1
3,3
7
- Nợ dài hạn 103.964.9
89
65,1
9
80.907.83


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status