NGHIÊN CỨU VỀ THỊ TRƯỜNG EU
Hội nhập KTQT không chỉ là việc tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và
toàn cầu mà bên cạnh đó, hội nhập KTQT còn có nhĩa là chúng ta sẽ tiến hành các
hoạt động kinh tế trên phạm vi quốc tế, có quan hệ kinh tế với tất cả các chủ thể
KTQT, từ các công ty, tập đoàn tới các chính phủ và các khối liên chính phủ. Đặc
biệt đối với lĩnh vực thương mại thì việc mở rộng các quan hệ với nhiều đối tác thì
sẽ tạo điều kiện cho quốc gia có sự lựa chọn và nhiều cơ hội hơn để đạt được
những mục tiêu kinh tế của mình. Hiện nay chúng ta đã có quan hệ kinh tế với
nhiều quốc gia ở khắp các châu lục. Việt Nam đang thực hiện đẩy mạnh hoạt động
thương mại đặc biệt là hoạt động xuất khẩu, thì việc tìam kiếm những thị trường
phù hợp là một nhiệm vụ rất quan trọng. EU là một thị trường rất hấp dẫn và thu
hút sự quan tâm của hầu hết các doanh nghiệp muốn đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu của mình. Việc nghiên cứu về thị trường này sẽ giúp chúng ta nắm bắt được
các cơ hội và lường được khó khăn thách thức trong việc xâm nhập hàng hoá của
Việt Nam vào thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng dầy mới mẻ này.
I. Liên minh Châu Âu (EU)
1. Vài nét về quá trình phát triển của Liên Minh Châu Âu
1.1. Sự ra đời của Liên Minh Châu Âu và các bước tiến tới nhất thể hoá toàn diện
Liên Minh Châu Âu là một tổ chức liên kết khu vực, bao gồm 15 nước thành
viên, liên kết với nhau nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội. Nó
bắt đầu với việc tự do hoá mậu dịch giữa các nước thành viên và các chính sách
kinh tế có liên quan.
Năm 1923, Bá Tước người áo sáng lập ra “Phong Trào Liên Âu” nhằm đi tới thiết
lập “Hợp Chủng Quốc Châu Âu” để làm đối trọng với Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Năm 1929, Ngoại trưởng Pháp A.Briand đưa ra đề án thành lập “Liên Minh Châu
Âu”, nhưng đều không thành. Đây là những ý tưởng đầu tiên về việc hình thành
một Châu Âu thống nhất
Vào ngày 9/5/1950 Bộ trưởng ngoại giai Pháp Robert Schuman đã đề nghị
đặt toàn bộ nền sản xuất than, thép của Cộng Hoà Liên Bang Đức và Pháp dưới
một cơ quan quyền lực chung trong một tổ chức mở cửa để các nước Châu Âu
khác cùng tham gia. Do vậy, Hiệp ước thành lập Cộng đồng Than-Thép Châu Âu
đồng Châu Âu (EC). Đây là giai đoạn “đẩy mạnh nhất thể hoá” trên tất cả các lĩnh
vực từ kinh tế- tiền tệ, ngoại giao và an ninh, đến nội chính và tư pháp. Với việc
kết nạp thêm áo, Thụy Điển và Phần Lan vào năm 1995, Số thành viên của EU đã
lên đến 15 và hiện đang trong quá trình thu hút thêm các nước Đông Âu.
Trong 3 giai đoạn kể trên, nhiệm vụ chính của hai giai đoạn đầu là đẩy
mạnh hợp tác giữa các quốc gia thành viên khi mà các yếu tố để nhất thể hoá
còn rất hạn chế. Đến giai đoạn thứ 3 thì hoàn toàn khác, nhiệm vụ chính là
thực hiện nhất thể hoá xuyên quốc gia thay thế cho hợp tác thông thường.
Đây thực sự là bước phát triển mới về chất so với hai giai đoạn trước.
Cho đến nay, sau nhiều nỗ lực của EU, tiến trình nhất thể hoá Châu Âu đã
đạt được các kết quả rất khả quan cả về an ninh, chính trị, xã hội, kinh tế và thương
mại.
- Về an ninh: EU lấy NATO và Liên Minh Phòng Thủ Tây Âu (WCU) làm
hai trụ cột chính và đang giảm dần sự lệ thuộc vào Mỹ.
- Về chính trị: Đang diễn ra quá trình chính trị hoá các nhân tố kinh tế, an
ninh nghĩa là kết hợp các phương tiện kinh tế, quân sự nhằm đạt tới các mục tiêu
chính trị. Đặc trưng chủ yếu nhất của Châu Âu ngày nay là quá trình Âu hoá, hợp nhất
và thống nhất các đường biên giới quốc gia nhằm tăng cường quyền lực và quản lý
chung. Đồng thời EU đang đẩy mạnh hợp tác quốc tế và khu vực bằng việc ký các Hiệp
định song và đa biên.
- Về xã hội: Các nước thành viên thực hiện một chính sách chung về lao
động, bảo hiểm, môi trường, năng lượng, giáo dục, y tế; hiện nay chỉ còn vài bất
đồng về bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ dân sự và giải quyết nạn thất nghiệp.
- Về kinh tế: GDP của EU năm 1998 đạt 8.482 tỷ USD (theo Tạp chí EIU
quý IV 1999) được xem là lớn nhất thế giới (NAFTA: 8.150 tỷ USD, Nhật Bản:
5.630 tỷ USD, ASEAN: 845 tỷ USD) với mức tăng trưởng bình quân hàng năm
gần 2,2%. Đây là khu vực kinh tế đạt trình độ cao về kỹ thuật, công nghệ, thiết bị,
máy móc; đặc biệt về cơ khí, năng lượng, nguyên tử, dầu khí, hoá chất, dệt may,
điện tử, công nghiệp vũ trụ và vũ khí.
- Về thương mại: EU hiện là trung tâm thương mại khổng lồ với doanh số
Xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ (%)
8,3 4,9 9,4 5,6 2,4 5,5
Nhập khẩu hàng hoá và
dịch vụ (%)
7,0 4,0 8,7 8,4 3,4 5,2
Nhu cầu nội địa (%) 2,2 1,3 2,2 3,5 2,4 2,5
Dân số (triệu người) 371,4 372,5 373,5 374,6 375,5 376,6
Giá cả tiêu dùng (%) 2,9 2,5 1,9 1,5 1,4 1,8
Lực lượng lao động 165 165,9 166,4 167,7 168,2 168,9
(Triệu người)
Tỷ lệ thất nghiệp (%) 11,0 11,2 10,9 10,2 9,4 9,0
Chiếm tỷ trọng trong dân
số thế giới (%)
6,55 6,47 6,41 6,34 6,27 6,21
Chiếm tỷ trọng trong GDP
thế giới (%, theo tỷ giá thị
trường)
29,82 29,60 27,93 29,14 28,33 28,39
Nguồn : Tạp chí EIU quý IV 1999; * Số liệu ước tính; ** số liệu dự báo
Tăng trưởng GDP của 11 quốc gia thuộc khu vực đồng euro là 2%, giảm 1%
so với mức tăng 3% năm 1998. Tốc độ tăng GDP của một số quốc gia công nghiệp
chủ chốt trong EU đều giảm sút với mức độ khác nhau, trong đó lần lượt là Đức, từ
2,7%/1998 xuống còn 1,4%/1999; Pháp từ 3,2%/1998 xuống còn 2,5%/1999; Italia
từ 2,1%/1998 xuống còn 1,2%/1999; Anh từ 2,2%/1998 xuống còn 1,1%/1999.
Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho kinh tế EU bị chững lại. ở
những quốc gia có nền kinh tế nhỏ hơn như Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, tốc độ
tăng trưởng kinh tế lại nhanh hơn so với các nền kinh tế lớn. Quốc gia có tốc độ
tăng trưởng GDP cao nhất trong EU là Ai Len 8,5% (mặc dù đã giảm 2,9% so với
năm 1998).
EU không những là một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế
giới mà còn là nơi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới. Nguồn vốn FDI
của EU chiếm 45,7% tổng vốn FDI toàn cầu, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản là
27,1% và 6,7%.
Năm 1991, FDI toàn thế giới là 198.143 triệu USD; FDI của EU là 106.113
triệu USD, chiếm 53,55% FDI thế giới; trong khi đó FDI của Mỹ và Nhật Bản là
31.380 triệu USD và 31.620 triệu USD, chiếm 15,83% và 15,95% FDI thế giới.
Năm 1995, FDI toàn cầu là 352.514 triệu USD; FDI của EU là 159.124
triệu USD, chiếm 45,13% FDI toàn cầu; FDI của Mỹ và Nhật Bản là 96.650
triệu USD và 22.510 triệu USD, chiếm 27,41% và 6,38% FDI toàn cầu.
Năm 1997, FDI toàn cầu là 423.666 triệu USD; FDI của EU là 203.237
triệu USD, chiếm 47,97% FDI toàn cầu; còn FDI của Mỹ và Nhật Bản là
121.840 triệu USD và 26.060 triệu USD, chiếm 28,75% và 6,15% FDI toàn cầu.
Chỉ tính riêng năm 1997, vốn FDI của cả Mỹ và Nhật Bản mới chỉ đạt
147.900 triệu USD, trong khi đó FDI của EU là 203.237 triệu USD, cao hơn của
hai nước này là 81.397 triệu USD. FDI của Mỹ và của Nhật Bản chiếm 59,94% và
12,82% FDI của EU.
Ngày nay, các nước thành viên EU đều là các nước công nghiệp có nền kinh
tế phát triển mạnh đang tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng
công nghệ cao, như điện tử tin học, viễn thông, công nghệ sinh học,v.v... Do vậy,
FDI của EU tập trung chủ yếu ở các nước phát triển, cụ thể: Mỹ chiếm 39,7%,
Nhật Bản chiếm 32,1%, ASEAN chiếm 12,6% FDI của EU và 15,6% FDI còn lại
của EU đầu tư vào các nước Trung Cận Đông và Châu Phi.
3. Chiến lược mới của EU đối với Châu á
Phát triển quan hệ hợp tác á-ÂU là việc làm hết sức thiết thực vì lợi ích của
cả hai bên. Đẩy mạnh hợp tác với Châu á-nơi mà ngày càng có nhiều ảnh hưởng to
lớn cả về kinh tế cũng như về chính trị, là một chiến lược đúng đắn của EU mà họ
đã và đang tích cực thực hiện. Họ có thể gia tăng các hoạt động đầu tư của mình
vào khu vực này để đem về những khoản lợi nhuậ to lớn hơn và từ đó phát huy ảnh
hưởng chính trị của mình đối với khu vực cũng như trên trường quốc tế. Do vậy,
với Việt Nam thể hiện ở việc EU dành cho hàng của ta hưởng ưu đãi thuế quan
phổ cập (GSP) và tăng vốn ODA hàng năm cùng với việc đẩy mạnh hỗ trợ kỹ
thuật. EU dành sự ưu tiên đặc biệt cho ASEAN mà Việt Nam là một thành viên
của Tổ chức này. Rõ ràng vị thế của Việt Nam đã được nâng lên trong chính
sách mới của EU đối với Châu á.
Với chính sách hướng về Châu á của mình, EU ngày càng dành sự ưu tiên
và hỗ trợ nhiều hơn cho Việt Nam - Một thị trường không lớn lắm trong khu vực
này, nhưng mang lại khá nhiều lợi ích kinh tế cho EU trong quan hệ hợp tác
phát triển.
II. Đặc điểm của thị trường EU
Để hiểu biết sâu sắc hơn về thị trường EU thì không thể không nắm bắt các
đặc điểm của thị trường này, điều này sẽ giúp cho mỗi doanh nghiệp lựa chọn
những phương thức phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất để thâm nhập vào thị
trường này, khi nó thoả mãn được các đặc điểm về tập quán, thị hiếu tiêu dùng
cũng như các kênh phân phối trong EU.
1. Tập quán, thị hiếu tiêu dùng và kênh phân phối
1.1. Tập quán và thị hiếu tiêu dùng
EU là một thị trường rộng lớn, với 375,5 triệu người tiêu dùng (1999). Thị
trường EU thống nhất cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hoá, dịch vụ
và vốn giữa các nước thành viên. Thị trường này còn mở rộng sang các nước thuộc
“Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu” (EFTA) tạo thành một thị trường rộng lớn
trên 380 triệu người tiêu dùng.
EU gồm 15 thị trường quốc gia, mỗi thị trường lại có đặc điểm tiêu dùng
riêng. Do vậy, có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong
phú về hàng hoá. Có những loại hàng rất được ưa chuộng ở thị trường Pháp,
Italia, Bỉ, nhưng lại không được người tiêu dùng Anh, Ailen, Đan Mạch và
Đức đón chào. Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị hiếu tiêu
dùng giữa các thị trường quốc gia trong khối EU, nhưng 15 nước thành viên
đều là những quốc gia nằm ở khu vực Tây và Bắc Âu nên có những điểm
tương đồng về kinh tế và văn hoá. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các
tiêu dùng tăng, các nhà sản xuất Nhật Bản tiến hành bước tiếp theo là gắn nhãn
hiệu của mình bên cạnh nhãn hiệu của nhà sản xuất nổi tiếng Châu Âu trên sản
phẩm đó. Sau một thời gian nhất định đủ để người tiêu dùng nhận thấy chất lượng
sản phẩm tốt và giá hợp lý. Nhu cầu tiêu dùng của họ đối với loại sản phẩm có gắn
hai nhãn hiệu bắt đầu tăng nhanh, các nhà sản xuất Nhật Bản tiến hành bước cuối
cùng là bóc nhãn hiệu của nhà sản xuất nổi tiếng Châu Âu. Lúc này trên sản phẩm
chỉ còn lại một nhãn hiệu duy nhất của nhà sản xuất Nhật Bản. Vẫn là sản phẩm