NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH MUỐI CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
♣♣♣♣
I. VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG KINH DOANH MUỐI
Ở VIỆT NAM
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đổi mới doanh nghiêp
nhà nước luôn luôn được chú ý nhiều nhất. Đảng và nhà nước ta luôn xác định
thành phần kinh tế quốc doanh phải là thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Ở Việt nam trong thời kỳ bao cấp tồn tại 2 thành phần kinh tế chiếm ưu thế
tuyệt đối là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Trong cơ chế này thị trường bị
triệt tiêu tính cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp , sản xuất không được thúc đẩy
mức độ tăng trưởng kinh tế ngày càng thụt lùi. Điểm yếu kém trong cơ chế bao cấp
đó là sự bất hợp lý của cơ cấu kinh tế sự trì trệ thua lỗ triền miên của sản xuất kinh
doanh từ đó nảy sinh yêu cầu bức thiết phải có cơ chế mới thích hợp.
Đại hội Đảng lần thứ VI ra đời là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự
khởi sắc của nền kinh tế và một lần nữa khảng định vai trò chủ đạo của các Doanh
nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Trong những năm đầu khi chuyển đổi cơ chế các cơ sở kinh tế quốc doanh
chưa theo kịp sự thay đổi của cơ chế thị trường, bộ máy quản lý của Doanh nghiệp
quá cồng kềnh không phù hợp với cơ chế tự trang trải tự hạch toán kinh doanh do
đó nhiều Doanh nghiệp sản xuất thua lỗ dẫn tới phá sản. Chính vì vậy có nhiều
quan điểm tư tưởng lệch lạc cho rằng các Doanh nghiệp quốc doanh cần phải xoá
bỏ và họ đặt ra câu hỏi liệu các Doanh nghiệp Nhà nước có giữ vai trò chủ đạo hay
không?
Quan điểm trên hoàn toàn sai lầm, bởi nền kinh tế của các nước phát triển
đã từng chứng minh nếu để bàn tay vô hình đièu tiết thị trường sẽ dẫn đến những
trục trặc, tổn thất vô ích cho xã hội. Đảng và nhà nước Việt Nam nhận thức rằng
việc cải tạo các thành phần kinh tế một cách thô bạo cũng như việc tư nhân hoá các
Doanh nghiệp Nhà nước một cách một cách xô bồ nóng vội đều trái với quy luật
vùng núi hiểm trở, gập gềnh gây cản trở công việc vận tải, thêm vào đó muối là
một mặt hàng cồng kềnh dễ chẩy nước. Thông qua Tổng Công ty Muối, muối ăn
được chuyển tải đầy đủ và kịp thời tới đồng bào miền núi và hải đảo.
Như vậy với tất cả các chỉ tiêu xã hội mà Tổng Công ty Muối đã thực hiện
phần nào đã khẳng định vai trò chủ đạo trong ngành muối nói riêng và trong hệ
thống các Doanh nghiệp Nhà nước nói chung. Để xem xét cụ thể vai trò của các
Doanh nghiệp muối chúng ta cùng đi vào đặc điểm quá trình sản xuất và cách thức
quản lý.
1. VAI TRÒ CỦA SẢN PHẨM MUỐI
Muối và sản phẩm muối có vai trò vô cùng quan trọng trong tiêu dùng và
sản xuất.Muối ănlà nguyên liệu chính là sản phẩm thiết yếu trong cuộc sống hàng
ngày . Sản phẩm của muối là nguyên liệu ,chất phụ gia để chế biến hơn 14.000 sản
phẩm, có mặt hầu hết ở các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y dược, thực phẩm.
Ví dụ trong y dược là nguyên liệu chế nước khoáng, thuốc chữa bệnh, trong nông
nghiệp là là nguyên liệu chế phân bón, thức ăn cho gia súc,trong công nghiệp có
vai trò trong chế biến tơ nhân tạo,thuỷ tinh,xút... Người ta chỉ nhìn nhận muối
trong một lĩnh vực duy nhất là bữa ăn hàng ngày nhưng công dụng của muối là rất
lớn nó có vai trò và tác dụng chế nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác nhau.
Vì vậy khi nói đến muối không chỉ thuần nhất xem xét tính mặn nhạt mà phải tìm
hiểu cả công dụng của muối. Hiện nay khi cuộc sống ngày càng phất triển,nền kinh
tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường thì đồng nghĩa với nền kinh tế hàng hoá là sự
thay đổi cảnh quan thiên nhiên,thay đổi môi trường sống. Việt Nam là một nước
thiếu iốt. Qua bao nhiêu thế kỷ iốt tự nhiên trong đất bị rửa trôi khỏi các sườn núi
dẫn tới lụt lội đât không đủ cung cấp cho cây trồng và gia súc. Điều đó dẫn đến
thiếu iốt dùng cho thực phẩm cho con người.
Năm 1993 Bộ Y tế và Unicef đã tiến hành khảo sát tại một số điểm và chọn
ngẫu nhiên trên toàn quốc, đánh giá bướu cổ và các thử nghiệm khác .Kết quả khảo
sát cho thấy 94% đân số Việt Nam bị thiếu iốt, diện dân cư bị thiếu iốt với mức độ
khác nhau và trải rộng trên toàn quốc. Tác hại của căn bệnh bướu cổ rất ghê gớm
nó kéo thao sự đần độn và giảm trí thông minh của con ngươì. Ngay từ năm 1992
xuất muối công nghiệp dài hạn thì sẽ mang lại rất nhiều lợi ích và tạo đà phát triển
vượt bậc góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu muối.
2. ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT LƯU THÔNG VÀ TIÊU DÙNG MUỐI
a. Đặc điểm sản xuất muối
Đặc điểm sản xuất muối nhìn chung còn manh mún phân tán chưa tập
chung. Các đồng muối sản xuất chưa được quy hoạch cụ thể. Hiện nay do truyền
thống lâu đời nên nghề muối nước ta vẫn chủ yếu được làm theo phương pháp thủ
công với diện tích 9600 ha và sản lượng đạt 430.000 tấn/năm, năm 1998 đạt
800.000 tấn. Do điều kiện khác nhau giữa hai miền Nam Bắc nên phương thức sản
xuất khác nhau. Ở miền Nam chỉ có hai mùa mưa và nắng nên áp dụng phương
pháp phơi nước. Phương pháp này cho năng suất cao chất lượng muối nguyên liệu
khá tốt và một phần muối đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Ở miền Bắc thời tiết chia làm 4
mùa không rõ rệt nên áp dụng phương pháp sản xuất phơi cát (phương pháp này
hiện nay trên thế giới không còn sử dụng nữa) . Phương pháp phơi cát cho năng
suất thấp vì thế lợi thế cạnh tranh của muối miền Bắc kém hơn miền Nam. Tuy
nhiên không thể không coi trọng nghề muối ở miền Bắc do thị hiếu người tiêu
dùng và đặc biêt có liên quan đến đời sống hàng vạn người lao động.
Từ khi bãi bỏ cơ chế bao cấp, các thành phần kinh tế tư nhân được phép
tham gia vào sản xuất và kinh doanh muối. Thị trường trở nên cạnh tranh gay gắt
giữa tư thương và các Doanh nghiệp Nhà nước làm cho giá cả hỗn loạn. Chính vì
sự biến động của thị trường làm cho phát triển sản xuất giảm sút, một số đồng
muối bị thu hẹp. Diêm dân <theo từ Hán để chỉ những người dân sản xuất muối
>quay sang nuôi trồng tôm, thuỷ sản. Một số người sản xuất theo kiểu hộ gia đình,
lúc đầu cho thu nhập khá cao nhưng vì sản xuất muối mang tính công nghiệp, đồng
muối kho bãi cơ sở hạ tầng phải dùng chung. vì vậy một số đồng muối xuống cấp
nghiêm trọng, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp.
b. Đặc điểm của lưu thông muối
Trên thực tế hiện nay đặcn điểm lưu thông muối bị buông lỏng thị trường
muối hoàn toàn được thả nổi. Trước năm 1990 toàn quốc có Tổng Công ty Muối
làm nhiệm vụ bán buôn, các công ty công nghiệp địa phương làm nhiệm vụ bán lẻ
tự chủ cho họ vừa tránh được các cuộc khủng hoảng thừa thiếu cho chính các xí
nghiệp đó. Việc vận chuyển từ Nam ra Bắc vào mùa khô tránh làm muối ướt và
chủ yếu bằng hai phương tiện thuỷ và bộ.
Mật khác ngoài thời vụ người lao động khá rỗi việc. Trong quá trình sản
xuất họ tích trữ một phần sản phẩm của mình để dự trữ lưu thông bán lẻ. Việc lưu
thông kiểu này tiện lợi cho người tiêu dùng nhưng lại gây khó khăntrong việc lưu
thông trên thị trường có thể xảy ra hai trương hợp giá bán của họ quá thấp do
được mùa muối, lúc giá bán lại quá cao tạo nên sự không ổn định về giá muối. Như
vậy vấn đề lưu thông hiện nay còn rất nhiều bất cập. Ngoài vận chuyển muối cho
đồng bằng còn phải cung cấp cho đồng bào vùng sâu vùng xa. Việc vận chuyển
muối lên miền núi rất khó khăn do địa hình hiểm trở, hơn nữa đây lại là khu vực
dân cư có thu nhập thấp, giá muối bán ra phải thấp hơn gia muôi tại đồng bằng. Vì
vậy để điều hoà muối giữa các vùng trong cả nước đối với các doanh nghiêp Nhà
nước sản xuất còn là bài toán khó .
c.Đặc điểm tiêu dùng muối.
Đặc điểm tiêu dùng quanh năm rộng khắp và ổn định chất lượng muối dùng
cho dân cư, khu công nghiệp, khu vực sản xuất đòi hỏi ngày càng cao. Nếu như
trước kia người ta thường dùng muối hạt thì nay sử dụng muối tinh chế (đã lọc bỏ
tạp chất) hay muối tinh trộn iốt. Trong cơ thể con người bao giờ cũng phải cung
cấp muối iốt cần thiết, người ta không thể lúc này ăn thật nhiều muối nhưng lúc
khác không ăn hoặc ăn ít hơn Muối không có mặt hàng thay thế như gạo, thực
phẩm nên mức cầu về tiêu dùng khá ổn định. Do đó việc tăng sản xuất trong ngành
muối là rất khó khăn, người ta không thể tăng hiệu quả sản xuất bằng cách sản
xuất thật nhiều muối. Đối các Doanh nghiệp sản xuất thì với cùng công nhân, tay
nghề sản phẩm làm ra càng nhiều thì càng mang lại lợi nhuận nhiều cho nhà kinh
doanh, nhưng với sản xuất muối thì khác hẳn sản xuất phải nghiên cứu định mức
tiêu dùng sản xuất quá nhiều sẽ dẫn đến sự mất cân đối cung cầu. Điều này làm
cho các nhà sản xuất luôn bị thiệt và lúc đó hiêu quả kinh tế sẽ không được đảm
bảo.
Từ sự khác nhau giữa tiêu dùng và sản xuất, cộng với những đặc trưng cơ
phải có những điều kiện riêng. Khi một phần lớn lượng muối đã rơi vào tay tư
thương thì chất lượng trọng lượng muối hoàn toàn không được bảo đảm theo
những quy định của ngành.
Muốn đua muối vào guồng máy có hiệu quả, điều hoà muối giữa các
vùng ,tránh tìng trạng nơi quá ứ đọng muối nơi lại quá thừa muối thì các doanh
nghiệp sản xuất phải có sự quản lý của Nhà nước. Thời gian qua chúng ta hoàn
toàn thả lỏng thị trường muối các doanh nghiệp tư nhân. nhóm kinh doanh ồ ạt
phát triển tìm mọi cách bán nhiều muối nhất dẫn đến chỉ chú trọng thị trường có
thu nhập cao mà bỏ qua thị trường khác. Chính vì vậy tạo ra sự mất cân đối khi
phân phối muối cho các vùng đồng bằng và miền núi .Hơn nữa còn tạo ra sự cạnh
tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp do đó nhất thiết phải có sự quản lý
của Nhà nước .
3.2. Vai trò của Tổng Công ty Muối Việt nam
Tổng Công ty Muối là một Doanh nghiệp Nhà nước bao gồm các Doanh
nghiệp trực thuộc. Địa bàn của Tổng Công ty Muối rộng khắp cả nước và các
Doanh nghiệp, xí nghiệp trực thuộc trải đều từ Bắc vào Nam.
Tổng Công ty Muối giữ vai trò điều tiết thị trường giữa miền núi và đồng
bằng cân đối cán cân xuất nhập khẩu. Từ năm 1986 đất nước bước vào chuyển đổi
sang cơ chế thị trường cũng giống các Doanh nghiệp Nhà nước khác Tổng Công ty
Muối đã gặp phải không ít khó khăn trở ngại. Tổng Công ty Muối chủ động tìm ra
lối thoát bằng cách đầu tư công nghệ tìm kiếm thị trường mới, cải tiến mẫu mã
không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Để nâng cấp và cải tạo đồng muối đưa sản xuất với quy mô lớn chỉ có Tổng
Công ty Muối mới hoàn thành tốt nhiệm vụ này. Mặt khác cùng với việc nâng cao
chất lượng muối nhập các công nghệ thiết bị hiện đại Tổng Công ty Muối còn
hướng mở rộng thi trường ra xuất khẩu.
Ngoài mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận, doanh thu, giảm thiểu chi phí, Tổng
Công ty Muối là đơn vị duy nhất đảm bảo các chỉ tiêu hiệu quả xã hội. Tổng Công
ty Muối giải quyết cho hàng vạn lao động góp phần nâng cao đời sống kinh tế
vùng biển. Bên cạnh đó Tổng Công ty Muối là doanh nghiệp duy nhất thực hiên
doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện
vật và đơn vị giá trị.
Qua đó cho thấy rằng một Doanh nghiệp sẽ đat hiệu quả kinh doanh cao
nhất khi sử tối ưu các nguồn lực đầu vào với mức chi phí thấp nhất. Gắn liền với
hiệu quả kinh doanh là kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh. Còn doanh thu
tiêu thụ hàng hoá chỉ là kết quả là một trong số rất nhiều mục tiêu của doanh
nghiệp. Với cách nhìn nhận như vậy chúng chúng ta sẽ xác định được hiệu quả
tăng lên là do tăng các nguồn lực đầu vào hay là làm giảm chi phí, điều này rất khó
xác định.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả sản xuât xã hội diễn ra khi không
thể tăng một lượng hàng hoá này mà không cắt giảm một lượng hàng hoá khác. Một
nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó “. Có
thể nối quan điếm này đã đề cập đến khía cạnh của nền phân bố có hiệu quả các
nguồn lực của nền sản xuất xã hội “Trên phương diện này, rõ ràng phân bố các
nguồn lực của nền kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực sản xuất
trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả. Đây là
trường hợp lý tưởng không thể thực hiện được vì tất cả các nguồn lực đều được sử
dụng tối đa không thể lãng phí bất cứ nguồn lực nào.
Quan điểm thứ ba: “ Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa
sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí ”. Như vậy quan niệm này chỉ đề
cập đến phần tăng lên của hiệu quả kinh tế chứ không phải là của toàn bộ phần
tham gia vào quá trình kinh tế.
Quan điểm thứ tư : đây là quan điểm của khá nhiều tác gỉả đề cập đến hiệu
quả kinh doanh ở dạng khái quát coi hiêu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa
kết quả đạt được và chi phí để đạt được kết quả đó.