THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DNNN TẠI CỤC THUẾ HÀ TÂY - Pdf 75

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DNNN
TẠI CỤC THUẾ HÀ TÂY.
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÁC DOANG NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN
ĐỊA BÀN HÀ TÂY.
1.Tình hình phát triển của các doanh nghiệp nhà nước.
Trong các năm qua (2001-1004).Các loại hình doanh nghiệp trong tỉnh đã nỗ
lực khắc phục khó khăn, đầu tư trang bị mở rộng sản xuất, tìm kiếm thị trường
nhiều doanh nghiệp đã thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường đẩy mạnh SXKD và
đã thu được nhiều thành tích đáng khích lệ, tăng thu NSNN và cùng với sự phát
triển chung của tỉnh đã góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế XH.
Đại hội Tỉnh đảng bộ Hà tây thứ IX đã đề ra.
Bảng 1: Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Hà Tây năm 2001 – 2004
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004
- Tổng sản phẩm XH GDP tăng 7,8% 9.8% 9,1% 10,47%
- Gía trị SXCN tăng 14% 25% 17,65% 20,7%
Trong đó : QD 31,8% 24,76%
NQD 17,9% 13,28% 20,1%
ĐTNN 7,9% 46,27% 21,2%
- Dịch vụ du lịch 15,1% 16,2% 15,7%
- Nộp ngân sách(so dự toán) 403,7 tỷ 459,7 tỷ 608,6 tỷ 1.002
tỷ
Năm 2004 tăng 2,5 lần so Với năm 2001 và Dự kiến Năm
2005
tăng 3,5 lần năm 2001)
Về cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực:
+Nông lâm ,thuỷ sản 38,4% 35,9% 34,55% 33,61
%
+CN-XD 31,9% 34,6% 35,9% 37,1%
Dịch vụ 29,7% 29,4% 29,52% 29,29
%
Nguồn: Cục thuế Hà Tây

Các doanh nghiệp vẫn tập trung trong đầu tư , ổn định SXKD và có số nộp ngân
sách lớn trên địa bàn trong nhiều năm qua:
Công ty CP xi măng Sài sơn
Công ty CP xi măng Tiên sơn
……
….
1. Tinh hình chấp hành chế độ ngân sách.
2. Bảng 2: Đóng góp của các loại hình DN vào ngân sách năm 2001-2004
ĐV: tỷ đồng
Loại hình
doanh nghiệp
2001 2002 2003 2004
DNNNTW 54,177 58,551 67 120
DNNNĐP 34,603 35,327 37,8 60
DNNQD 13,517 14,540 17,934 24,468
Nguồn: Cục thuế Hà Tây
Năm 2004 các DNNN do Cục quản lý đã thu trên khoảng 180 tỷ đồng (Bao
gồm cả chi phí do các doanh nghiệp quản lý thu). Chiếm tỷ trọng 17,6 % kết quả
thu trên địa bàn. Các doanh nghiệp có số nộp ngân sách lớn, điện lực trên 30 tỷ
dồng, bưu điện 20 tỷ đồng, XN khảo sát XD điện I nộp 3 tỷ , công ty liên hợp thực
phẩm trên 6 tỷ đồng. Công ty xi măng Sài sơn 6 tỷ , xi măng Tiên sơn 3,3 tỷ, công
ty kiến thiết xổ số nộp trên 5 tỷ đồng. Có doanh nghiệp nộp thuế năm 2004 tăng
hơn năm 2003 trên 300%.
II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI CỤC THUẾ HÀ TÂY.
1.Vài nét về phòng quản lý doanh nghiệp.
1.1. Quá trình hình thành: Phòng quản lý thu doanh nghiệp số 1 được thành lập
ngày 01/ 01/ 2004 trên cơ sở sáp nhập 02 phòng: phòng thuế quốc doanh ( được
sáp nhập từ phòng thuế khu vực kinh tế quốc doanh các ngành công nghiệp xây
dựng giao thông và phòng thuế quốc doanh các ngành lưu thông phân phối dịch

2.1 Theo khu vực.
Bảng 3: Đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu năm 2004
ĐV: Triệu đồng
St
t
D toán thu năm 2004 Ước thực hiện năm 2004
Chỉ tiêu Bộ giao Tỉnhgia
o
Phấn
đấu
Ước TH
cả năm
SSTH/DT năm %
C.
kỳ
Tổng cộng 670.00
0
700.000 730.000 953.877 142 136 131 157
Tổng+ phí+tk 630.00
0
660.000 690.000 898.986 143 136 130 148
1 Thu từ XNQDTƯ 73.000 73.000 73.000 76.274 104 104 104 116
2 Thu từ XNQĐP 38.000 38.000 38.000 37.677 99 99 99 99
3 Thu từ XNĐ tư 225.50
0
225.500 267.500 270.874 106 106 101 140
4 Thu CTN-NQD 82.000 95.000 95.000 98.228 120 103 103 128
5 Lệ phí trước bạ 16.800 16.800 16.800 30.972 184 184 184 162
6 Thuế nhà đất 7.000 8.500 8.500 8.757 125 103 103 113
7 Thuê đất 5.100 5.100 18.100 47.310 927 927 261 640

lệnh, 101% so với dự toàn phấn đấu và tăng 40% so với cùng kỳ. Toàn tỉnh hiện có
55 dự án đầu tư nước ngoài, 41 đối tượng nộp thuế đã đăng ký mã số thuế và được
giao dự toán tư đầu năm. Có 14 doanh nghiệp mới chỉ thu được thuế môn bài. Năm
2004 đánh giá có 6 dự án đang kinh doanh có lãi trong đó có 4 dự án đã hết thời
hạn miễn, giảm với số thu nhập chịu thuế tăng 20.902 triệu đồng và thuế thu nhập
doanh nghiệp tăng 3.082 triệu đồng. Có 18 dự án kinh doanh bị lỗ.
• Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: Thu 18,684 tỷ đồng đạt 103% dự
toán, tăng 10% so với cùng kỳ. Đã thực hiện cấp mã số thuế cho 255 đối tượng nộp
thuế thu nhập cá nhân, thực hiện kê khai đầy đủ hàng thánh và đôn đốc thu nộp
đều. Thường xuyên rà soát đối tượng có thu nhập cao, nhất là các đồi tượng trong
các liên doanh khai thác triệt để các khoản thu này. Đã thu của 17.764 lượt đối
tượng, tăng 11% so với năm 2003.
• Các khoản thu liên quan đến đất đai: Thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện
miễn, giảm cho các hộ gia đình nông dân, chỉ thực hiện thu nợ đọng và thu thuế
trên quỹ đất công, năm 2004 thu 2,5 tỷ đồng. Thu tiền sử dụng đất là 124,7 tỷ đồng
đạt trên 200% dự toán và tăng 88% so với cùng kỳ. Thu tiền thuê đất là 47,3 tỷ
đồng, trong đó thuế đất ở thu 8,7 tỷ đồng đạt 120% so với dự toán pháp lệnh, 103%
so với Tỉnh giao và tăng 13% so với cùng kỳ.
• Các loại phí, lệ phí: Lệ phí trước bạ thu 30,9 tỷ đồng,đát 184% dự toán Bộ Tài
chính giao, tăng 62% so với cùng kỳ. Các đơn vị đã tích cực triển khai các biện
pháp quản lý và thu lệ phí trước bạ chuyển dịch nhà đất nên kết quả tăng thu đáng
kể. Về phí thường xuyên thu được 49,3 tỷ đồng đạt 130% dự toán Bộ Tài chính
giao, 123% so với dự toán Tỉnh giao, tăng 3% so với cùng kỳ.
2.2 Theo sắc thuế.
Bảng 4: Đóng góp vào ngân sách của các DNNN trên địa bàn Tỉnh Hà Tây
ĐV: Triệu đồng
Năm 2002 2003 2004
Thuế GTGT 164015 204808 283487
Thuế TTĐB 92657 86985 141524
Thuế TNDN 47156 48975 47694

• Thuế TTĐB, trên địa bàn tỉnh Hà Tây có một số doanh nghiệp sản xuất mặt hàng
chịu thuế TTĐB như: xí nghiệp chế biến kinh doanh LT bia nước giải khát, công ty
xăng dầu Hà Sơn Bình, xí nghiệp đường , giấy, rượu Hà Tây… đã đóng góp cho
ngân sách số thuế TTĐB từ năm 2002 – 2004 là 92.657 triệu, 86.958 triệu, 141.524
triệu. Như vậy, trong năm 2004 số thuế TTĐB thu được cao nhất trong 3 năm, tăng
48.867 triệu (52,74%) so với năm 2002, tăng 54.566 triệu (62,75%) so với năm
2003. Tốc độ tăng tương đối cao là so năm 2004 chính phủ đã ra NĐ số 149/2003/
NĐ - CP ngày 04/12/2003 sửa đổi bổ xung một số điều của luật thuế TTĐB làm
tăng giá tính thuế của thuế TTĐB.
• Thuế TNDN, tuy mức độ đóng góp cho NSNN không lớn bằng các sắc thuế trên.
Số thuế đóng góp cho NSNN trong các năm từ 2002 – 2004 như sau: 47.456 triệu,
48.975 triệu, 47.649 triệu, nhưng đây là sắc thuế đảm bảo công bằng hơn và trong
tương lai sẽ có tiềm năng phát triển. Đóng góp của thuế TNDN trong mấy năm qua
chưa lớn, nguyên nhân là do: các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không mấy hiệu
quả, các DNQN thì vốn ít, kỹ thuật lạc hậu.
3. Thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN đối với DNNN tại cục thuế Hà Tây
3.1. Thực trạng công tác quản lý đối tượng kê khai, nộp thuế
Hà Tây là một tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế, các tổ chức kinh tế hầu
như làm ăn có hiệu quả và tốc độ tăng trưởng cao, Hà Tây còn là một tỉnh có khá
nhiều DNNN khoảng 230 doanh nghiệp, trong đó cục thuế Hà Tây quản lý khoảng
188 doanh nghiệp. Mặt khác, Cục thuế Hà Tây đã triển khai cải cách công tác quản
lý hàng chính thuế theo hướng “ một cửa”, quy định một số công việc của ngành
thuế có quan hệ trực tiếp với đối tượng nộp thuế và các cơ quan có liên quan. Ngay
từ đầu năm Cục thuế đã có quy định tạm thời để thực hiện việc cấp mã số thuế, bán
hoá đơn chứng từ, tiếp nhận và luân chuyển tờ khai thuế hàng tháng của đối tượng
nộp thuế để đáp ứng công tác cải cách hàng chính thuế. Ngày 25/10/2004, Cục
thuế Hà Tây đã có quyết định thành lập Ban chỉ đạo cải cách hàng chính và thực
hiện cơ chế “một cửa”. Từ 1/11/ 2004 ngành thuế Hà Tây chính thức thực hiện cơ
chế “một cửa” ở một số công việc: cấp mã số, sổ mua hoá đơn cho tổ chức, cá
nhân đăng ký thuế, thủ tục mua hoá đơn, tự in hoá đơn , thủ tục kê khai thuế, quyết

thuế đầu năm mà chờ khi quyết toán thuế mới nộp. Có hiện tượng trên là do:
Khi kê khai tạm nộp thuế đầu năm làm ứ đọng vốn của doanh nghiệp. Số tiền
thuế doanh nghiệp nộp cho nhà nước không đi vào sản xuất nên không sinh lời,
chính vì vậy các doanh nghiệp thường kê khai số thuế thu nhập tạm nộp thấp hơn
thực tế. Các DNNQD buộc phải kê khai tạm nộp thuế nếu không thì sẽ vi phạm
pháp luật và bị sử phạt theo quy định. Còn các DNNN thuộc quyền sở hữu nhà
nước, mà luật là do nhà nước đề ra, vì vậy họ dựa dẫm không chấp hành kê khai
thuế TNDN.
Để khắc phục tình trạng này đến năm 2006 cục thuế Hà Tây kiên quyết buộc
các DNNN phải kê khai tạm nộp thuế TNDN, doanh nghiệp nào không tự kê khai
thì cục thuế sẽ ấn định thuế và thông báo cho các doanh nghiệp đó tạm nộp thuế
TNDN theo số ấn định.
3.2. Thực trạng công tác quản lý doanh thu tính thuế
Nhờ có chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp và xắp xếp lại DNNN nên số
lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng không đáng kể trong vài năm gần đây.
Nhưng số lượng DNNN hoạt động có hiệu quả nhiều hơn, hiệu quả sử dụng vốn
cao hơn, các doanh nghiệp đã gương mẫu đi đầu trong việc nộp thuế và tích luỹ
đầu tư. Nhờ đó cơ cấu doanh thu tăng lên mặc dù cơ cấu doanh thu giảm. Trong
năm 2004 do một số nguyên nhân khách quan, như dịch cúm gà, bệnh sát… nên
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiêp, làm giảm doanh thu
của các doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng. Nhưng nhờ quan điểm và chủ
trương đổi mới đúng đắn của Đảng, nhờ những công cụ quản lý vĩ mô của nhà
nước đối với kinh tế nhà nước nên DNNN ngày càng hoàn thiện hơn. Đây là một
thực tế đáng mừng, tuy nhiên nó lại đặt ra những nhiệm vụ nặng lề cho công tác
quản lý thu thuế TNDN. Doanh thu tính thuế là một nhân tố quan trọng cấu thành
nên TNCT, chỉ có quản lý chặt chẽ được doanh thu để tính TNCT thì kết quả tính
thuế TNDN mới chính xác được. Như vậy, việc tăng cường quản lý doanh thu tính
TNCT là hết sức quan trọng đối với công tác quản lý thu thuế TNDN.
Theo NĐ164/2003/NĐ - CP ngày 22/12/2003 của chính phủ thì doanh thu để
tính TNCT là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ ( không có thuế GTGT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status